Ngày 1.7, theo phổ điểm thi tốt nghiệp THPT năm 2026 do Bộ GD-ĐT công bố, Cà Mau ghi nhận kết quả nổi bật ở 4 môn thi gồm địa lý, lịch sử, công nghệ – công nghiệp và công nghệ – nông nghiệp khi đều góp mặt trong nhóm 10 địa phương có điểm trung bình cao nhất cả nước.
Ở môn địa lý, Cà Mau có 6.868 thí sinh dự thi, đạt điểm trung bình 5,376, xếp thứ 4 toàn quốc, sau Ninh Bình, Phú Thọ và TP.Huế.
Môn lịch sử có 10.632 thí sinh dự thi, đạt điểm trung bình 6,323, xếp thứ 5 cả nước, sau Phú Thọ, Ninh Bình, Nghệ An và TP.Hải Phòng.
Đối với môn công nghệ – công nghiệp, toàn tỉnh có 10 thí sinh dự thi, đạt điểm trung bình 6,835, xếp thứ 4 toàn quốc, sau Quảng Ninh, Điện Biên và Phú Thọ. Môn thi này ghi nhận 1 thí sinh của Cà Mau đạt điểm 10, trong tổng số 4 thí sinh đạt điểm 10 trên cả nước.
Ở môn công nghệ – nông nghiệp, Cà Mau có 438 thí sinh dự thi, đạt điểm trung bình 7,205, xếp thứ 10 toàn quốc, sau Ninh Bình, TP.Hải Phòng, Vĩnh Long, TP.Đồng Nai, Hưng Yên, An Giang, TP.Cần Thơ, Nghệ An và Bắc Ninh. Tỉnh có 4 thí sinh đạt điểm 10 ở môn thi này, trong tổng số 33 thí sinh đạt điểm 10 trên cả nước.
Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026, Cà Mau có 19.667 thí sinh đăng ký dự thi gồm 18.118 thí sinh THPT, 673 thí sinh giáo dục thường xuyên và 876 thí sinh tự do. Toàn tỉnh bố trí 35 điểm thi chính thức, 4 điểm thi dự phòng với 830 phòng thi.
Tin Gốc: Thanh Niên

Bà Nguyễn Thị Thúy, Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo Quảng Ninh, chiều 16/6 cho biết căn cứ là bản tường trình của hai thí sinh liên quan đều nêu dù được giám thị gợi ý đáp án nhưng em được nhắc "không nghe, không muốn xem bài bạn, giữ nguyên phương án làm bài của mình".
"Sai lầm là của người lớn nhưng học sinh vẫn có tự trọng", bà Thúy nói.
Sự việc xảy ra hôm 12/6 - khi thí sinh làm bài môn cuối trong kỳ thi tốt nghiệp THPT, tại phòng thi 1528, trường THPT Cẩm Phả. Ông Tô Văn Tiến, giáo viên trường THCS và THPT Hải Đông (giám thị 2) đã đứng gần một thí sinh, đề nghị em trao đổi, giúp đỡ một em khác làm bài; thậm chí xem đáp án để nhắc. Nam sinh này sau đó chia sẻ trong nhóm lớp, nói bị ảnh hưởng tâm lý khi làm bài.
Hôm 13/6, bài đăng liên quan lan truyền chóng mặt trên mạng xã hội Threads. Sở Giáo dục và Đào tạo Quảng Ninh cùng công an xác minh, kết luận sự việc có thật.
Lý do là ông Tiến đã được bà Trần Thị Bích Hảo, giáo viên trường THPT Cẩm Phả, nhờ giúp đỡ con trai thi ở phòng này nếu được phân công. Giám thị 1 là bà Vũ Ngọc Hà (giáo viên trường THPT Nguyễn Bình) tuy đứng gần, không có sự tác động nào, nhưng cũng không ngăn chặn ông Tiến, không báo cáo về sự việc.
Do vi phạm quy chế thi, ông Tiến bị đề nghị mức cảnh cáo. Bà Hảo chịu mức tương tự vì biết quy định nhưng vẫn cố tình nhờ thầy Tiến giúp đỡ, làm ảnh hưởng thí sinh và uy tín của ngành giáo dục. Còn bà Hà nhận mức kỷ luật khiển trách (nhẹ nhất). Hiện, các hình thức kỷ luật với viên chức không giữ chức vụ quản lý lần lượt là khiển trách - cảnh cáo - buộc thôi việc.
Với nam sinh cho biết bị ảnh hưởng tâm lý, bà Thúy nhận định bài thi không thể hiện được điều này nên không có căn cứ để cộng điểm.
Kỳ thi tốt nghiệp THPT 2026 diễn ra ngày 11-12/6 với hơn 1,2 triệu thí sinh - đông nhất từ trước đến nay. Việc giám thị nhắc bài cho thí sinh trong bài thi là rất hiếm được ghi nhận trong nhiều năm qua.
Tin Gốc: Vnexpress

Cấp thiết hoàn thiện hành lang pháp lý để bảo vệ trẻ em trên môi trường số
Suốt nhiều năm, khi nói đến việc bảo vệ trẻ em trên Internet, người ta thường nhấn mạnh vào giáo dục kỹ năng như nhận biết tin giả, bảo vệ thông tin cá nhân hay ứng xử văn minh trên mạng… Những điều đó vẫn đúng, nhưng trước bối cảnh hiện nay, có lẽ chỉ như vậy là chưa đủ.
Phát biểu gần đây của Bộ trưởng Giáo dục và Đào tạo Hoàng Minh Sơn cho thấy tư duy quản lý đang có sự thay đổi đáng chú ý. Theo Bộ trưởng, không gian mạng đã trở thành nơi học sinh dành nhiều thời gian để học tập, giao lưu và tiếp cận thông tin. Tuy nhiên, sự phát triển rất nhanh của mạng xã hội và các công cụ trí tuệ nhân tạo (AI) cũng đặt ra những thách thức mới trong công tác bảo vệ trẻ em.
Do vậy, việc xây dựng các quy định quản lý trẻ em tiếp cận mạng xã hội và AI là bước chuyển cần thiết trong tư duy bảo vệ trẻ em trên môi trường số. Nếu trước đây trọng tâm là trang bị kỹ năng cho trẻ, thì nay giáo dục phải đi cùng pháp luật, giải pháp công nghệ, trách nhiệm của các nền tảng số và sự phối hợp giữa gia đình, nhà trường với cơ quan quản lý. Nói cách khác, bảo vệ trẻ em trên môi trường số cần một hệ sinh thái bảo vệ nhiều tầng, thay vì những nỗ lực đơn lẻ, rời rạc.
Thông điệp ấy cho thấy một sự dịch chuyển trong tư duy. “Trường học an toàn” hôm nay không đơn thuần giới hạn trong hàng rào trường học, cũng không dừng lại ở việc giáo dục đạo đức, lối sống, kỹ năng sống, mà còn bao gồm việc bảo vệ học sinh trong môi trường số.
Một học sinh có thể không gặp bạo lực trong lớp học, nhưng vẫn đối diện với bắt nạt trên mạng, nội dung độc hại, lừa đảo trực tuyến, thông tin sai lệch hay những thuật toán liên tục giữ các em ở lại màn hình nhiều giờ mỗi ngày. Nếu những rủi ro ấy không được nhận diện như một phần của an toàn học đường, khái niệm “trường học an toàn” sẽ trở nên thiếu trọn vẹn.
Đây cũng là lý do nhiều quốc gia đã vào cuộc mạnh mẽ, với nhiều giải pháp thiết thực. Trọng tâm của các chính sách này xoay quanh việc quy định độ tuổi tối thiểu để sử dụng mạng xã hội, yêu cầu xác minh độ tuổi, tăng trách nhiệm của các nền tảng công nghệ hoặc thiết lập tài khoản trẻ em ở chế độ bảo mật cao hơn… Điểm chung là không đặt toàn bộ gánh nặng tự bảo vệ lên vai trẻ em hay cha mẹ, mà buộc cả hệ thống cùng tham gia bảo vệ trẻ.
Ở Việt Nam hiện chưa có địa phương nào ban hành quy định cấm trẻ em sử dụng mạng xã hội theo nghĩa pháp lý đầy đủ. Tuy nhiên, nhiều trường học và địa phương đã bắt đầu siết việc học sinh sử dụng điện thoại trong trường học. Trong khi đó, đề xuất hạn chế hoặc cấm trẻ em tiếp cận một số nền tảng mạng xã hội vẫn đang ở giai đoạn nghiên cứu, thảo luận chính sách nhưng đã nhận được sự quan tâm lớn từ dư luận.
Không ít phụ huynh bày tỏ sự đồng tình với việc cần có những giới hạn rõ ràng hơn để bảo vệ trẻ em trên môi trường số, miễn là các quy định ấy được xây dựng khoa học, khả thi và không cản trở nhu cầu học tập, tiếp cận tri thức của các em.
Mới đây, đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Mai Thoa (đoàn Hải Phòng) đã đề nghị nghiên cứu các giải pháp phù hợp, trong đó có phương án hạn chế hoặc cấm trẻ em sử dụng một số nền tảng mạng xã hội phổ biến. Cùng với đó, Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội cũng tiến hành khảo sát tại một số địa phương như Đắk Lắk, Hưng Yên, Hải Phòng... về việc thực hiện chính sách, pháp luật bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng.
Những động thái liên tiếp này là tín hiệu đáng mừng, bởi điều quan trọng không đơn thuần là có thêm đề xuất hay khảo sát, mà là việc bảo vệ trẻ em trên môi trường số đã bước ra khỏi phạm vi những lời khuyến nghị để trở thành một nội dung chính sách. Đây là tiền đề để Việt Nam tham khảo kinh nghiệm quốc tế, đồng thời hoàn thiện hành lang pháp lý và xây dựng cơ chế bảo vệ trẻ em trên môi trường số phù hợp với điều kiện thực tiễn trong nước.
Cần “lá chắn” nhiều tầng cho trẻ em trên môi trường số
Bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng không thể chỉ là trách nhiệm của cha mẹ. Cũng không thể chỉ giao cho nhà trường hay chờ đợi sự tự giác của các nền tảng công nghệ. Điều mà chúng ta cần lúc này là xây dựng một hệ sinh thái toàn diện, đồng bộ, nhất quán bảo vệ trẻ em trên môi trường số phù hợp với điều kiện Việt Nam và xu thế trên thế giới.
Để làm được điều đó, trước hết cần sớm hoàn thiện khung pháp lý theo hướng quy định rõ trách nhiệm của các nền tảng trong việc bảo vệ người dùng chưa thành niên; nghiên cứu các giải pháp công nghệ như xác minh độ tuổi, thiết lập chế độ mặc định an toàn cho tài khoản trẻ em; tăng cường cơ chế báo cáo, tiếp nhận phản ánh và xử lý nhanh, nghiêm các nội dung độc hại, đặc biệt là những nội dung có nguy cơ tác động trực tiếp đến trẻ em; đồng thời tiếp tục hoàn thiện các tiêu chuẩn kỹ thuật về bảo vệ trẻ em trên môi trường số…
Bên cạnh đó, cơ chế quản lý cũng phải tính đến các “khoảng trống” dễ bị lợi dụng, hạn chế tối đa tình trạng lách luật, vượt qua các rào cản kỹ thuật hoặc sử dụng tài khoản của người khác để tiếp cận những nền tảng, nội dung không phù hợp với lứa tuổi.
Tuy nhiên, pháp luật chỉ tạo ra “hàng rào”. Để “lá chắn” ấy thực sự phát huy hiệu quả, giáo dục mới là yếu tố quyết định.
Trước mỗi năm học mới, việc tập huấn giáo viên và truyền thông tới phụ huynh cần được xem là một phần của công tác chuẩn bị. Giáo viên cần được trang bị kiến thức để hướng dẫn học sinh sử dụng AI và mạng xã hội có trách nhiệm. Phụ huynh cần được hỗ trợ để hiểu rằng quản lý con trên môi trường số không đơn thuần là giới hạn thời gian sử dụng thiết bị, mà còn là đồng hành, trò chuyện và cùng con xây dựng “hệ miễn dịch” số, kỹ năng số.
Ở cấp độ nhà trường, kỹ năng công dân số, sử dụng AI, kiểm chứng thông tin, nhận diện lừa đảo trực tuyến và ứng xử trên môi trường mạng,… cần trở thành những nội dung giáo dục định kỳ. Cùng với đó là tăng cường hoạt động thể thao, nghệ thuật, đọc sách, câu lạc bộ và trải nghiệm thực tế để giúp học sinh cân bằng giữa đời sống số và đời sống thực.
Báo chí, mạng xã hội, các tổ chức xã hội và doanh nghiệp công nghệ cũng cần đồng loạt triển khai những chiến dịch truyền thông bài bản, dài hạn về an toàn số bằng nhiều hình thức truyền tải gần gũi, hấp dẫn thông qua video, infographic, podcast, tọa đàm hay bộ tài liệu hướng dẫn dành cho phụ huynh và học sinh.
Chỉ khi việc “định hướng tư tưởng” được thực hiện thường xuyên, liên tục, theo cách “mưa dầm thấm lâu”, nhận thức và kỹ năng tự bảo vệ mới dần trở thành một thói quen, thay vì chỉ được nhắc đến sau mỗi vụ việc đáng tiếc.
Bên cạnh đó, thông tin về Tổng đài quốc gia bảo vệ trẻ em 111 cùng các kênh tiếp nhận phản ánh, tư vấn và hỗ trợ cần được phổ biến rộng rãi để bất kỳ trẻ em nào cũng biết nơi tìm kiếm sự giúp đỡ khi cần.
Điều quan trọng nhất, tôi cho rằng chúng ta không nên tiếp cận vấn đề bằng tư duy “cấm” hay “thả nổi”. Trẻ em có quyền tiếp cận Internet, AI và những thành tựu khoa học công nghệ của nhân loại. Nhưng quyền ấy phải đi cùng một môi trường đủ an toàn, đủ nhân văn và đủ trách nhiệm.
Thiết nghĩ, một xã hội văn minh không đo bằng việc trẻ em sử dụng công nghệ nhiều hay ít, mà bằng việc người lớn đã làm gì, đã tác động ra sao để các em được lớn lên an toàn trong kỷ nguyên số.
Và có lẽ, trước thềm năm học mới, đó là câu hỏi mà không chỉ ngành giáo dục, mà cả gia đình, nhà trường, doanh nghiệp công nghệ và toàn xã hội đều cần cùng nhau trả lời.
Bà Đặng Việt Trinh là chuyên gia truyền thông, hoạt động trong lĩnh vực quản trị truyền thông - thương hiệu, quan hệ báo chí và xử lý khủng hoảng. Bên cạnh công việc chuyên môn, bà thường xuyên có các bài phân tích, bình luận đăng tải trên nhiều cơ quan báo chí, với mối quan tâm đặc biệt đến giáo dục, trí tuệ nhân tạo, phát triển bền vững và những chuyển động xã hội trong thời đại số.
Đặng Việt Trinh
Tin Gốc: Dân Trí

Thủ tướng Chính phủ vừa có quyết định phê duyệt Đề án phát triển một số cơ sở giáo dục ĐH lớn ở vùng Đông Nam bộ theo hướng đạt trình độ tiên tiến của nhóm các cơ sở giáo dục ĐH hàng đầu trong khu vực châu Á.
Đề án được ban hành nhằm cụ thể hóa các chủ trương, định hướng của Đảng và Nhà nước về phát triển giáo dục ĐH, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Đồng thời phát huy vai trò của giáo dục ĐH trong đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo phục vụ phát triển đất nước.
Mục tiêu chung của đề án là phát triển 3 cơ sở đào tạo ĐH công lập (ĐH Kinh tế TP.HCM, Trường ĐH Y dược TP.HCM, Trường ĐH Việt Đức), cùng với ĐH Quốc gia TP.HCM thành những trung tâm đào tạo nhân lực chất lượng cao, nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ hàng đầu khu vực châu Á. Các cơ sở đào tạo ĐH này là động lực phát triển giáo dục ĐH và góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội và hội nhập quốc tế của TP.HCM và vùng Đông Nam bộ.
Đề án xác định, đến năm 2030, ĐH Kinh tế TP.HCM duy trì vị trí trong nhóm 150 cơ sở giáo dục ĐH hàng đầu châu Á về kinh doanh và quản lý theo các bảng xếp hạng ĐH quốc tế uy tín.
Trường ĐH Y dược TP.HCM đáp ứng các tiêu chí, tiêu chuẩn của nhóm 150 cơ sở giáo dục ĐH uy tín hàng đầu châu Á trong lĩnh vực khoa học sức khỏe.
Trường ĐH Việt Đức phát triển theo mô hình ĐH nghiên cứu, có chất lượng đào tạo và nghiên cứu xuất sắc, hệ thống quản trị hiện đại theo mô hình ĐH nghiên cứu hàng đầu của CHLB Đức.
Đề án đồng thời đặt ra các mục tiêu cụ thể về quy mô đào tạo nhân lực chất lượng cao, phát triển đội ngũ giảng viên, nhà khoa học; nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học, công bố quốc tế. Song song đó là phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh, thu hút sinh viên quốc tế, mở rộng hợp tác quốc tế, nâng cao tỷ lệ chương trình đào tạo đạt chuẩn kiểm định khu vực và quốc tế.
Đến năm 2035, 3 cơ sở giáo dục ĐH trong đề án trở thành những cơ sở giáo dục ĐH công lập trọng điểm của vùng Đông Nam bộ và cả nước, có hạ tầng kỹ thuật và cơ sở vật chất hiện đại, đạt tiêu chuẩn khu vực, duy trì vị thế thuộc nhóm trường hàng đầu châu Á trong những ngành, lĩnh vực thế mạnh.
Định hướng đến năm 2050, các cơ sở giáo dục ĐH này, cùng với ĐH Quốc gia TP.HCM, duy trì chất lượng đào tạo, nghiên cứu và quản trị thuộc nhóm 100 cơ sở giáo dục ĐH hàng đầu châu Á, giữ vai trò nòng cốt trong đào tạo, nghiên cứu khoa học, phát triển và chuyển giao công nghệ ở những lĩnh vực có khả năng cạnh tranh ở tầm khu vực.
Để thực hiện các mục tiêu trên, đề án tập trung triển khai đồng bộ các nhóm nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm. Trong đó, ưu tiên hiện đại hóa hạ tầng kỹ thuật và cơ sở vật chất; mở rộng không gian phát triển của các cơ sở giáo dục ĐH; đầu tư các trung tâm nghiên cứu, phòng thí nghiệm chuyên sâu và hạ tầng số phục vụ đào tạo, nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo.
Đề án cũng chú trọng xây dựng đội ngũ quản lý, giảng viên và nhà khoa học có năng lực hội nhập quốc tế; thu hút chuyên gia, nhà khoa học trong và ngoài nước; phát triển đội ngũ nghiên cứu trẻ và các nhóm nghiên cứu mạnh trong các lĩnh vực trọng điểm.
Cùng với đó là đổi mới chương trình đào tạo theo chuẩn quốc tế; đẩy mạnh quốc tế hóa giáo dục đại học; phát triển các chương trình đào tạo chất lượng cao, đào tạo tài năng; tăng cường liên kết đào tạo, nghiên cứu khoa học và trao đổi học thuật với các cơ sở giáo dục ĐH uy tín trên thế giới.
Đề án cũng nhấn mạnh nhiệm vụ nâng cao năng lực nghiên cứu, công bố quốc tế, chuyển giao công nghệ và thương mại hóa kết quả nghiên cứu; tăng cường hợp tác giữa nhà trường với doanh nghiệp nhằm gắn đào tạo, nghiên cứu với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và thị trường lao động.
Việc Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án là bước đi quan trọng trong chiến lược phát triển giáo dục ĐH Việt Nam theo hướng chất lượng cao, hội nhập quốc tế và gắn kết chặt chẽ với khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo.
Tin Gốc: Thanh Niên

