Sáng 5/6, trong khuôn khổ Đại hội XIV Công đoàn Việt Nam đã diễn ra chương trình Thủ tướng Chính phủ trao đổi, thảo luận với đại biểu dự Đại hội, với chủ đề “Công đoàn Việt Nam đồng hành với Chính phủ nâng cao năng suất lao động, thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số”.
Tham gia ý kiến, bà Nguyễn Thị Thanh – Chủ tịch Công đoàn phường Ba Đình, Thành phố Hà Nội chia sẻ: “Qua thực tiễn hoạt động công đoàn cả trước đây và hiện nay, khi tiếp xúc với người lao động, tôi nhận thấy vấn đề được công nhân, người lao động quan tâm nhất hiện nay là vấn đề nhà ở”.
Tại Hà Nội và nhiều địa phương, phần lớn công nhân là lao động ngoại tỉnh, đang phải thuê trọ trong những căn nhà chật chội, ẩm thấp, mùa đông thì rất lạnh, mùa hè thì quá nóng, nhất là khi nhiệt độ cao như mấy ngày qua.
Nhiều gia đình 4–5 người sống trong những căn phòng chỉ khoảng 10–15m2, chi phí thuê nhà, điện, nước và sinh hoạt ngày càng tăng.
Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống, sức khỏe, khả năng tái tạo sức lao động và năng suất làm việc của người lao động, làm cho việc dịch chuyển lao động cũng diễn ra thường xuyên hơn.
“Chúng tôi rất phấn khởi khi thời gian qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ đã có nhiều chỉ đạo quyết liệt về phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho người dân thuê, trrong đó có công nhân. Đây là chủ trương rất nhân văn, thiết thực, kịp thời, đáp ứng đúng nhu cầu của đông đảo người lao động. Qua khảo sát của Liên đoàn Lao động Thành phố Hà Nội, công nhân có cả 3 loại nhu cầu: thuê nhà lâu dài, mua nhà, thuê – mua”, bà Thanh bày tỏ.
Để đáp ứng nhà ở đặc thù cho đối tượng công nhân, bà Nguyễn Thị Thanh đề xuất phát triển đa dạng các loại hình và diện tích nhà ở cho thuê, thuê – mua, một bộ phận bán phù hợp với nhu cầu và khả năng chi trả của người lao động, phần lớn diện tích từ 50 -75m2.
Thứ hai, ưu tiên quy hoạch nhà ở gần khu công nghiệp, khu chế xuất, đồng thời bảo đảm hạ tầng đồng bộ như trường học, nhà trẻ, y tế, văn hóa, thể thao, siêu thị, chợ, kết nối giao thông công cộng.
Thứ ba, có cơ chế hỗ trợ tài chính phù hợp để người lao động có cơ hội tiếp cận, thuê – mua hoặc mua nhà ở xã hội với giá hợp lý.
Thứ tư, Nhà nước tiếp tục có các chính sách thu hút doanh nghiệp làm nhà ở xã hội, nhà ở cho công nhân thuê; tăng cường đầu tư của nhà nước vào lĩnh vực này.
Thứ năm, nghiên cứu, thiết kế, có cơ chế quản lý và vận hành nhà ở cho công nhân phù hợp với điều kiện làm ca kíp, gia đình có trẻ nhỏ, tổ chức sinh hoạt tập thể cho đối tượng công nhân.
Người lao động cả nước rất quan tâm và kỳ vọng vào chủ trương phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho công nhân thuê dài hạn. Bà đề nghị Bộ trưởng Bộ Xây dựng cung cấp thêm thông tin về các giải pháp, định hướng trọng tâm của Chính phủ trong thời gian tới để đẩy nhanh việc triển khai chủ trương hết sức ý nghĩa này của Chính phủ về nhà ở cho công nhân lao động.
Làm rõ thêm nội dung về nhà ở xã hội, nhà ở công nhân, nhà ở cho thuê, Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh khẳng định, phát triển nhà ở xã hội và nhà ở công nhân luôn là ưu tiên hàng đầu, nhận được sự quan tâm đặc biệt của Lãnh đạo Đảng, Nhà nước.
Bộ trưởng cho biết, mục tiêu phát triển 1 triệu căn nhà ở xã hội giai đoạn 2021 – 2030 đang được triển khai quyết liệt thông qua nhiều cơ chế, chính sách nhằm tháo gỡ khó khăn, khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư.
Kết thúc năm 2025, đã và đang xây dựng 720.000 căn nhà ở, trong đó đã hoàn thành 180.000 căn nhà ở xã hội, giải quyết cho 180.000 hộ gia đình được mua nhà ở xã hội. Trong đó, có 42.000 căn nhà ở là cho thuê.
Riêng 5 tháng đầu năm 2026, chỉ tiêu đăng ký của tất cả các địa phương trên toàn quốc khoảng 158.000 căn hộ. Và hiện nay đã và đang triển khai 91.200 căn nhà ở xã hội, trong đó có cả nhà ở cho thuê.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả tích cực, Bộ trưởng Trần Hồng Minh cũng thẳng thắn chỉ ra nhiều tồn tại cần tiếp tục tháo gỡ.
“Như trong thời gian qua và trước đây, phân khúc nhà ở thương mại hiện nay là dư. Thế nhưng phân khúc nhà ở phù hợp với người tiêu dùng có thu nhập thấp thì lại đang thiếu. Đây là thị trường lệch pha giữa cung và cầu”, Bộ trưởng nói.
Theo Bộ trưởng Bộ Xây dựng, nhà ở thời gian qua đang thiên về nhà ở để bán, còn nhà ở cho thuê dài hạn chưa được tập trung nhiều.
Thêm một vấn đề nữa được ông Trần Hồng Minh chỉ ra là giá cả nhà ở thương mại cao so với mức thu nhập bình quân của người lao động; trong khi làm nhà ở cho thuê, đối tượng thích thuê rất ít, đa số thích mua để có quyền sở hữu. Đây là những vấn đề cần được giải quyết căn cơ và quyết liệt hơn trong thời gian tới.
Theo Bộ trưởng, Chính phủ đã làm việc với các địa phương nhằm triển khai chiến lược phát triển nhà ở cho thuê, từng bước chuyển từ mô hình tư duy “mua nhà có sở hữu” sang “thuê nhà dài hạn”, đây là chiến lược để đảm bảo đáp ứng cho mọi đối tượng đều có nhà ở với giá phù hợp.
Mục tiêu bảo đảm mọi người dân, đặc biệt là người lao động thu nhập thấp, đều có cơ hội tiếp cận chỗ ở ổn định với sự hỗ trợ về chính sách và lãi suất từ Nhà nước.
Các dự án nhà ở xã hội và nhà ở cho thuê phải đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn kỹ thuật, hạ tầng đồng bộ, bảo đảm chất lượng sống cho cư dân, đặc biệt đảm bảo phòng cháy, chữa cháy.
Ông lưu ý đặc biệt phát triển nhà ở cho thuê dài hạn. Bởi chính lực lượng công nhân, người lao động là những lực lượng làm ra của cải vật chất cho xã hội để kinh tế – xã hội phát triển. “Họ rất cần phải có những nơi an cư là nhà ở. “Chỉ có an cư mới lạc nghiệp”, như vậy mới yên tâm ổn định để lao động sản xuất và phát triển kinh tế – xã hội”, Bộ trưởng nói.
Ghi nhận tại các cửa hàng xăng ở dầu TP.HCM, người dân vào đổ xăng E10 bình thường. Nhiều người cho biết đã đổ xăng E10 lần thứ 2, thứ 3 "không thấy có gì khác biệt so với trước". Tại cửa hàng xăng trên đường Lý Thường Kiệt (TP.HCM), anh Nguyễn Thịnh - tài xế xe công nghệ đổ xăng E10 từ ngày 15.5, đến nay đã đổ 3 lần nhận xét: "Tôi dùng xăng E10 hơn nửa tháng, tần suất chạy nhiều, nhưng chưa thấy sự khác biệt so với xăng khoáng. Có chăng chỉ là tâm lý", anh Thịnh chia sẻ.
Chị Ngọc Ánh (phường Tân Hòa, TP.HCM) vào cây xăng trên đường Cách Mạng Tháng 8 (TP.HCM) đổ xăng E10 để đi Tây Ninh. "Tôi có việc đi Tây Ninh rồi về, không dùng xe thường xuyên, nên chỉ đổ thử 300.000 đồng. Tôi chạy thấy xe êm, ổn định".
Từ 0 giờ ngày 1.6.2026, cả nước chính thức ngưng dùng xăng RON 95, chuyển sang xăng sinh học, phổ biến là E10. Dưới đây là một số hình ảnh được phóng viên Báo Thanh Niên ghi trong ngày 1.6:
Điều đáng chú ý là định giá của HSBC được xây dựng trên kịch bản tương đối thận trọng về giá vonfram, trong khi diễn biến thực tế của thị trường đang cao hơn đáng kể. Điều này đặt ra câu hỏi: liệu thị trường đã phản ánh đầy đủ tiềm năng tăng trưởng mới của MSR?
Không phải mọi mức định giá thấp đều là cơ hội. Nhưng khi một doanh nghiệp đã bắt đầu ghi nhận lợi nhuận kỷ lục, vận hành cải thiện rõ rệt và hưởng lợi từ chu kỳ ngành thuận lợi, việc thị trường chưa phản ánh đầy đủ các yếu tố này có thể tạo ra một khoảng chênh đáng chú ý. Masan High-Tech Materials hiện đang nằm trong trường hợp đó.
Dù đã ghi nhận bước ngoặt lợi nhuận và bước vào chu kỳ tăng trưởng mới, MSR vẫn đang được thị trường định giá thấp hơn đáng kể so với nhiều doanh nghiệp cùng ngành quốc tế.
Theo mô hình định giá của HSBC, MSR được định giá khoảng 54,8 nghìn tỉ đồng (~ 2 tỉ USD). Trong khi đó, tại mức giá hiện tại, vốn hóa thị trường của doanh nghiệp chỉ quanh 45 nghìn tỉ đồng, tương đương khoảng 1,7 tỉ USD. Điều này đồng nghĩa MSR vẫn còn khoảng chênh lệch đáng kể so với định giá mà một tổ chức tài chính quốc tế đưa ra.
Tuy nhiên, nếu đặt trong tương quan ngành, khoảng cách này vẫn còn khá lớn. Hiện nhiều doanh nghiệp vật liệu công nghệ cao và đất hiếm trên thế giới đang được thị trường định giá cao hơn đáng kể.
Ở góc độ hoạt động, MSR không phải là doanh nghiệp quy mô nhỏ. Doanh thu 12 tháng gần nhất đạt khoảng 282 triệu USD, tiệm cận nhóm dẫn đầu.
Đáng chú ý, bước sang năm 2026, MSR đã ghi nhận bước ngoặt rõ nét về lợi nhuận. Quý 1/2026, doanh nghiệp đạt doanh thu gần 3.000 tỉ đồng, tăng 114,9% so với cùng kỳ và lợi nhuận sau thuế trước lợi ích cổ đông thiểu số đạt 537 tỉ đồng, mức cao nhất từ trước đến nay, đảo chiều mạnh so với cùng kỳ năm trước. Biên EBITDA mở rộng lên 35,1%, phản ánh sự cải thiện đồng thời về giá hàng hóa và hiệu quả vận hành.
Trong khi đó, nhiều doanh nghiệp cùng ngành vẫn chưa tạo ra lợi nhuận ổn định nhưng lại đang giao dịch ở mức định giá cao hơn đáng kể nhờ kỳ vọng tăng trưởng dài hạn liên quan đến vật liệu chiến lược, AI và chuỗi cung ứng ngoài Trung Quốc.
Khoảng cách này không chỉ đến từ yếu tố nội tại, mà còn từ cấu trúc thị trường vốn. MSR hiện vẫn niêm yết trên UPCoM, nền tảng hạn chế khả năng tiếp cận của nhiều dòng vốn tổ chức. Lộ trình chuyển niêm yết sang HOSE, cùng với quá trình giảm đòn bẩy tài chính và cải thiện minh bạch, có thể là những yếu tố giúp thu hẹp khoảng cách định giá theo thời gian.
Trước khi bước vào chu kỳ giá thuận lợi, MSR đã có sự cải thiện rõ rệt về hiệu quả vận hành. Năm 2025, trong bối cảnh giá APT bình quân ở mức thấp, doanh nghiệp vẫn ghi nhận EBITDA đạt hơn 2.100 tỉ đồng, tăng hơn 40% so với cùng kỳ, và dòng tiền tự do chuyển sang dương.
Sự cải thiện này đến từ các yếu tố nội tại như nâng cao tỷ lệ thu hồi khoáng sản và tối ưu chi phí. Trong ngành khai khoáng, nơi chi phí mang tính cố định cao, những cải thiện về hiệu suất có thể chuyển hóa trực tiếp thành biên lợi nhuận.
Điểm quan trọng là các thay đổi này diễn ra trước khi giá vonfram tăng mạnh, cho thấy nền tảng vận hành đã được cải thiện độc lập với chu kỳ giá và tạo tiền đề cho giai đoạn tăng trưởng tiếp theo.
Song song với cải thiện nội tại, thị trường vonfram toàn cầu đang có những thay đổi mang tính cấu trúc. Trung Quốc, nguồn cung lớn nhất thế giới, đang chuyển từ vai trò xuất khẩu sang ưu tiên tiêu dùng nội địa và kiểm soát tài nguyên chiến lược. Điều này làm giảm nguồn cung ra thị trường quốc tế, trong khi nhu cầu từ bán dẫn, AI, quốc phòng và công nghiệp công nghệ cao tiếp tục tăng.
Nhờ đó, các nhà cung cấp ngoài Trung Quốc trở nên quan trọng hơn. Với mỏ Núi Pháo và chuỗi giá trị tích hợp từ khai thác đến chế biến, MSR là một trong số ít doanh nghiệp có khả năng cung cấp nguồn nguyên liệu ổn định ngoài Trung Quốc. Lợi thế này mang tính dài hạn, đặc biệt khi thế giới ngày càng chú trọng an ninh chuỗi cung ứng vật liệu chiến lược.
Triển vọng năm 2026 cho thấy tăng trưởng của MSR không chỉ đến từ giá hàng hóa. Công suất xử lý dự kiến phục hồi từ quý 2 và tăng mạnh hơn từ quý 3/2026 sau khi điều chỉnh giấy phép khai thác, qua đó sản lượng cả năm được kỳ vọng vượt mức năm 2025.
Theo kế hoạch công bố tại Đại hội đồng cổ đông 2026, MSR xây dựng kịch bản năm dựa trên giả định giá APT khá thận trọng, chỉ khoảng 1.164 - 1.246 USD/mtu. Tuy nhiên, thực tế giá APT ngoài Trung Quốc đầu tháng 5 dao động trong khoảng 3.000 USD/mtu. Với giả định thận trọng đó, doanh nghiệp vẫn đặt mục tiêu doanh thu hợp nhất từ 16.000 - 20.300 tỉ đồng và lợi nhuận sau thuế trước lợi ích cổ đông thiểu số từ 1.700 - 2.500 tỉ đồng trong năm 2026.
Đáng chú ý, theo kế hoạch của Ban lãnh đạo, nếu duy trì được mặt bằng giá APT trên khoảng 1.500 USD/mtu, MSR có thể giảm tỷ lệ Nợ ròng/EBITDA từ khoảng 3,5 lần xuống còn 1,7 lần trong năm 2026, và 0,1 lần vào cuối năm 2027. Điều này không chỉ giúp giảm áp lực lãi vay mà còn mở ra khả năng cải thiện mạnh dòng tiền tự do và khả năng chi trả cổ tức trong dài hạn.
Ở cấp độ Tập đoàn, MSR cũng được kỳ vọng trở thành động lực quan trọng hỗ trợ quá trình giảm đòn bẩy tài chính của Masan, khi dòng tiền hoạt động ngày càng cải thiện.
Câu chuyện của MSR đang dần chuyển dịch từ một doanh nghiệp phụ thuộc vào chu kỳ hàng hóa sang một nền tảng vật liệu công nghệ cao với hiệu quả vận hành cải thiện, cấu trúc tài chính lành mạnh hơn và vai trò ngày càng quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Khi các yếu tố về lợi nhuận, dòng tiền, đòn bẩy và thị trường vốn dần rõ ràng hơn, mức định giá của MSR có thể được điều chỉnh để phản ánh đầy đủ hơn nền tảng kinh doanh và triển vọng dài hạn.
Trên mạng xã hội những ngày gần đây, một số diễn đàn, website bán hàng quảng cáo, rao bán về sản phẩm phụ gia ổn định nhiên liệu đổ vào bình xăng để tự tách ethanol khỏi xăng E10.
Theo thông tin trên các diễn đàn, xăng E10 có đặc tính hút ẩm mạnh. Khi đạt một giới hạn nào đấy, phần nước sẽ chìm xuống đáy bình xăng nên khi khởi động xe sẽ bị giật, máy rung, hoạt động không ổn định cần phải sử dụng phụ gia để tách bỏ ethanol, giúp xăng tinh khiết hơn. Còn trên mạng YouTube, nhiều video chia sẻ phương pháp tự tách ethanol khỏi xăng bằng muối, nước thu hút hàng nghìn lượt xem.
Chuyên gia có nhiều năm nghiên cứu xăng E10, PGS-TS Phạm Hữu Tuyến, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu các nguồn động lực và phương tiện tự hành, Đại học Bách khoa Hà Nội, cảnh báo việc sử dụng các phụ gia hoặc các chất hút nước để tách ethanaol trong xăng E10 là không có cơ sở khoa học và tiềm ẩn nhiều rủi ro.
PGS-TS Phạm Hữu Tuyến khẳng định, trước khi đưa xăng E10 ra thị trường, sản phẩm này đã được nghiên cứu, thử nghiệm và đánh giá kỹ lưỡng.
Các loại chất dùng để tách ethanol có ảnh hưởng gì đến động cơ hay không, những sản phẩm này được kiểm chứng chất lượng hay không thì không ai đảm bảo được.
Theo đó, người dân nếu tự ý sử dụng các hóa chất, phụ gia để tách ethanol, sau đó lấy xăng này tiếp tục sử dụng phương tiện nguy cơ gây ảnh hưởng đến động cơ và an toàn vận hành.
"Người dân không nên làm theo các video hướng dẫn tách ethanol khỏi xăng E10, tránh nguy cơ ảnh hưởng đến phương tiện cũng như mất an toàn trong quá trình sử dụng nhiên liệu", ông Tuyến nói.
Cũng theo PGS-TS Phạm Hữu Tuyến, dư luận vừa qua có nhiều tranh luận liên quan đến chất lượng xăng E10 như: gây hao xăng, hỏng động cơ, giảm công suất... và có những thông tin mang tính suy diễn, chưa phản ánh đúng bản chất, chất lượng xăng E10.
PGS-TS Phạm Hữu Tuyến cho rằng, nhiều người nói xăng E10 có nhiệt trị thấp hơn xăng khoáng nên tiêu hao nhiều hơn thì cách hiểu này chưa đầy đủ. Dù năng lượng của E10 thấp hơn xăng khoáng khoảng 3,4% nhưng ethanol lại có khả năng hỗ trợ quá trình cháy hiệu quả hơn sẽ bù lại một phần mức chênh lệch này.
Ngoài ra, xăng E10 có trị số octan cao hơn, giúp nhiên liệu cháy sạch hơn, hạn chế đóng cặn trong động cơ và hỗ trợ vận hành ổn định. Theo đó, trong điều kiện thực tế, mức tiêu hao xăng E10 và xăng khoáng gần như chênh lệch không đáng kể, thậm chí có trường hợp E10 còn cho kết quả tốt hơn.
Trong các cuộc tranh luận vừa qua, có một yếu tố khác thường ít được nhắc tới là khối lượng riêng của E10 lớn hơn xăng khoáng khoảng 1%. Điều này đồng nghĩa cùng 1 lít xăng, lượng nhiên liệu thực tế người dùng nhận được với E10 sẽ nhiều hơn.
PGS-TS Phạm Hữu Tuyến cũng cho rằng, việc đánh giá mức tiêu hao nhiên liệu trên thực tế rất khó tuyệt đối chính xác vì còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: loại xe, điều kiện giao thông, tải trọng, thời tiết, kỹ thuật vận hành; sự khác biệt về đường sá hoặc tình trạng tắc đường cũng có thể tạo ra chênh lệch tiêu hao lớn hơn mức khác biệt giữa xăng E10 và xăng khoáng.
Theo đó, nếu chỉ dựa vào chênh lệch nhiệt trị để khẳng định xăng E10 hao xăng hơn là chưa đúng và thiếu cơ sở thực tế.