Chiều 30/5, CTCP Tập đoàn Sunshine (HNX: KSF) tổ chức Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2026 với sự tham dự trực tiếp của 130 cổ đông và 18 cổ đông được ủy quyền, đại diện cho hơn 756 triệu cổ phần, tương ứng 84,11% tổng số phiếu biểu quyết. Đại hội đủ điều kiện tiến hành theo quy định.
Phát biểu tại đại hội, ông Đỗ Anh Tuấn – Chủ tịch HĐQT Sunshine Group dành phần lớn thời lượng để chia sẻ về định hướng phát triển của tập đoàn trong giai đoạn tới, nhân dịp doanh nghiệp tròn 10 năm thành lập.
Theo ông Tuấn, chặng đường đầu tiên của Sunshine có thể được xem là “version 1.0”, gắn với quá trình xây dựng nền tảng tài sản, phát triển các dự án bất động sản và vượt qua những biến động lớn của thị trường.
“Chúng tôi mất 3 năm dịch bệnh, 3 năm khủng hoảng chung của thị trường bất động sản và nền kinh tế. Nhưng với những triết lý kiên định và con đường đã lựa chọn, Sunshine đã vượt qua giai đoạn 1.0 và đến thời điểm này có thể khẳng định đó là một thành công”, ông Tuấn nói.
Lãnh đạo Sunshine cho biết tập đoàn đang triển khai hơn 10 dự án và dự kiến bàn giao trong giai đoạn 2026-2028. Theo tính toán của doanh nghiệp, tổng doanh thu còn lại từ các dự án hiện hữu vào khoảng gần 600.000 tỷ đồng.
Trên cơ sở đó, Sunshine xây dựng kế hoạch doanh thu lũy kế khoảng 311.000 tỷ đồng trong 3 năm tới. Ông Tuấn cho biết mục tiêu này được xây dựng trên giả định doanh nghiệp chỉ tiêu thụ khoảng 55% lượng sản phẩm hiện có.
“Nếu chỉ vận hành hệ thống hiện tại, mỗi năm doanh thu cũng khoảng 100.000 tỷ đồng, lợi nhuận từ 30.000-50.000 tỷ đồng trong vòng 5 năm mà không cần phát triển thêm dự án mới”, ông nói.
Ông Tuấn cho rằng các dự án của Sunshine có đặc điểm là giá trị tài sản gia tăng theo thời gian nhờ vị trí và chất lượng sản phẩm.
Theo lãnh đạo doanh nghiệp, đây là lý do Sunshine vẫn có thể duy trì hiệu quả tài chính ngay cả khi tiến độ tiêu thụ kéo dài hơn dự kiến.
“Với những công ty bất động sản, khi những dự án kéo dài sẽ làm cho dòng tiền bị ăn sâu vào lợi nhuận. Nhưng với những sản phẩm, với triết lý của Sunshine thì càng bán chậm, các dự án của Sunshine càng có lợi nhuận”, Chủ tịch Sunshine tự tin chia sẻ.
Đây cũng là cơ sở để Sunshine cho rằng doanh nghiệp vẫn còn dư địa khai thác lớn từ quỹ dự án hiện hữu trong những năm tới. Bên cạnh yếu tố vị trí, Chủ tịch Sunshine Group cũng cho rằng doanh nghiệp theo đuổi chiến lược bán sản phẩm cho người dùng cuối thay vì chỉ phục vụ hoạt động đầu cơ ngắn hạn.
Theo ông, giá trị thực của dự án phải được tạo ra từ chất lượng sản phẩm, khả năng khai thác sử dụng và sự phát triển của khu vực xung quanh.
“Khách hàng mua nhà ở sản phẩm Sunshine đều luôn luôn tạo ra được một giá trị bền vững theo thời gian”, ông nói.
Theo chia sẻ của ông Đỗ Anh Tuấn, Sunshine sẽ bước sang giai đoạn phát triển mới – được gọi là “version 2.0” với 4 định hướng chính gồm: tiếp tục phát huy nền tảng hiện có, mở rộng hợp tác với các đối tác trong và ngoài nước, phát triển các đại đô thị và đầu tư vào hạ tầng công nghệ.
Đối với hoạt động bất động sản truyền thống, Sunshine dự kiến tiếp tục phát triển các dự án tại Hà Nội và Tp.HCM, đồng thời giới thiệu khoảng 20.000 sản phẩm mới tại các vị trí được doanh nghiệp đánh giá là đắc địa trong thời gian cuối năm nay và đầu năm sau.
Về chiến lược hợp tác, ông Tuấn cho biết Sunshine sẽ mở rộng làm việc với các quỹ đầu tư, các nhà đầu tư trong và ngoài nước nhằm tăng quy mô phát triển trong giai đoạn mới.
“Nếu đi nhanh thì đi một mình, muốn đi xa cần phải có bạn. Giai đoạn 1.0 chúng tôi tăng tốc bằng cách đi một mình, nhưng sang giai đoạn này Sunshine xác định mở rộng hợp tác để cùng phát triển”, ông Tuấn chia sẻ.
Một trong những nội dung đáng chú ý tại đại hội là kế hoạch phát triển các dự án đô thị quy mô lớn của Sunshine tại cả Hà Nội và khu vực phía Nam.
Theo lãnh đạo doanh nghiệp, tại Hà Nội, Sunshine đang chuẩn bị triển khai hai dự án lớn, trong đó có một dự án đa mục tiêu dự kiến ra mắt trong quý IV năm nay và một dự án được giới thiệu nằm tại khu vực cầu Nhật Tân.
Ông Tuấn cho biết tổng giá trị hàng hóa mà Sunshine dự kiến cung cấp ra thị trường Hà Nội trong thời gian tới có thể đạt khoảng 2 triệu tỷ đồng.
Tại khu vực phía Nam, Sunshine đang nghiên cứu phát triển một đại đô thị công nghệ với quy mô khoảng 2.000 ha trong tổng thể quy hoạch khoảng 3.000 ha. Theo chia sẻ của Chủ tịch Sunshine Group, dự án đã được phê duyệt quy hoạch 1/2000 và được giao chủ đầu tư.
Doanh nghiệp dự kiến tích hợp các trung tâm dữ liệu (data center), trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D), hạ tầng số và các ứng dụng AI trong quá trình vận hành đô thị.
“Làm thế nào để xây một khu đô thị mà không phải đi tìm người ở, mà là nơi người ta có thể sống, làm việc và tạo ra tiền ngay tại đó. Theo tôi, đó mới là sự bền vững”, ông Tuấn nêu quan điểm.
Bên cạnh bất động sản, Sunshine xác định công nghệ là một trong những trụ cột tăng trưởng của giai đoạn tiếp theo.
Theo ông Tuấn, nếu nhiều doanh nghiệp lựa chọn đầu tư vào sân bay, metro hay các công trình hạ tầng truyền thống, Sunshine sẽ tập trung vào hạ tầng dữ liệu, AI và hạ tầng số.
“Chúng tôi sẽ tiên phong làm hạ tầng công nghệ và xây dựng một đại đô thị để thử nghiệm các mô hình vận hành mới. Trong vòng 2-5 năm tới, khi AI phát triển mạnh hơn, cách thức làm việc và tạo ra giá trị sẽ thay đổi rất nhiều”, ông nói.
Kết thúc phần phát biểu, Chủ tịch Sunshine Group khẳng định các định hướng được công bố không chỉ dừng ở kế hoạch mà đã được doanh nghiệp đưa vào chương trình hành động cụ thể cho giai đoạn tới.
Viện Nghiên cứu phát triển TP.HCM phối hợp với Trung tâm Climatwords (ĐH Monash Úc) ngày 10.7 tổ chức Hội thảo Khu công nghiệp (KCN) Net Zero.
Phát biểu tại hội thảo, Phó tổng giám đốc Công ty CP đầu tư và phát triển điện Becamex VSIP (BV Power) Nguyễn Lý Trung cho rằng: "KCN có điện xanh không?" là câu hỏi đầu tiên mà nhiều nhà đầu tư nước ngoài đặt ra bởi các dự án đầu tư nước ngoài đều hướng đến sản xuất xuất khẩu".
Theo ông Trung, các KCN nếu không có giải pháp năng lượng xanh, nhà đầu tư hoàn toàn có thể chuyển qua chỗ khác hoặc thậm chí lựa chọn một quốc gia khác. Điều đó cho thấy năng lượng xanh đang trở thành lợi thế cạnh tranh quan trọng trong thu hút đầu tư. Không chỉ điện sạch, các doanh nghiệp còn quan tâm chứng chỉ năng lượng tái tạo (I-REC), các yêu cầu về giảm phát thải carbon và lộ trình đạt mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050. "Một tín hiệu rất tích cực là cơ chế mua bán điện trực tiếp (DPPA) đang ngày càng được hoàn thiện. Đặc biệt, Thông tư số 29/2026 của Bộ Công thương đã mở rộng đối tượng tham gia khi hạ ngưỡng khách hàng tiêu thụ điện lớn từ 200.000 kWh/tháng xuống còn 20.000 kWh/tháng đối với mô hình đấu nối bằng đường dây riêng", ông Trung nói và nhấn mạnh điện mặt trời mái nhà kết hợp hệ thống lưu trữ năng lượng mang lại hai lợi ích lớn. Vừa bổ sung nhanh nguồn điện tại chỗ, góp phần giải quyết tình trạng thiếu điện cục bộ ở các KCN tập trung, vừa giúp giảm tải cho lưới điện truyền tải quốc gia. Chẳng hạn, một dự án điện mặt trời công suất khoảng 50 MW, thời gian thi công chỉ khoảng 6 tháng nên có thể đưa nguồn điện vào vận hành rất nhanh.
Tuy vậy, để dòng điện xanh "chảy" hiệu quả nhất vào KCN, ông Trung kiến nghị cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế DPPA theo hướng linh hoạt, phù hợp với thực tiễn để nhiều doanh nghiệp trong KCN có thể tiếp cận nguồn điện xanh. "Chúng tôi đề xuất khuyến khích phát triển các nguồn điện tái tạo tại chỗ, kết hợp điện mặt trời mái nhà, các trang trại điện mặt trời liền kề KCN và hệ thống lưu trữ năng lượng nhằm bổ sung nguồn điện cục bộ, giảm áp lực lên lưới điện quốc gia và nâng cao năng lực thu hút đầu tư. Bên cạnh đó, doanh nghiệp mong muốn sớm hình thành hệ sinh thái chuyển đổi xanh đồng bộ, bao gồm dịch vụ kiểm toán năng lượng, kiểm kê khí nhà kính, hỗ trợ doanh nghiệp đạt các chứng chỉ năng lượng tái tạo và từng bước xây dựng tổ chức cấp chứng chỉ trong nước", ông Trung nhấn mạnh và cho biết công ty đang triển khai các hệ thống điện mặt trời mái nhà, trong thời gian tới sẽ phát triển mô hình điện mặt trời trang trại (solar farm) đặt liền kề các KCN, kết hợp hệ thống pin lưu trữ.
Tương tự, đại diện Công ty CP cao su Phước Hòa nói có 10 dự án điện mặt trời với tổng công suất dự kiến 391,3 MWp sẽ cung cấp điện sạch trực tiếp cho các KCN Tân Bình, Bắc Tân Uyên 2, Bắc Tân Uyên 4, Nam Tân Uyên mở rộng, Bàu Bàng 4 và Cụm công nghiệp Bố Lá, đáp ứng một phần nhu cầu phụ tải của khu vực, qua đó góp phần xây dựng các KCN xanh, tự chủ năng lượng. Tuy nhiên, để hiện thực hóa mục tiêu này, đại diện Công ty Phước Hòa kiến nghị sớm hoàn thiện cơ chế DPPA, đặc biệt chính sách cho hệ thống lưu trữ năng lượng (BESS), thị trường tín chỉ carbon và cơ chế ưu đãi đầu tư nhằm thúc đẩy phát triển mô hình KCN Net Zero.
Phát biểu khai mạc hội thảo, ông Phạm Bình An, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển TP.HCM, phân tích: Sau khi mở rộng địa giới, TP.HCM hiện có 66 KCN và dự kiến tăng lên 105 khu với tổng diện tích khoảng 50.000 ha. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết về chuyển đổi mô hình phát triển.
Ông Trần Văn Bích, Viện Nghiên cứu phát triển TP.HCM, bổ sung: TP.HCM sau hợp nhất đã hình thành một không gian công nghiệp quy mô lớn nhất cả nước khi hội tụ đầy đủ 3 trụ cột gồm công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp chế biến - chế tạo và công nghiệp nền tảng như năng lượng, hóa dầu, luyện kim, cảng biển. Đây là lợi thế mà rất ít địa phương có được, tạo tiền đề để xây dựng chuỗi giá trị công nghiệp hoàn chỉnh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế. Cùng với đó, TP còn có dư địa phát triển rất lớn với 116 KCN có tổng diện tích hơn 48.000 ha, rất thuận lợi để quy hoạch các KCN thế hệ mới theo hướng sinh thái, công nghệ cao, phát thải thấp và gắn với hệ thống logistics hiện đại. Tuy nhiên, TP.HCM cũng đang đối mặt với không ít thách thức. Đó là tỷ lệ lấp đầy tại nhiều KCN, quỹ đất sạch ngày càng hạn chế, trong khi hạ tầng logistics vẫn còn nhiều điểm nghẽn. Đặc biệt, một số ngành công nghiệp nặng vẫn có cường độ phát thải khí nhà kính cao, đòi hỏi quá trình chuyển đổi mạnh mẽ hơn trong thời gian tới…
Khảo sát của Viện Nghiên cứu phát triển TP.HCM cho thấy nhóm ngành phát thải trong KCN của TP chỉ chiếm khoảng 12% giá trị sản xuất công nghiệp, nhóm phát thải cao chiếm gần 18%, trong khi các ngành phát thải trung bình và thấp chiếm gần 70%. "TP chưa có cơ chế chuyên biệt khuyến khích doanh nghiệp giảm phát thải, chưa hình thành cơ chế tài chính xanh hoặc thị trường carbon để tạo động lực đầu tư. Các chính sách hỗ trợ vẫn chủ yếu dựa trên lĩnh vực ưu tiên, chưa gắn với kết quả giảm phát thải hay các tiêu chí ESG và mục tiêu phát thải ròng bằng 0. Bên cạnh đó, việc thiếu hệ thống đo lường và giám sát phát thải, thiếu tiêu chí định lượng cũng khiến hiệu quả chính sách chưa được đánh giá đầy đủ…", ông Bích phân tích.
Từ đó, Viện Nghiên cứu phát triển TP.HCM đưa ra 8 điểm nghẽn cần sớm tháo gỡ, gồm chính sách chưa theo kịp mô hình tăng trưởng mới; thiếu cơ chế thúc đẩy đổi mới công nghệ; liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước còn yếu; chuyển đổi công nghiệp xanh còn chậm; chưa gắn với quy hoạch không gian công nghiệp vùng; hạ tầng công nghiệp và logistics còn nhiều hạn chế; thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao; và cơ chế tài chính cho công nghiệp xanh còn chưa đáp ứng yêu cầu.
Từ một địa phương công nghiệp trọng điểm, Đồng Nai đang đứng trước bước ngoặt phát triển mới khi sở hữu hàng loạt lợi thế chiến lược về hạ tầng giao thông, logistics và đặc biệt là Cảng hàng không quốc tế Long Thành. Trong bối cảnh đó, bài toán đặt ra không chỉ là tận dụng cơ hội để bứt phá tăng trưởng mà còn phải xây dựng mô hình phát triển bền vững, thích ứng với xu hướng chuyển đổi xanh và chuyển đổi số toàn cầu.
Từ một địa phương công nghiệp trọng điểm, Đồng Nai đang đứng trước cơ hội phát triển mới khi hàng loạt dự án hạ tầng chiến lược, đặc biệt là Cảng hàng không quốc tế Long Thành, dần thành hình, Người Đưa Tin đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Đức Bình, Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp Dịch vụ Logistics Việt Nam (VLA), về việc tận dụng thời cơ này. Đồng Nai cần chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng xanh, số hóa và phát triển hệ sinh thái logistics hiện đại.
PV: Sân bay Long Thành đang được kỳ vọng trở thành động lực phát triển mới của Đồng Nai. Theo ông, công trình này sẽ mở ra những cơ hội gì cho địa phương?
Ông Nguyễn Đức Bình: Sân bay Long Thành là cơ hội lịch sử để Đồng Nai tái cấu trúc nền kinh tế. Nếu được quy hoạch tốt, khu vực này có thể giúp Đồng Nai chuyển từ trung tâm sản xuất dựa nhiều vào lao động phổ thông sang trung tâm logistics giá trị cao, thương mại điện tử, bảo trì hàng không, kho lạnh, công nghiệp công nghệ cao và dịch vụ kỹ thuật.
Tuy nhiên, nếu phát triển thiếu kiểm soát, lợi thế đó cũng có thể kéo theo ùn tắc giao thông, phát thải lớn, áp lực nhà ở, ngập đô thị và phát triển bất động sản phân tán.
Do đó, theo tôi, Đồng Nai cần định hướng Sân bay Long Thành trở thành "green gateway" - cửa ngõ xanh của vùng. Điều này đòi hỏi logistics phải chuyển dần sang phát thải thấp, tăng vận tải đường sắt, đường thủy, ứng dụng nền tảng số để tối ưu vận chuyển và thúc đẩy xe điện ở các tuyến ngắn. Đáng mừng là một số dự án đường sắt kết nối sân bay đang được thành phố xúc tiến triển khai.
PV: Để biến cơ hội đó thành động lực tăng trưởng dài hạn, Đồng Nai cần thay đổi mô hình phát triển như thế nào?
Ông Nguyễn Đức Bình: Đồng Nai không thể tiếp tục phát triển theo tư duy của một tỉnh công nghiệp truyền thống như trước đây mà cần thay đổi căn bản cách tiếp cận trong quản trị phát triển.
Trước đây, nhiều địa phương chủ yếu mở rộng khu công nghiệp, thu hút dự án rồi xử lý môi trường theo từng vụ việc phát sinh. Nhưng với vai trò của một đô thị quy mô lớn, có tính liên kết vùng mạnh, Đồng Nai cần chuyển sang mô hình quản trị dựa trên năng lực chịu tải môi trường, hiệu quả sử dụng tài nguyên, chất lượng sống và khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu.
Theo tôi, chuyển đổi xanh không nên chỉ được xem là nhiệm vụ của ngành môi trường mà phải trở thành tiêu chí đầu vào cho toàn bộ mô hình tăng trưởng mới.
Đồng Nai đang sở hữu nhiều lợi thế chiến lược như sân bay Long Thành, hệ thống đường cao tốc, vành đai, cảng biển, logistics và vị trí cửa ngõ kết nối Tp.HCM với Tây Nguyên, Nam Trung Bộ. Tuy nhiên, chính những lợi thế này cũng kéo theo áp lực lớn về phát thải khí nhà kính, tiêu thụ năng lượng, nước thải, chất thải và giao thông hàng hóa. Nếu không chuyển đổi kịp thời, chi phí môi trường và chi phí carbon trong tương lai sẽ rất lớn.
PV: Trong bức tranh phát triển mới đó, ông đánh giá như thế nào về tiềm năng phát triển logistics của Đồng Nai?
Ông Nguyễn Đức Bình: Đồng Nai có rất nhiều lợi thế để phát triển logistics. Hiện nay, địa phương gần như hội tụ đầy đủ các phương thức vận tải gồm đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa và hàng không trong tương lai gần.
Đặc biệt, khi Cảng hàng không quốc tế Long Thành đi vào hoạt động, đây sẽ là động lực rất quan trọng để Đồng Nai phát triển thành trung tâm logistics hàng không quy mô lớn. Sân bay không chỉ là một công trình hạ tầng trọng điểm quốc gia mà còn là hạt nhân để hình thành hệ sinh thái logistics hàng không hiện đại.
Trên nền tảng đó, Đồng Nai có thể phát triển các trung tâm khai thác hàng hóa hàng không (Air Cargo), các khu dịch vụ hậu cần, kho bãi, trung tâm phân phối và các dịch vụ giá trị gia tăng liên quan. Đồng thời, cần kết nối hiệu quả với các phương thức vận tải khác nhằm hình thành mạng lưới logistics đa phương thức, nâng cao năng lực trung chuyển hàng hóa trong nước và quốc tế.
PV: Theo ông, Đồng Nai cần làm gì để tận dụng hiệu quả các lợi thế hiện có và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp logistics trong thời gian tới?
Ông Nguyễn Đức Bình: Để trở thành trung tâm logistics quan trọng của cả nước, Đồng Nai cần có chiến lược phát triển tổng thể và dài hạn. Bên cạnh việc đầu tư hạ tầng giao thông, sân bay, cao tốc và các tuyến kết nối liên vùng, địa phương cần xây dựng các chính sách hỗ trợ phát triển logistics một cách đồng bộ.
Trong đó, yếu tố con người rất quan trọng. Cần đẩy mạnh đào tạo nguồn nhân lực logistics chất lượng cao, tăng cường tư vấn, cung cấp thông tin thị trường, kết nối doanh nghiệp với các nguồn dữ liệu và công nghệ mới.
Xu hướng của ngành logistics toàn cầu hiện nay là chuyển đổi kép gồm chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. Các doanh nghiệp logistics Đồng Nai chắc chắn không thể đứng ngoài xu thế này.
Muốn tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng toàn cầu, doanh nghiệp cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, tối ưu hóa hoạt động quản trị và hướng tới các mô hình logistics xanh, giảm phát thải. Hiệp hội Logistics Đồng Nai sẽ có vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận công nghệ, kết nối mạng lưới và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Đặc biệt, nền tảng của quá trình chuyển đổi số phải dựa trên dữ liệu lớn (Big Data) và trí tuệ nhân tạo (AI). Hiện nay, Hiệp hội Doanh nghiệp Dịch vụ Logistics Việt Nam cũng đang phối hợp với các cơ quan chức năng đề xuất xây dựng các trung tâm dữ liệu lớn phục vụ ngành logistics. Tôi kỳ vọng Đồng Nai sẽ tham gia tích cực vào quá trình này, coi dữ liệu và công nghệ số là công cụ quan trọng để thúc đẩy chuyển đổi xanh và phát triển hệ sinh thái logistics hiện đại.
Để Long Thành thực sự trở thành "cửa ngõ xanh" của vùng, logistics cũng cần chuyển dần sang mô hình phát thải thấp, tăng tỷ trọng vận tải đường sắt, đường thủy, ứng dụng nền tảng số để tối ưu vận chuyển và thúc đẩy sử dụng xe điện ở các tuyến ngắn.
Theo hồ sơ thẩm định, dự thảo Luật Nhà ở (sửa đổi) gồm 13 Chương, 150 Điều, giảm 48 Điều (khoảng 25%) so với Luật Nhà ở hiện hành.
Đáng chú ý, dự thảo bổ sung quy định về 4 loại hình nhà ở gồm: Nhà ở thương mại, nhà ở cho thuê, nhà ở công vụ và nhà ở chính sách nhằm thể chế hóa chủ trương phát triển nhà ở trong giai đoạn mới.
Bên cạnh đó, dự thảo bổ sung một số khái niệm mới như: Chung cư có thời hạn, nhà ở thương mại giá phù hợp, nhà có mục đích lưu trú, nhà ở cho thuê và nhà ở chính sách; đồng thời quy định cụ thể các giai đoạn của dự án đầu tư xây dựng nhà ở.
Đáng chú ý, dự thảo dành riêng một mục quy định về sở hữu nhà chung cư có thời hạn. Theo đó, quyền sở hữu nhà chung cư được xác lập khi Nhà nước công nhận quyền sở hữu và chấm dứt khi nhà chung cư hết thời hạn sử dụng hoặc chưa hết thời hạn sử dụng nhưng thuộc trường hợp phải phá dỡ theo quy định của luật.
Khi nhà chung cư hết thời hạn sử dụng hoặc bị hư hỏng, có nguy cơ sập đổ, không bảo đảm an toàn, UBND cấp tỉnh có trách nhiệm chỉ đạo kiểm định, đánh giá chất lượng công trình để quyết định việc gia hạn thời hạn sử dụng, thời hạn sở hữu. Trường hợp công trình không đủ điều kiện gia hạn thì phải phá dỡ theo quy định.
Dự thảo cũng quy định, khi nhà chung cư bị phá dỡ, chủ sở hữu có quyền tiếp tục sử dụng diện tích đất để tự cải tạo, xây dựng lại chung cư thông qua việc đóng góp kinh phí theo tỷ lệ diện tích sở hữu.
Nếu các chủ sở hữu không có nhu cầu góp kinh phí xây dựng lại, diện tích đất sẽ được bàn giao cho Nhà nước để giao chủ đầu tư thực hiện dự án. Khi đó, chủ sở hữu được bồi thường giá trị quyền sử dụng đất theo tỷ lệ diện tích sử dụng chung, xác định theo quy định của pháp luật đất đai tại thời điểm bồi thường.
Đối với trường hợp khu đất không tiếp tục xây dựng lại nhà chung cư theo quy hoạch được phê duyệt, các chủ sở hữu cũng được bồi thường giá trị quyền sử dụng đất theo quy định.
Ngoài các quyền nêu trên, chủ sở hữu có nhà chung cư thuộc diện phá dỡ có trách nhiệm chấp hành việc di dời, phá dỡ, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, giải phóng mặt bằng và các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.
Theo Bộ Xây dựng, việc bổ sung quy định mới này giúp từng bước thay đổi nhận thức của người dân về căn hộ chung cư là tài sản tồn tại "lâu dài" "vĩnh viễn", mà chưa gắn với quan điểm nhìn nhận căn hộ chung cư là công trình có thời hạn sử dụng nhất định (theo thời gian công trình sẽ bị hư hỏng, xuống cấp).
Dự thảo Luật Nhà ở (sửa đổi) quy định nhiều nhóm đối tượng được thuê nhà ở như: gười có công, hộ nghèo, cận nghèo, người thu nhập thấp, công nhân, người lao động, cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang, học sinh, sinh viên, hộ gia đình bị thu hồi đất và doanh nghiệp.
Đáng chú ý, dự thảo bổ sung đối tượng là người có từ hai con đẻ trở lên mà có con sinh từ ngày 1/7/2026 được thuê nhà ở.
Để được thuê nhà, người dân phải chưa có nhà ở thuộc sở hữu tại tỉnh, thành phố nơi có nhà cho thuê hoặc có nhà nhưng diện tích bình quân đầu người thấp hơn mức tối thiểu theo quy định. Trường hợp có nhà ở nhưng cách xa nơi làm việc, UBND cấp tỉnh sẽ quy định cụ thể điều kiện được thuê.
Theo dự thảo, nhà ở cho thuê được đầu tư từ nhiều nguồn, gồm: Vốn đầu tư công, vốn của Nhà nước ngoài đầu tư công, Quỹ nhà ở quốc gia, phương thức đối tác công tư (PPP) và nguồn tài chính công đoàn.
Trong đó, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tiếp tục là cơ quan chủ quản các dự án nhà ở xã hội cho công nhân, người lao động được đầu tư bằng nguồn tài chính công đoàn.
Dự thảo cũng quy định quỹ đất phát triển nhà ở cho thuê có thể được bố trí trong các dự án nhà ở thương mại, nhà ở xã hội hoặc dự án độc lập; phải phù hợp quy hoạch, đáp ứng nhu cầu thực tế và bảo đảm kết nối hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội.
Đối với dự án nhà ở cho thuê, dự thảo yêu cầu thời gian thu hồi vốn tối thiểu 20 năm; nhà ở cho thuê chủ yếu là nhà chung cư và phải đáp ứng tiêu chuẩn của nhà ở xã hội.
Dự thảo dành nhiều chính sách ưu đãi cho chủ đầu tư phát triển nhà ở cho thuê như: Miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất; ưu đãi thuế; vay vốn ưu đãi; hỗ trợ đầu tư hạ tầng; được bố trí một phần diện tích để kinh doanh dịch vụ hoặc phát triển nhà ở thương mại theo quy định nhằm bù đắp chi phí đầu tư.
Đối với doanh nghiệp xây dựng nhà ở cho chuyên gia, người lao động của mình thuê, dự thảo cũng đề xuất miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất và cho phép tính chi phí đầu tư xây dựng vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế.