Anh Đinh Văn Thông, cán bộ kiểm lâm Vườn quốc gia Chư Yang Sin, tỉnh Đắk Lắk nhận lời đưa tôi đến thăm voi đá mẹ rồi tiếp tục hành trình sang voi đá cha cách đó khoảng 5 km.
Chuyến đi tưởng chỉ là cuộc khám phá một danh thắng nổi tiếng, nhưng càng bước sâu vào vùng đất này, tôi càng nhận ra mình đang đi vào một thế giới đầy huyền thoại, nơi những khối đá vô tri từ lâu đã trở thành một phần tâm thức của cư dân bản địa.
Voi đá mẹ và voi đá cha trước đây cùng thuộc huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk. Sau sáp nhập đơn vị hành chính thì voi đá mẹ thuộc xã Hòa Sơn, còn voi đá cha thuộc xã Liên Sơn Lắk (Đắk Lắk). Voi đá mẹ dài khoảng 200 m và chiều cao hơn 30 m, chỉ cách trụ sở Ban quản lý Vườn quốc gia Chư Yang Sin vài cây số.
Từ xa, khối đá khổng lồ hiện lên như một con voi đang nằm phục bên chân núi. Mỗi bước chân tiến lại gần, cảm giác choáng ngợp càng rõ nét hơn. Ở một góc nhìn, có thể thấy tảng đá nguyên khối đồ sộ nằm sừng sững giữa thiên nhiên rất giống hình dáng một con voi khổng lồ. Bề mặt đá nhẵn bóng, màu xám đen, trải qua biết bao mưa nắng vẫn giữ nguyên vẻ uy nghi.
Để leo lên lưng voi đá mẹ không quá khó khăn. Thế nhưng khi ngồi trên lưng voi đá mẹ, tôi càng cảm nhận rõ sự hùng vĩ của thiên nhiên Tây nguyên. Phóng tầm mắt ra bốn phía, thấy những cánh rừng thuộc dãy Chư Yang Sin trải dài bất tận và những buôn làng nhỏ bé nép mình dưới chân núi. Giữa không gian mênh mông ấy, con người bỗng trở nên nhỏ bé đến lạ.
Nếu voi đá mẹ nằm nép bên chân núi thì voi đá cha với chiều dài khoảng 70 m và chu vi khoảng 180 m lại hiện diện theo một cách hoàn toàn khác. Voi đá cha nằm cô độc giữa cánh đồng.
Từ xa nhìn lại, đá voi cha giống hệt một con voi khổng lồ đang nghỉ ngơi giữa cánh đồng lúa. Khung cảnh ấy tạo nên cảm giác vừa kỳ vĩ vừa bí ẩn, như thể thiên nhiên đã cố tình đặt đôi voi ở 2 vị trí khác nhau để kể một câu chuyện mà đến nay vẫn chưa ai giải mã được.
Người dân nơi đây không ai biết chính xác voi đá cha và voi đá mẹ xuất hiện từ bao giờ. Họ chỉ biết rằng từ thời ông bà, tổ tiên của mình, 2 khối đá ấy đã hiện diện trên vùng đất này.
Chính sự hiện diện “độc lạ” giữa núi rừng, đồng lúa cùng hình dáng đặc biệt ấy đã khiến 2 khối đá trở thành một trong những biểu tượng thiên nhiên độc đáo nhất của đại ngàn, thu hút ngày càng nhiều du khách tìm đến khám phá.
Càng hỏi chuyện người dân địa phương, tôi càng nhận được nhiều câu chuyện thú vị hơn là những lời giải thích mang tính khoa học. Trong căn nhà dài truyền thống, ông Y Gah H’Mók, hậu duệ đời thứ 10 của gia tộc nổi tiếng với nghề nuôi và thuần dưỡng voi ở vùng hồ Lắk, chậm rãi kể cho tôi nghe những điều mà ông được cha ông truyền lại.
“Ngày xưa, người già kể rằng 2 hòn đá không nằm ở vị trí như bây giờ. Chúng biết đi. Voi đá mẹ từng ở xa hơn nhưng dần tiến về chân núi. Còn voi đá cha thì một đêm bỗng xuất hiện giữa đồng lúa”, ông nói rồi hướng ánh mắt xa xăm về phía những cánh đồng đang ngả màu vàng.
Theo lời kể của người M’nông, voi đá cha và voi đá mẹ vốn là một đôi voi “yêu nhau”. Vì một biến cố nào đó mà phải xa cách, và vì thương nhớ nhau da diết đến chết rồi hóa thân thành đá. Trong câu chuyện này còn có chi tiết rất “liêu trai chí dị”. Theo đó, dù biến thành khối đá, nhưng qua thời gian, voi đá cha vẫn luôn tìm cách dịch chuyển để đến gần voi đá mẹ hơn.
Dù hiện nay 2 khối đá vẫn còn cách nhau khoảng 5 km, người dân bản địa vẫn tin rằng khoảng cách ấy ngày một ngắn lại. Một số người còn chỉ cho khách tham quan những rãnh đất dài trên đồng ruộng và xem đó là dấu tích của hành trình dịch chuyển kỳ bí ấy.
Khoa học chưa từng xác nhận câu chuyện này, nhưng với người dân nơi đây, điều đó dường như không quá quan trọng. Truyền thuyết ấy đã tồn tại qua nhiều đời người và trở thành một phần không thể tách rời trong đời sống văn hóa của cộng đồng. Có lẽ cũng từ truyền thuyết đó mà voi đá mẹ và voi đá cha được người dân xem như những vị thần tình yêu của vùng đất Tây nguyên.
Chúng tôi gặp một đôi bạn trẻ từ TP.HCM vừa tham quan voi đá cha xong và tiếp tục tìm đến voi đá mẹ. Họ quen nhau gần 3 năm và quyết định đến Đắk Lắk trong chuyến du lịch đầu tiên chỉ có 2 người
“Trước khi đi tụi em đọc được nhiều câu chuyện nói rằng voi đá mẹ tượng trưng cho tình yêu bền vững. Nghe khá thú vị nên tụi em muốn đến tận nơi xem sao”, chàng trai chia sẻ.
Ngồi bên cạnh, cô gái mỉm cười nhìn về phía đỉnh đá. Cô bảo không biết truyền thuyết ấy có thật hay không, nhưng đứng giữa không gian này, cảm giác bình yên khiến người ta muốn tin vào những điều đẹp đẽ.
“Nhìn voi đá cha và voi đá mẹ cách nhau như vậy mà vẫn luôn được kể là đang tìm đến nhau, em thấy giống tình yêu vậy. Có thể xa cách, có thể gặp khó khăn nhưng nếu đủ chân thành thì cuối cùng vẫn hướng về nhau”, cô gái nói.
Không chỉ là biểu tượng tình yêu, voi đá cha và voi đá mẹ còn được người dân bản địa xem như những vị thần bảo hộ buôn làng. Nhiều thế hệ người M’nông tin rằng voi đá che chở mùa màng, bảo vệ cuộc sống bình yên và mang đến sự no đủ cho cộng đồng. Bởi vậy, từ bao đời nay, người dân luôn có ý thức gìn giữ, tôn trọng và không xâm phạm đến những khối đá thiêng.
Chiều muộn, khi ánh nắng cuối ngày nhuộm vàng những cánh đồng dưới chân voi đá cha, tôi đứng lặng nhìn khối đá khổng lồ giữa không gian rộng lớn của đại ngàn. Đã có biết bao du khách đến rồi đi, biết bao thế hệ người dân lớn lên cùng những câu chuyện về voi đá.
Đến nay, không ai khẳng định truyền thuyết ấy là sản phẩm của trí tưởng tượng dân gian. Nhưng có lẽ chính sự bí ẩn đó mới tạo nên sức hấp dẫn đặc biệt cho vùng đất này.
Giữa Tây nguyên lộng gió, voi đá cha vẫn nằm giữa cánh đồng, voi đá mẹ vẫn tựa mình bên chân núi và câu chuyện tình nghìn năm của 2 voi đá vẫn tiếp tục được kể bằng niềm tin của người dân bản địa và sự tò mò của những lữ khách phương xa.
Buổi sáng, anh Minh Cảnh, 42 tuổi, dắt xe ra khỏi nhà trên phố Lý Nam Đế, chuẩn bị cho một ngày chạy hàng thuê từ chợ Đồng Xuân tới các điểm bán lẻ rải rác quanh phố cổ. Khách của anh là tiểu thương bán hàng cho du khách lưu trú tại các phố Hàng Mã, Lương Văn Can, Hàng Gai, Hàng Buồm... Ngày ít anh chở 2-3 chuyến, ngày nhiều thì bận từ rạng sáng đến tối muộn.
Từ ngày 1/7, theo dự thảo đề án vùng phát thải thấp, xe máy xăng sẽ bị cấm lưu thông trong khung giờ cuối tuần tại 11 tuyến phố vùng lõi Hoàn Kiếm, tức bao gồm các tuyến phố anh Cảnh hay chạy qua. Vì thế, cả tuần nay chủ đề nóng trong gia đình anh và cả nhóm bạn xe ôm là làm gì trước lệnh cấm.
"Chắc chắn tôi sẽ mất khách, thu nhập giảm sút mà chưa biết xoay xở thế nào", anh Cảnh nói. Anh đã tìm hiểu về xe điện chở hàng. Nhưng với thu nhập 9-10 triệu đồng mỗi tháng, sau khi trừ ăn uống, sinh hoạt và học phí của hai con đang học phổ thông, việc mua xe mới gần như ngoài tầm với.
Làm nghề chở khách du lịch, anh Mạnh Hùng, 43 tuổi, sống trên phố Hàng Buồm - một trong 11 tuyến phố nằm trong vùng lõi Hoàn Kiếm, chia sẻ nhà trên phố cổ là được cha mẹ để lại, chưa bao giờ nghĩ đến chuyện chuyển đi. Phố cổ vừa là nơi sinh sống, vừa là nơi mưu sinh của gia đình.
Hàng ngày anh chở khách du lịch quanh khu vực Hồ Gươm và phố cổ. Cuối tuần là cao điểm, khách vào đây ăn uống, mua sắm, xem nghệ thuật, thường đi loanh quanh cả buổi. "Đó là lúc tôi kiếm được nhiều nhất. Giờ đúng những ngày đó lại không được chạy xe vào thì khác gì mất trắng thu nhập", anh bộc bạch.
Anh Hùng cũng tính đến việc đổi xe điện, nhưng thu nhập không cố định, mua xe 30-40 triệu đồng đồng nghĩa phải thắt lưng buộc bụng nhiều tháng. Anh cũng lo nhà nằm trong ngõ nhỏ, là lối đi chung có hàng chục hộ dân. Mấy chục xe điện để ngoài đường cắm sạc, dây điện chằng chịt, mưa xuống có thể chập cháy.
Mùa mưa, phố cổ có đoạn ngập. Theo anh, xe xăng dính nước còn có thể xử lý từng bộ phận; xe điện khi hệ thống điện bị ảnh hưởng là có thể hỏng cả dây chuyền, chi phí sửa chữa sẽ rất lớn.
Vì một thành phố không ô nhiễm, anh Hùng không phản đối chính sách vùng phát thải thấp, song cho rằng áp dụng thời điểm này chưa hợp lý. Anh mong chính quyền hiểu hoàn cảnh người dân, hỗ trợ chi phí chuyển đổi sang xe điện.
Cũng sinh sống ở vùng dự kiến cấm xe máy xăng, phố Lê Lai, phường Tràng Tiền, cách Hồ Gươm chỉ hai ngã tư, chị Lan Phương ủng hộ chính sách nhưng bắt đầu hình dung những bất tiện. Cuối tuần muốn ra ngoài chị phải đi bộ đến trạm xe công cộng. Người thân ghé thăm phải gửi xe ở xa rồi đi bộ vào.
Chị Phương dự định chuyển sang xe điện, nhưng cũng gặp phải rào cản như nhiều người dân vùng lõi Hoàn Kiếm là chi phí chuyển đổi cao, chính sách hỗ trợ chưa được công bố, trạm sạc công cộng, nơi đổi pin mới thấy vị trí dự kiến quy hoạch. Chị cũng lo độ bền của pin xe điện và quãng đường mỗi lần sạc...
"Có lẽ phải đợi đến khi chính thức áp dụng vùng phát thải thấp mới thấy hết những vấn đề người dân phải đối mặt", chị nói.
Theo Tờ trình đề án vùng phát thải thấp của UBND TP Hà Nội, các đơn vị đã lấy ý kiến của tổ chức, cá nhân cư trú, làm việc tại vùng phát thải thấp và các đối tượng khác có liên quan bằng hình thức trực tiếp, trực tuyến, hội thảo tham vấn. Kết quả trên 1.250 phiếu (1.010 phiếu hợp lệ) cho thấy người dân trong vùng vành đai 1 và lân cận vẫn phụ thuộc chủ yếu vào xe máy, ôtô sử dụng nhiên liệu hóa thạch, tỷ lệ sử dụng phương tiện điện và giao thông công cộng còn thấp.
Người dân ủng hộ việc chuyển đổi xanh với vận tải công cộng, nhưng thận trọng/ ít ủng hộ các biện pháp hạn chế, thu phí, cấm phương tiện cá nhân nếu phương án thay thế chưa đáp ứng.
Doanh nghiệp nhìn chung ủng hộ định hướng vùng phát thải thấp nhưng kiến nghị công bố sớm lộ trình và có cơ chế hỗ trợ (tín dụng ưu đãi, miễn/giảm phí – lệ phí, hạ tầng sạc) để giảm chi phí chuyển đổi và hạn chế gián đoạn hoạt động.
Kết quả khảo sát cho thấy việc triển khai vùng phát thải thấp cần được thực hiện theo lộ trình phù hợp, song song với phát triển hạ tầng giao thông công cộng và các giải pháp hỗ trợ chuyển đổi phương tiện, nhằm bảo đảm đồng thuận xã hội và giảm thiểu tác động đến đời sống người dân và hoạt động của doanh nghiệp, tờ trình nêu.
Còn hai tháng nữa là tới ngày thí điểm vùng phát thải thấp, anh Cảnh, anh Hùng, chị Phương đang nóng lòng chờ đợi chính quyền công bố chính sách hỗ trợ chuyển đổi phương tiện cũng như mạng lưới trạm sạc cho xe điện.
Tối 20/5, Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Đắk Lắk, thông tin đơn vị đang làm rõ nguyên nhân vụ tai nạn lật xe tải chở cát đè trúng một người dân.
Khoảng 16h cùng ngày, xe tải chở cát lưu thông trên tuyến đường qua xã Ea Phê (Đắk Lắk), gần khu vực đập Krông Búk Hạ. Khi đến đoạn qua buôn Puăn B, do trời mưa khiến mặt đường trơn trượt, chiếc xe bất ngờ lật nghiêng sang bên phải. Cát từ thùng xe đổ ập xuống, vùi lấp một người đàn ông đang lưu thông trên đường.
Trước vụ việc, hàng chục người dân vội chạy đến, dùng tay và cuốc liên tục cào xới đống cát để tìm kiếm nạn nhân. Sau một thời gian nỗ lực cứu hộ, người đàn ông được đưa ra ngoài và nhanh chóng chuyển đến bệnh viện cấp cứu. Tuy nhiên, nạn nhân đã tử vong.
Theo một số nhân chứng, người đàn ông đang trên đường di chuyển đến cửa hàng tạp hóa để đổi nước lọc về uống thì gặp nạn.
Rừng Cấm, còn gọi rú Cấm rộng hơn 4 ha, nằm trên đồi cao khoảng 70 m, ở làng Thọ Linh. Rừng được bảo vệ bằng hương ước truyền đời và trở thành lá phổi của vùng đất bán sơn địa, giữa miền gió Lào khắc nghiệt.
Từ trên cao nhìn xuống, rừng Cấm cách làng Thọ Linh bởi con sông rộng hơn 100 m, là mảng xanh giáp với rừng trồng gỗ keo. Trong rừng có hàng trăm cây gỗ quý như lim, sến, dỗi, gõ, giẻ... Nhiều cây đường kính gốc hơn một mét, tầng tán xếp chồng nhau. Do gần khu dân cư, động vật không nhiều, chủ yếu là chim, sóc và ong.
Theo gia phả của 5 dòng họ chính và bia đá trước đình làng, Thọ Linh được hình thành từ cuối thời Trần, đầu thời Lê, khoảng thế kỷ XV. Thời điểm đó, vùng đất này thường xuyên bị quân Chiêm Thành quấy nhiễu. Triều đình cử một vị tướng đến vùng đất Ô Châu, nay thuộc Quảng Trị dẹp loạn, đồng thời chiêu dân khai khẩn, lập làng. Cánh rừng Cấm hình thành từ những ngày đầu ấy.
Trong 8 năm chiến tranh phá hoại miền Bắc của Mỹ, khu rừng từng che chở cho bộ đội, điểm ẩn náu của lực lượng Hải quân khi tàu từ sông Gianh ngược dòng tiến vào. Tàu trú ẩn hai bên sông được cây rừng che chắn. Ven rừng là trận địa pháo, tạo thành thế phòng thủ vững chắc.
Ông Phan Xuân Hải, trưởng làng Thọ Linh, cho biết để bảo vệ rừng Cấm, người xưa đã có hương ước miệng quy định mọi cư dân, từ già đến trẻ, đều có trách nhiệm giữ rừng. Người lớn phải dạy con cháu không chặt phá cây, không xâm hại hệ sinh thái. Những ai vi phạm sẽ bị xử phạt nghiêm khắc.
"Rừng là tài sản của làng, là di sản của tổ tiên để lại. Mất rừng là có tội với tiền nhân", ông Hải nói. Quan niệm này đã ăn sâu vào nhận thức của người dân, trở thành quy ước bất thành văn nhưng có sức ràng buộc mạnh mẽ.
Sau ngày đất nước thống nhất, rừng xung quanh được người dân khai hoang, trồng trọt để phát triển kinh tế. Tuy nhiên, rừng Cấm vẫn được giữ nguyên. Thời kỳ hợp tác xã, làng chỉ cho phép khai thác một số cây phục vụ công trình chung, còn lại tuyệt đối không đụng đến.
"Người dân ý thức rõ đây là rừng cấm. Dù cuộc sống còn khó khăn, không ai nghĩ đến chuyện phá rừng để lấy gỗ", ông Trần Đình Trường, trưởng thôn Linh Cận Sơn, làng Thọ Linh, cho hay.
Hiện nay, để tăng cường bảo vệ và cải thiện cảnh quan, dân làng còn trồng thêm các hàng xà cừ ven rừng. Những hàng cây này vừa tạo ranh giới tự nhiên, vừa góp phần giữ đất, chống xói mòn. Sắp tới làng mua cây lim trồng quanh rừng.
"Rừng Cấm là niềm tự hào của làng Thọ Linh. Nếu không có quy ước gìn giữ thì sẽ bị phá lấy đất sản xuất", trưởng làng Phan Xuân Hải nói, cho hay nhiều cây gỗ gõ thuộc nhóm 1, giá hàng chục triệu đồng một mét khối. Nhưng với người dân "đừng nói tiền triệu mà trăm tỷ đồng cũng không ai dám đụng đến cây".