“Chi phí khám chữa bệnh gia tăng mạnh, đặc biệt từ các bệnh mạn tính không lây nhiễm như tăng huyết áp, đái tháo đường, tim mạch, rối loạn chuyển hóa đang tạo áp lực ngày càng lớn lên quỹ bảo hiểm y tế (BHYT)”, Phó Giám đốc BHXH Việt Nam Nguyễn Đức Hòa nói tại hội thảo Hướng tới hệ thống bảo hiểm y tế bền vững tại Việt Nam, do cơ quan này phối hợp với Đại sứ quán Đan Mạch và Novo Nordisk Việt Nam tổ chức hôm 16/4 tại Hà Nội.
Báo cáo của BHXH Việt Nam tại hội thảo cho thấy năm 2025 cả nước có gần 98 triệu người tham gia BHYT, đạt tỷ lệ bao phủ hơn 95% dân số. Tổng số lượt khám chữa bệnh BHYT vượt 195 triệu, tăng 6,5% so với năm trước, trong khi chi phí đề nghị thanh toán lên tới 166.400 tỷ đồng, tăng hơn 16%.
Đáng chú ý, phần lớn chi phí đến từ các bệnh mạn tính. Quỹ BHYT hiện chi trả cho gần 8 triệu người tăng huyết áp, hơn 3,3 triệu bệnh nhân đái tháo đường, trên 1,1 triệu người mắc bệnh hô hấp mạn tính và khoảng 500.000 bệnh nhân ung thư. Riêng nhóm bệnh không lây nhiễm ghi nhận khoảng 51 triệu lượt khám, với tổng chi gần 20.000 tỷ đồng, tăng gần 18%.
PGS Vũ Thị Thanh Huyền, Trưởng khoa Nội tiết – Cơ xương khớp, Bệnh viện Lão khoa Trung ương, cho hay bệnh đái tháo đường và các rối loạn chuyển hóa không còn xuất hiện đơn lẻ mà thường đi kèm nhiều bệnh lý tim mạch, thận, làm chi phí điều trị tăng vọt và tạo áp lực lớn lên quỹ BHYT. Tại Việt Nam, điểm đáng lo ngại là phần lớn chi phí điều trị không nằm ở giai đoạn sớm mà tập trung vào xử lý biến chứng.
“Bệnh nhân thường không mắc một bệnh riêng lẻ mà đi kèm 2–3 bệnh như tim mạch, thận, rối loạn chuyển hóa”, bà Huyền nói, dẫn chứng khoảng 55% bệnh nhân đái tháo đường có biến chứng tim mạch, 1/3 tiến triển thành bệnh thận mạn. Hơn 80% trường hợp được phát hiện khi đã ở giai đoạn muộn, khiến chi phí điều trị tăng gấp nhiều lần, thậm chí phải lọc máu hoặc can thiệp chuyên sâu.
Một trong những nguyên nhân chính là tỷ lệ kiểm soát bệnh còn thấp. Hiện chỉ dưới 30% bệnh nhân đạt mục tiêu đường huyết, làm gia tăng nguy cơ biến chứng và kéo theo chi phí tích lũy lớn. Đáng chú ý, thừa cân và béo phì là yếu tố nguy cơ nổi bật. Khoảng 90% bệnh nhân đái tháo đường type 2 có tình trạng này, liên quan đến lối sống ít vận động, chế độ ăn giàu năng lượng và áp lực công việc.
Ông Erik Wiebols, Tổng Giám đốc Novo Nordisk Việt Nam, cho hay các bệnh mạn tính hiện chiếm hơn 70% gánh nặng bệnh tật và trên 80% số ca tử vong tại Việt Nam. Điều này cho thấy sự cần thiết cấp bách của việc chuyển hướng từ điều trị sang phòng ngừa và quản lý bệnh một cách sớm, toàn diện và bền vững. Việc kiểm soát hiệu quả các bệnh lý rối loạn chuyển hóa như béo phì, đái tháo đường, tim mạch và bệnh thận mạn không chỉ giúp giảm biến chứng lâu dài mà còn tối ưu nguồn lực BHYT, giảm chi phí xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người bệnh.
Kinh nghiệm quốc tế cũng cho thấy hiệu quả của cách tiếp cận này. Một số quốc gia đã triển khai mô hình phân tầng nguy cơ, can thiệp sớm với nhóm nguy cơ trung bình nhằm tránh chuyển nặng, qua đó giảm chi phí điều trị dài hạn. Như ở Thái Lan, các bệnh không lây nhiễm như béo phì, đái tháo đường đang tạo gánh nặng kinh tế khổng lồ, buộc chính sách y tế phải chuyển hướng sang phòng ngừa sớm và quản lý toàn dân.
PGS Petch Rawdaree, Chủ tịch Liên đoàn Hiệp hội Phòng chống Bệnh không lây nhiễm (Thái Lan), cho biết nước này áp dụng cách tiếp cận phân tầng nguy cơ dân số thành ba nhóm: nguy cơ thấp (khoảng 50%), nguy cơ trung bình (35-40%) và nguy cơ cao. Nhóm nguy cơ trung bình được coi là “điểm chặn” quan trọng, hiện chiếm khoảng 30-35% chi phí y tế. Trong khi đó, nhóm nguy cơ cao dù chỉ chiếm khoảng 5% dân số nhưng lại gánh tới 40-55% tổng chi phí y tế.
Chính sách của Thái Lan vì vậy tập trung đồng thời vào nhiều trụ cột, nâng cao sức khỏe cộng đồng, tăng cường y tế cơ sở, sàng lọc sớm, quản lý liên tục và huy động sự tham gia của toàn xã hội, từ chính phủ đến khu vực tư nhân. “Chiến lược hiệu quả nhất là ngăn họ chuyển nặng, thay vì chỉ tập trung điều trị nhóm đã có biến chứng”, ông nói.
Chị cho biết, với đặc thù công việc may khiến chị thường xuyên ngồi liên tục trong nhiều giờ, ít có điều kiện vận động. Ngoài ra, chị có tiền sử sử dụng thuốc tránh thai trong thời gian dài. Khi chân trái xuất hiện sưng đau và ngày càng nặng, chị cho rằng nguyên nhân chỉ do tính chất công việc nên không đi khám ngay. Chỉ đến khi đau chân nhiều, việc đi lại trở nên khó khăn, chị mới đến Bệnh viện đa khoa Xuyên Á Tây Ninh thăm khám.
Kết quả siêu âm Doppler ghi nhận huyết khối lan rộng trong hệ tĩnh mạch sâu chi dưới trái. Chụp cắt lớp vi tính mạch máu tiếp tục phát hiện tình trạng động mạch chậu chung phải chèn ép lên tĩnh mạch chậu chung trái. Sau khi tổng hợp dữ liệu lâm sàng và cận lâm sàng, các bác sĩ xác định người bệnh mắc hội chứng May-Thurner kèm huyết khối tĩnh mạch sâu lan rộng.
Ngày 19.7, bác sĩ chuyên khoa 1 Hồ Văn Mót, Phó trưởng Khoa Nội Tim mạch - Can thiệp Tim mạch, Bệnh viện đa khoa Xuyên Á Tây Ninh, cho biết hội chứng May-Thurner là tình trạng động mạch chậu chung phải chèn ép tĩnh mạch chậu chung trái, làm cản trở dòng máu hồi lưu, tạo điều kiện hình thành huyết khối.
Bệnh thường diễn tiến âm thầm, triệu chứng ban đầu chủ yếu là sưng đau một bên chân nên dễ bị nhầm với bệnh lý cơ xương khớp, suy giãn tĩnh mạch hoặc tình trạng phù thông thường. Nếu không được nhận diện sớm, huyết khối có thể lan rộng, gây thuyên tắc phổi hoặc để lại hội chứng hậu huyết khối, ảnh hưởng lâu dài đến khả năng vận động và chất lượng cuộc sống.
Sau hội chẩn, ê kíp quyết định điều trị theo chiến lược can thiệp nội mạch 2 giai đoạn nhằm vừa loại bỏ huyết khối, vừa xử trí nguyên nhân gây tắc nghẽn. Đầu tiên, người bệnh được truyền thuốc tiêu sợi huyết trực tiếp vào vị trí huyết khối qua catheter để làm tan cục máu đông. Sau đó, dưới hệ thống chụp mạch số hóa xóa nền (DSA), các bác sĩ tiến hành hút huyết khối, nong đoạn tĩnh mạch bị hẹp và đặt stent để tái lập dòng máu hồi lưu.
Sau can thiệp, hệ tĩnh mạch được tái thông tốt, chân trái giảm sưng đau rõ rệt, chu vi hai chân gần như trở lại bình thường. Người bệnh tiếp tục điều trị kháng đông, mang vớ áp lực và tập vận động sớm trước khi xuất viện.
Theo bác sĩ Mót, huyết khối tĩnh mạch sâu là bệnh lý nguy hiểm vì cục máu đông có thể bong ra và di chuyển lên phổi, gây thuyên tắc phổi - biến chứng có nguy cơ đe dọa tính mạng.
Việc chẩn đoán chính xác nguyên nhân và lựa chọn đúng thời điểm can thiệp nội mạch có ý nghĩa quyết định trong việc tái lập dòng máu hồi lưu, giảm nguy cơ thuyên tắc phổi, hạn chế hội chứng hậu huyết khối và bảo tồn chức năng hệ tĩnh mạch.
Bác sĩ Mót khuyến cáo người dân không nên chủ quan khi xuất hiện các dấu hiệu như sưng đau một bên chân, căng tức bắp chân, phù tăng dần hoặc da đổi màu, đặc biệt nếu có các yếu tố nguy cơ như phải ngồi lâu, ít vận động, sau phẫu thuật, mang thai hoặc sử dụng thuốc nội tiết theo chỉ định. Việc thăm khám sớm tại cơ sở y tế có chuyên khoa tim mạch và can thiệp mạch máu sẽ giúp chẩn đoán đúng nguyên nhân, điều trị kịp thời và hạn chế các biến chứng nguy hiểm.
Cải ngồng, còn gọi là cải làn hay cải rổ, là loại rau không xa lạ với nhiều gia đình Việt. Phần thân non giòn, lá xanh, vị ngọt xen chút đắng nhẹ khiến loại rau này dễ kết hợp với nhiều món ăn, từ xào tỏi, luộc chấm nước mắm cho tới nấu canh hay xào cùng thịt bò.
Ở nhiều vùng trồng rau, cải ngồng còn được ưa chuộng vì thời gian sinh trưởng ngắn, chỉ sau gần 2 tháng đã có thể cho thu hoạch lứa đầu.
Trong danh sách 18 loại rau tốt nhất thế giới được CDC Mỹ công nhận, rau cải ngồng xếp ở vị trí thứ 10 với điểm dinh dưỡng 62,49.
Theo nghiên cứu của CDC Mỹ, nhiều loại rau thuộc nhóm rau lá xanh và họ cải nằm trong nhóm thực phẩm có mật độ dinh dưỡng cao, tức là cung cấp lượng dưỡng chất đáng kể so với năng lượng mà chúng mang lại.
Theo Harvard T.H. Chan School of Public Health, các loại rau họ cải như cải xoăn, bắp cải, cải Brussels, bông cải xanh và nhiều loại cải xanh khác từ lâu đã là một phần quan trọng của chế độ ăn lành mạnh, có liên quan đến nguy cơ mắc bệnh tim mạch và đột quỵ thấp hơn.
Các nhà khoa học cũng tiếp tục nghiên cứu vai trò của nhóm rau này trong phòng ngừa ung thư nhờ các hợp chất thực vật đặc trưng mà chúng chứa.
Trong bữa cơm thường ngày, cải ngồng có lợi thế dễ ăn, ít năng lượng và có thể giúp bữa ăn cân bằng hơn. Những người muốn kiểm soát cân nặng thường được khuyên tăng lượng rau trong khẩu phần vì rau giúp bữa ăn có thể tích lớn hơn nhưng không làm năng lượng tăng quá nhiều.
Với cải ngồng, cảm giác giòn, ngọt nhẹ cũng khiến món ăn này phù hợp khi đi kèm các món đạm hoặc món có vị đậm.
Theo Dịch vụ Y tế Quốc gia Anh, vitamin K có nhiều trong các loại rau lá xanh như bông cải xanh, rau bina và bắp cải. Điều này lý giải vì sao các loại rau xanh thường xuyên được khuyến khích xuất hiện trong bữa ăn hàng ngày, nhất là ở những người cần duy trì chế độ ăn lành mạnh lâu dài.
Cải ngồng là nguồn cung cấp vitamin A dồi dào. Đây là dưỡng chất quan trọng giúp bảo vệ thị lực. Việc bổ sung loại rau này thường xuyên có thể góp phần phòng ngừa các bệnh về mắt như đục thủy tinh thể, thoái hóa điểm vàng hay tăng nhãn áp.
Bên cạnh đó, cải ngồng không chỉ giàu kali, giúp điều hòa huyết áp, mà còn chứa nhiều sắt, thành phần cần thiết cho quá trình tạo hồng cầu. Nhờ vậy, loại rau này có thể hỗ trợ phòng ngừa tình trạng thiếu máu. Để tăng hiệu quả hấp thu sắt, nên kết hợp cải ngồng với các thực phẩm giàu vitamin C hoặc nguồn đạm phù hợp trong bữa ăn.
Theo Quỹ Nghiên cứu Ung thư Mỹ, không có một thực phẩm đơn lẻ nào đủ khả năng bảo vệ cơ thể khỏi ung thư hoặc bệnh mạn tính. Giá trị thực sự nằm ở cả mô hình ăn uống, tức ăn đa dạng rau quả, ngũ cốc nguyên hạt, thực phẩm nguồn gốc thực vật và hạn chế đồ chế biến sẵn.
Nói cách khác, cải ngồng là một mắt xích tốt trong chế độ ăn lành mạnh, chứ không phải “thần dược” đứng riêng lẻ.
Đó cũng là lý do những món ăn dân dã như cải ngồng xào tỏi, cải ngồng luộc hay nấu canh vẫn được các chuyên gia dinh dưỡng đánh giá cao hơn nhiều món ăn quá nhiều dầu mỡ, đường hoặc muối.
Khi được chế biến đơn giản, không nấu quá lâu, cải ngồng vừa giữ được vị ngon đặc trưng, vừa góp phần bổ sung thêm rau xanh cho khẩu phần hàng ngày.
Ngày 8/7, đại diện Bệnh viện Nhi đồng Thành phố TP HCM cho biết bệnh nhi hồi phục tốt và gần như không để lại di chứng thần kinh. Thời điểm nhập viện hồi tháng 5, em ở trong tình trạng hôn mê sâu, co giật, co cứng toàn thân, chỉ số oxy trong máu giảm sâu và có các dấu hiệu tổn thương não nghiêm trọng do thiếu oxy, kèm chấn thương vùng cột sống cổ.
Trước tình trạng nguy kịch của bệnh nhi, các bác sĩ cho thở máy, sử dụng thuốc kháng sinh, chống co giật, chống phù não, điều chỉnh điện giải và nuôi dưỡng qua ống thông kết hợp vật lý trị liệu tích cực. Nhờ nỗ lực điều trị, sức khỏe của em cải thiện rõ rệt qua từng ngày.
Sau khi tỉnh táo, bệnh nhi đã được hỗ trợ đánh giá tâm lý. Đại diện viện cho biết em chia sẻ bản thân từng rơi vào khủng hoảng tinh thần nghiêm trọng sau một thời gian dài bị một nhóm bạn chặn đường, đe dọa và ép buộc nộp tiền hàng ngày. Áp lực dồn nén không thể chia sẻ cùng ai đã dẫn đến việc em có hành động tự gây nguy hiểm.
Hiện tại, bệnh viện tiếp tục phối hợp với các chuyên gia tâm lý để nâng đỡ tinh thần, giúp nam sinh sớm ổn định để hòa nhập lại cuộc sống.
Cuối tháng 5, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lâm Đồng đã khởi tố một nam sinh lớp 8 về hành vi cưỡng đoạt tài sản. Theo điều tra, nam sinh này bị cáo buộc cùng nhóm bạn nhiều lần đánh đập, đe dọa và ép nạn nhân trên nộp từ 20.000 đến 50.000 đồng mỗi ngày. Nhà chức trách đang tiếp tục điều tra, xử lý những người liên quan.
Từ trường hợp trên, các bác sĩ khuyến cáo cha mẹ cần quan tâm nhiều hơn đến những thay đổi về tâm lý, hành vi của con, đặc biệt khi trẻ có biểu hiện lo âu, sợ hãi, né tránh đến trường hoặc thường xuyên xin tiền bất thường. Gia đình cần phối hợp chặt chẽ với nhà trường để phát hiện sớm các dấu hiệu bạo lực học đường và can thiệp kịp thời, tránh những hậu quả đáng tiếc.