Theo quy định tại Nghị định 90, nhiều hành vi kỳ thị trong giáo dục, lao động và đời sống xã hội sẽ bị xử phạt với các mức tiền khác nhau, tùy theo tính chất và mức độ vi phạm.
Cụ thể, mức xử phạt từ 500.000 đến 1.000.000 đồng, áp dụng với các hành vi như yêu cầu học sinh, sinh viên phải xét nghiệm HIV hoặc xuất trình kết quả xét nghiệm.
Cản trở người học tham gia hoạt động của cơ sở giáo dục vì lý do liên quan đến HIV. Từ chối tiếp nhận đối tượng bảo trợ xã hội hoặc từ chối mai táng, hỏa táng người đã mất vì lý do HIV/AIDS.
Mức xử phạt từ 5 triệu đến 10 triệu đồng, áp dụng với các hành vi như yêu cầu xét nghiệm HIV đối với người lao động trước tuyển dụng (trừ một số nghề đặc thù theo quy định), từ chối tuyển dụng vì người lao động nhiễm HIV, hoặc từ chối tiếp nhận học sinh, sinh viên vì lý do này.
Nghị định cũng xử phạt các hành vi mang tính phân biệt đối xử trong quá trình học tập và điều trị như tách biệt, hạn chế người nhiễm HIV tham gia hoạt động.
Phân biệt trong chăm sóc, điều trị hoặc bố trí công việc không phù hợp với sức khỏe, chuyên môn của người lao động nhiễm HIV. Ngoài ra, hành vi cha mẹ hoặc người giám hộ bỏ rơi người nhiễm HIV cũng thuộc diện bị xử phạt.
Mức phạt từ 10 triệu đến 20 triệu đồng, nghị định xử lý các hành vi xâm phạm trực tiếp quyền học tập và việc làm của người nhiễm HIV.
Cụ thể, chấm dứt hợp đồng lao động, gây khó khăn trong công việc, ép chuyển việc trái ý muốn, từ chối nâng lương, đề bạt hoặc không đảm bảo quyền lợi hợp pháp đều bị xử phạt nặng nếu xuất phát từ lý do nhiễm HIV.
Trong lĩnh vực giáo dục, việc kỷ luật hoặc buộc thôi học học sinh, sinh viên vì nhiễm HIV cũng bị xử phạt ở mức này. Đồng thời, việc sử dụng hình ảnh, thông điệp truyền thông mang tính kỳ thị người nhiễm HIV và gia đình họ cũng bị xử lý.
Nghị định cũng quy định nhiều biện pháp khắc phục hậu quả. Các tổ chức, cá nhân vi phạm có thể bị buộc tiếp nhận lại người bị từ chối, xin lỗi trực tiếp người bị phân biệt đối xử, khôi phục quyền lợi hợp pháp cho người lao động, hủy bỏ quyết định kỷ luật hoặc buộc thôi học.
Trong trường hợp liên quan đến truyền thông, nội dung vi phạm phải bị loại bỏ hoặc tiêu hủy.
Bên cạnh đó, nghị định quy định xử phạt các hành vi vi phạm khác trong phòng, chống HIV/AIDS. Cụ thể, hành vi cản trở người lao động tham gia các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS bị phạt từ 3 triệu đến 5 triệu đồng.
Các hành vi nghiêm trọng như đe dọa truyền HIV cho người khác hoặc lợi dụng hoạt động phòng, chống HIV/AIDS để trục lợi sẽ bị phạt từ 10 triệu đến 20 triệu đồng. Trường hợp trục lợi, người vi phạm còn phải nộp lại toàn bộ số lợi bất hợp pháp có được.
Thạc sĩ - dược sĩ Trần Ngọc Tín, Trường đại học Khoa học Sức Khỏe, Đại học Quốc gia TP.HCM, cho biết trong gừng có nhiều nhóm hợp chất quan trọng như gingerol, shogaol, zingerone, flavonoid và các thành phần tinh dầu thuộc nhóm terpene. Nhiều nghiên cứu cho thấy các hợp chất này góp phần tạo nên các tác dụng sinh học của gừng như chống oxy hóa, kháng viêm, hỗ trợ tiêu hóa và điều hòa miễn dịch.
Các hoạt chất không chỉ hiện diện trong phần thịt củ mà còn phân bố ở lớp mô sát bề mặt và phần vỏ. Ngoài ra, lớp vỏ còn chứa các thành phần tinh dầu như zingiberene cùng nhiều terpene khác, góp phần tạo nên mùi thơm đặc trưng và các đặc tính sinh học của gừng.
Vì vậy, việc cạo hoặc gọt bỏ lớp vỏ quá dày có thể làm mất đi một phần tinh dầu và các hợp chất sinh học nằm gần bề mặt củ.
Trong y học cổ truyền, các bộ phận của gừng được sử dụng với những mục đích khác nhau:
Theo một số y văn y học cổ truyền, gừng thường được sử dụng nguyên củ thay vì loại bỏ hoàn toàn phần vỏ. Việc giữ lại lớp vỏ được cho là giúp bảo tồn đầy đủ hơn các đặc tính tự nhiên của dược liệu và hạn chế thất thoát tinh dầu trong quá trình sơ chế.
Điều quan trọng nhất không phải là "cạo hay không cạo" mà là bảo đảm gừng được làm sạch và an toàn trước khi sử dụng.
Nên giữ nguyên vỏ: Gừng còn tươi, có nguồn gốc rõ ràng; đã được rửa sạch kỹ dưới vòi nước chảy; có thể chà nhẹ bằng bàn chải mềm để loại bỏ đất cát bám trên bề mặt. Dùng để pha trà gừng, ngâm mật ong, nấu nước gừng hoặc làm gia vị cho các món kho, hầm, hấp. Trong những trường hợp này, việc giữ lại lớp vỏ giúp tận dụng thêm một phần tinh dầu và các hợp chất sinh học nằm ở vùng bề mặt củ.
Nên cạo hoặc gọt mỏng vỏ: Gừng không rõ nguồn gốc xuất xứ. Bề mặt bám nhiều đất cát khó làm sạch. Nghi ngờ có tồn dư hóa chất bảo quản hoặc thuốc bảo vệ thực vật. Khi đó, ưu tiên hàng đầu vẫn là bảo đảm an toàn thực phẩm.
Rửa sạch dưới vòi nước chảy; có thể ngâm nước muối loãng và dùng bàn chải mềm để làm sạch đất cát bám trên vỏ. Không sử dụng gừng có dấu hiệu dập nát, úng hoặc xuất hiện nấm mốc. Dùng với lượng vừa phải vì sử dụng quá nhiều có thể gây kích ứng đường tiêu hóa ở một số người. Người đang có các bệnh lý mạn tính, phụ nữ mang thai nên tham khảo ý kiến của chuyên gia y tế khi có nhu cầu sử dụng thường xuyên hoặc với lượng lớn.
Không có câu trả lời tuyệt đối cho việc có nên cạo vỏ gừng hay không. Theo cả y học cổ truyền và các nghiên cứu hiện đại, lớp vỏ gừng không chỉ là lớp bảo vệ bên ngoài mà còn chứa nhiều hợp chất có hoạt tính sinh học. Do đó, nếu gừng có nguồn gốc rõ ràng và được làm sạch đúng cách, người dùng không nhất thiết phải loại bỏ hoàn toàn lớp vỏ trước khi sử dụng.
"Như vậy, thay vì lựa chọn nên cạo bỏ vỏ hay không, người tiêu dùng nên ưu tiên lựa chọn gừng sạch từ lúc mua, bảo đảm vệ sinh và an toàn thực phẩm. Đây là cách đơn giản giúp tận dụng tối đa giá trị của loại gia vị quen thuộc này đồng thời hạn chế những nguy cơ không mong muốn đối với sức khỏe", bác sĩ Trần Ngọc Tín chia sẻ.
Vài phút trước khi trút hơi thở cuối cùng, cơ thể người bệnh sẽ trải qua sự chuyển giao từ sự sống sang cái chết với những biểu hiện chung rõ rệt. Theo Neal K. Shah, một nhà nghiên cứu y tế chuyên sâu kiêm giám đốc điều hành của CareYaya chuyên cung cấp dịch vụ chăm sóc người cao tuổi ở Mỹ, cái chết luôn tuân theo những "quy luật" nhất định.
Ông Shah, người thường xuyên chia sẻ các video giải thích về quá trình cận tử, khẳng định các điều dưỡng, y tá chăm sóc giảm nhẹ chính là những người quan sát giàu kinh nghiệm nhất trong việc chứng kiến khoảnh khắc cuối đời, nhờ đó họ có thể nhận biết các dấu hiệu này một cách nhanh chóng.
Nhà nghiên cứu cho hay nếu phải tìm kiếm một dấu hiệu rõ ràng nhất báo hiệu cái chết đã cận kề thì đó là chuỗi biểu hiện thường xuất hiện trước khi người bệnh trút hơi thở cuối cùng chỉ vài phút. Ông giải thích có một hiện tượng mang tính đồng nhất ở hầu hết bệnh nhân, được gọi là "settling" (thả lỏng, buông lỏng).
Những người vốn đang trong trạng thái gồng cứng, căng thẳng bỗng nhiên trở nên thư giãn, như thể họ cuối cùng đã tìm thấy sự thanh thản và bình yên. Thậm chí, hơi thở của họ cũng chuyển dịch sang nhịp điệu chậm rãi, chủ động hơn khi sự bình lặng bao trùm cơ thể như một làn sóng.
Trong một vài trường hợp, các nhân viên y tế ghi nhận những bệnh nhân vốn rơi vào trạng thái hôn mê, không phản ứng bỗng nhiên tỉnh táo, chủ động tương tác và giao tiếp trở lại. Họ cũng có xu hướng quay mặt về phía một "sự hiện diện" vô hình trong phòng, hoặc nhìn thấy những người thân yêu đã khuất từ lâu.
Ông Shah chia sẻ trong những khoảnh khắc cuối cùng đó, biểu cảm trên gương mặt người bệnh thường mang một nét đặc biệt mà các thuật ngữ y học lâm sàng khó để diễn tả thành lời. Hiện tượng người bệnh đột ngột tỉnh táo sau chuỗi ngày hôn mê sâu được gọi là "surge" (sự bùng phát năng lượng cuối cùng của cơ thể hay hồi quang phản chiếu).
Đây cũng là điều mà Julie McFadden, y tá chuyên về chăm sóc giảm nhẹ và hồi sức tích cực tại Los Angeles, từng nhiều lần chứng kiến. Giải thích thêm về hiện tượng mà giới y khoa còn gọi là "sự hồi sức tạm thời" (the rally), McFadden cho hay việc này thường xảy ra khi người bệnh đã rất yếu và cận kề cái chết trong vòng vài ngày.
Khi đó, họ đột nhiên có dấu hiệu "khá lên" như biết đòi ăn, trò chuyện, thậm chí đi lại và quay về với tính cách vui vẻ, hay đùa giỡn như ngày thường. Tuy nhiên, phần lớn bệnh nhân sẽ qua đời chỉ vài ngày sau đó, thậm chí ngay trong đêm.
Thống kê cho thấy hiện tượng trên xảy ra ở khoảng một phần ba số bệnh nhân chăm sóc giảm nhẹ. Chính vì vậy, các y bác sĩ luôn chủ động giải thích trước với gia đình để họ không bị sốc hay sụp đổ tâm lý khi người thân đột ngột ra đi ngay sau một vài ngày tiến triển tốt.
Bên cạnh hiện tượng trên, ông Shah cũng nhấn mạnh thính giác là một trong những giác quan cuối cùng biến mất trong quá trình cận tử. Do đó, khoảnh khắc người thân đang dần lịm đi chính là cơ hội cuối cùng để gia đình có thể gửi gắm những lời cuối cùng đến họ.
Hiện chưa có bằng chứng khoa học nào đủ mạnh để khẳng định rằng ngâm, rửa rau bằng nước muối giúp làm sạch tốt hơn so với rửa dưới vòi nước, theo chuyên trang sức khỏe Healthline (Mỹ).
Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Mỹ (FDA) khuyến cáo chỉ cần rửa rau củ, trái cây dưới vòi nước đang chảy, đồng thời dùng tay chà nhẹ bề mặt là đủ. Với các loại củ, quả có vỏ cứng như cà rốt, khoai tây hoặc dưa leo, có thể dùng bàn chải sạch để chà rửa.
Cơ quan này cũng không khuyến nghị sử dụng xà phòng, chất tẩy rửa hay các dung dịch rửa rau chuyên dụng. Trong điều kiện sử dụng tại gia đình, chưa có bằng chứng cho thấy chúng làm sạch hiệu quả hơn nước sạch.
Lý do là phần lớn bụi bẩn, đất cát, vi khuẩn bám trên bề mặt và một phần dư lượng thuốc trừ sâu có thể được rửa trôi nhờ dòng nước chảy và chà rửa. Chính tác động này mới là yếu tố quan trọng nhất giúp làm sạch rau củ, trái cây, giáo sư Darin Detwiler, chuyên gia về an toàn thực phẩm tại Đại học Northeastern (Mỹ), cho biết
Một số nghiên cứu trong phòng thí nghiệm cho thấy dung dịch nước muối ở nồng độ khá cao có thể giúp loại bỏ một phần dư lượng thuốc trừ sâu và giảm lượng vi sinh vật trên bề mặt rau. Tuy nhiên, điều kiện nghiên cứu thường khác với cách mọi người ngâm rau trong thực tế. Ngoài ra, hiệu quả cũng không ổn định giữa các loại rau và các loại hóa chất khác nhau.
Tuy nhiên, nước muối vẫn có thể mang lại một số lợi ích nhất định. Với những loại rau có nhiều khe như bông cải xanh, súp lơ hoặc các loại rau lá cuộn, ngâm trong nước muối loãng vài phút sẽ giúp loại bỏ một số côn trùng nhỏ hoặc sâu non dễ dàng hơn. Đây cũng là lý do khiến nhiều người vẫn ngâm nước muối trước khi chế biến.
Với vi khuẩn, nồng độ ngâm muối thường dùng trong gia đình không đủ để tiêu diệt các loại gây bệnh phổ biến như salmonella, E. coli hay listeria. Những vi khuẩn này có thể bám rất chắc trên bề mặt rau, thậm chí nằm trong các khe nhỏ hoặc xâm nhập vào mô thực vật. Do đó, ngâm nước muối đơn thuần không thể loại bỏ hoàn toàn.
Cách làm sạch rau hiệu quả nhất không nằm ở việc thêm muối, giấm hay các dung dịch đặc biệt, mà là rửa đúng cách. Trước khi sơ chế, người chế biến nên rửa tay sạch bằng xà phòng. Sau đó, rửa từng loại rau dưới vòi nước đang chảy, dùng tay chà nhẹ để tẩy sạch đất cát cùng các tạp chất bám trên bề mặt.
Đối với các loại củ hoặc quả có vỏ cứng như khoai tây, cà rốt hay dưa leo, nên sử dụng bàn chải sạch chuyên dùng cho thực phẩm để chà rửa kỹ hơn. Với rau ăn lá, nên bỏ những lá bị dập hoặc quá dơ, sau đó tách từng lá để rửa. Nếu rau có nhiều cát, có thể ngâm trong nước sạch vài phút để cát lắng xuống rồi rửa lại dưới vòi nước, theo Healthline.