Cuộc xung đột tại Trung Đông đã kéo dài hơn 2 tháng, gây ra nhiều thương vong và thiệt hại kinh tế, khiến tác động lan truyền ra toàn thế giới. Tuy nhiên, nhiều nhà phân tích cho rằng thế giới có thể sẽ trải qua một số thay đổi cần thiết và mang tính cấu trúc vì cuộc xung đột này.
Eo biển Hormuz sẽ không còn trở thành điểm nghẽn của kinh tế toàn cầu và Iran khó có thể gây gián đoạn cho thị trường dầu thế giới. Kinh tế càng sụt giảm mạnh, động lực thực hiện các thay đổi cần thiết càng lớn.
Hiện chưa rõ các bên có thể đạt thỏa thuận nào để chấm dứt chiến sự. Dù vậy, các nhà kinh tế học và chuyên gia quân sự đều nhận định rằng cuộc xung đột vẫn có thể mang đến một số kết quả tích cực trong dài hạn.
Cuộc chiến đã phơi bày những điểm yếu cấu trúc lớn trong chuỗi cung ứng năng lượng toàn cầu – một hệ thống phức tạp đòi hỏi cân bằng giữa hiệu quả và sự dư thừa. Việc Iran làm gián đoạn 20% nguồn cung dầu toàn cầu bằng thủy lôi, drone tự chế và xuồng cao tốc cho thấy thế giới sẽ phải đánh giá lại nghiêm túc và thực hiện các thay đổi lâu dài.
Kịch bản khả thi nhất là Trung Đông xây thêm các đường ống dẫn dầu và khí đốt qua Arab Saudi và UAE để tránh hoàn toàn eo biển Hormuz. “Các nước sẽ phát triển đường ống và tăng mạnh công suất vận chuyển. Khi đó, không còn ai đặt toàn bộ tương lai của mình vào eo biển này nữa. Đây là điều rất tích cực”, Jay Hatfield – nhà phân tích tại Infrastructure Capital Advisors cho biết trên CNN.
Việc này cũng đồng nghĩa chuỗi cung ứng năng lượng có thể an toàn và rẻ hơn trong dài hạn. Thế giới đang phải trả phí bảo hiểm rất cao cho việc vận chuyển hàng hóa qua những vùng biển căng thẳng.
“Nếu không có cuộc chiến, cú sốc như vừa qua, người ta khó nhận ra mọi thứ cần thay đổi”, Ross Mayfield – chiến lược gia đầu tư tại Baird nhận định.
Các nền kinh tế chuyển dịch để thích ứng từng xảy ra vài lần trong thập kỷ qua. Sau đại dịch, chuỗi cung ứng toàn cầu đứt gãy, nhưng đã được củng cố lại đáng kể. Xung đột Nga – Ukraine thay đổi cách châu Âu mua khí đốt tự nhiên. Thuế nhập khẩu của Tổng thống Mỹ Donald Trump cũng tạo ra các thay đổi lớn trong việc mua nguyên liệu thô.
Khả năng chống chịu của chuỗi cung ứng năng lượng càng cần thiết trong thời điểm nhu cầu nhiên liệu toàn cầu ngày càng tăng mạnh. Nhiều hãng công nghệ đang xây dựng trung tâm dữ liệu AI, vốn tiêu thụ lượng điện khổng lồ với tốc độ chóng mặt.
Nếu thế giới giảm phụ thuộc vào năng lượng Trung Đông, Mỹ có thể hưởng lợi. Khí tự nhiên hiện vẫn là nguồn năng lượng lớn nhất để sản xuất điện. Mỹ sở hữu trữ lượng khí rất lớn cùng năng lực xuất khẩu ngày càng tăng.
Theo Joe Brusuelas – kinh tế trưởng tại RSM, tác động từ những thay đổi của kinh tế toàn cầu chỉ có thể nhìn rõ sau 10-20 năm nữa.
Thực tế, OPEC – đối thủ lớn nhất của Mỹ trong lĩnh vực nhiên liệu hóa thạch – đã có dấu hiệu rạn nứt. UAE, nước sản xuất dầu lớn thứ hai trong nhóm rời liên minh này. Điều này làm suy yếu khả năng tác động lên giá dầu thế giới thông qua hạn ngạch sản xuất của OPEC.
“Đa dạng hóa nguồn cung khỏi OPEC và chuyển sang các nhà cung cấp đáng tin cậy hơn, đặc biệt là Mỹ, giúp cải thiện an ninh năng lượng toàn cầu và ổn định giá”, Rob Thummel – Giám đốc Danh mục Đầu tư tại quỹ Tortoise Capital cho biết.
Bên cạnh đó, quá trình chuyển sang năng lượng mặt trời cũng đang tăng tốc tại nhiều khu vực do cú sốc giá dầu. Xuất khẩu công nghệ năng lượng mặt trời, pin và xe điện của Trung Quốc đều lập kỷ lục trong tháng 3, theo hãng nghiên cứu năng lượng Ember. “Một nền kinh tế ít phụ thuộc vào nguồn năng lượng sẽ là điều tích cực”, Mayfield đánh giá.
Dù vậy, các kịch bản tích cực này chưa chắc sẽ xảy ra. Chính quyền mới tại Iran có thể còn cứng rắn hơn hiện tại. Chiến sự cho thấy Iran biết cách gây sức ép với kinh tế toàn cầu. Heather Long – kinh tế trưởng tại Navy Federal Credit Union cho rằng nếu eo biển Hormuz không còn quá quan trọng, nước này và các lực lượng đồng minh có thể chuyển sang đe dọa những tuyến vận tải khác trong tương lai.
Bên cạnh đó, OPEC gần đây lại tăng sản lượng dầu. Việc liên minh này biến mất vì thế cũng có thể làm giảm khả năng thế giới phối hợp hành động trong các cuộc khủng hoảng năng lượng sau này.
Cuối cùng, các thay đổi từ chiến sự có thể mang lại lợi ích cho bên này nhưng gây thiệt hại cho bên khác. Ví dụ, quá trình chuyển sang năng lượng tái tạo, đặc biệt tại châu Á và châu Âu, có thể ảnh hưởng tiêu cực tới các khu vực khai thác dầu đá phiến tại bang Texas (Mỹ). Nếu nhu cầu dầu giảm về dài hạn, giá dầu có thể xuống thấp hơn giai đoạn trước chiến sự, gây thiệt hại cho ngành này.
“Rất nhiều điều còn phụ thuộc vào yếu tố nào mang tính dài hạn, và đâu chỉ là tạm thời”, Brusuelas kết luận.
Trong khảo sát mới nhất của Reuters, các nhà kinh tế học hạ dự báo tăng trưởng của nhiều nước Hội đồng Hợp tác vùng Vịnh (GCC). Một số quốc gia khu vực này bị thay đổi triển vọng từ tăng trưởng sang suy giảm kinh tế.
Chiến sự tại Trung Đông đã làm xáo trộn thị trường năng lượng - huyết mạch kinh tế của nhiều nước khu vực này, gây ra cú sốc nguồn cung mang tính lịch sử. Việc phục hồi khủng hoảng năng lượng có thể phải chờ đến năm sau.
GDP Qatar, Kuwait và Bahrain được dự báo giảm lần lượt 6%, 4,4% và 2,9% năm nay. Các số liệu này trái ngược hoàn toàn so với ước tính hồi tháng 1, là tăng trưởng 3-5%. Trong khi đó, tăng trưởng kinh tế của UAE nhiều khả năng gần như đứng yên. Hồi đầu năm, nền kinh tế này được kỳ vọng tăng 5%.
Trong đợt giá dầu tăng tốc trước đây, các nền kinh tế vùng Vịnh thường hưởng lợi lớn nhờ xuất khẩu năng lượng. Tuy nhiên lần này, việc Iran gần như phong tỏa eo biển Hormuz - tuyến vận tải chịu trách nhiệm chuyên chở 20% dầu thô và khí hóa lỏng (LNG) toàn cầu - dẫn đến thiếu cung nhiên liệu. Nhiều cơ sở hạ tầng ngành năng lượng trong khu vực, từ Arab Saudi, UAE, Kuwait đến Qatar bị tập kích, khiến các nền kinh tế này chao đảo. Giá dầu thô hiện tăng khoảng 40% so với trước chiến sự.
"Chúng tôi không cho rằng GDP có thể dễ dàng quay về quỹ đạo tăng trưởng trước đó. Vài năm tới, GDP sẽ vẫn ở mức thấp bất chấp đà phục hồi nhanh. Các quốc gia này cần nửa cuối năm nay để tái thiết chuỗi cung ứng", ông Ralf Wiegert, nhà kinh tế học tại S&P Global Market Intelligence, nhận định.
Trên CNBC, Ryan Sweet – kinh tế trưởng tại Oxford Economics cũng cho rằng xung đột tại Iran là yếu tố "thay đổi cuộc chơi" với các nước vùng Vịnh. "Ngoài tác động đến doanh thu dầu khí, chiến sự còn ảnh hưởng đến du lịch, dòng tiền đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Trung Đông", ông cho biết.
Đầu tháng này, Economist ước tính các nước vùng Vịnh thiệt hại hàng chục tỷ USD vì chiến sự. Con số này đến từ doanh thu bán dầu khí sụt giảm, cơ sở hạ tầng thiết yếu chịu thiệt hại và chi phí cho hệ thống đánh chặn phòng không. Thiệt hại về uy tín thậm chí còn lớn hơn khi xung đột phơi bày điểm yếu của Trung Đông về mặt địa lý lẫn địa chính trị. Đây là vấn đề các quốc gia vùng Vịnh không dễ khắc phục, tạp chí này nhận định.
Arab Saudi, nước xuất khẩu dầu thô lớn nhất thế giới, và Oman được cho là chống chịu cú sốc này tốt hơn. Hai nền kinh tế này được dự báo vẫn tăng trưởng 2,6% và 2,2% năm nay. Tuy nhiên, các số liệu đều thấp hơn đáng kể so với dự báo tháng 1 là tăng 4,3% và 2,8%.
Giá dầu tăng đang kéo lạm phát toàn cầu lên cao. Các nền kinh tế vùng Vịnh cũng không ngoại lệ. Lạm phát tại đây được dự báo đạt 2-3% năm nay, tăng so với chỉ 1-2% hồi đầu năm.
"Vòng 2 của cú sốc này sẽ xảy ra với các lĩnh vực phi dầu mỏ. Điều này đặc biệt quan trọng với Arab Saudi, UAE và Qatar", Lluis Dalmau Taules - nhà kinh tế học tại Allianz cho biết. Lĩnh vực du lịch của Trung Đông tăng trưởng nhanh nhất thế giới trong vài năm qua. Vì vậy, chiến sự tác động mạnh đến bán lẻ và nhiều ngành nghề khác.
Các nhà kinh tế dự báo năm tới, Trung Đông sẽ hồi phục nhanh nếu xung đột sớm kết thúc. Theo đó, Qatar, UAE và Kuwait có thể tăng trưởng lần lượt 7,8%, 5,4% và 5% năm tới. GDP Arab Saudi, Bahrain và Oman được kỳ vọng ở mức 2,8-4,5%.
Trước đó, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) cũng đưa ra dự báo sản xuất năng lượng và giao thông trong khu vực hồi phục, bình thường trở lại trong vài tháng tới.
Goldman Sachs cho rằng việc khôi phục này sẽ không đồng đều giữa các nền kinh tế ở vùng Vịnh. Về dài hạn, các nhà phân tích tại ngân hàng này cho rằng hoạt động kinh tế tại đây sẽ phục hồi mạnh nhờ được hỗ trợ từ nguồn lực vốn công, dự trữ dồi dào của chính phủ và doanh thu dầu khí tăng trở lại.
Ngày 27/5, Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Sinh Nhật Tân đã chia sẻ thêm một số thông tin liên quan đến công tác chuẩn bị, triển khai lộ trình áp dụng xăng E10 trên toàn quốc và một số vấn đề liên quan đến lo ngại khả năng ảnh hưởng động cơ ô tô, xe máy.
Theo lãnh đạo Bộ Công Thương, việc triển khai lộ trình sử dụng xăng sinh học không phải là quyết định mang tính áp đặt hay nhằm hạn chế quyền lựa chọn của người dân.
Chủ trương này xuất phát từ yêu cầu phát triển bền vững, bảo đảm an ninh năng lượng, bảo vệ môi trường và thực hiện các cam kết quốc tế của Việt Nam về giảm phát thải khí nhà kính.
Thứ trưởng Nguyễn Sinh Nhật Tân lý giải trong giai đoạn trước đây, Việt Nam đã áp dụng song song cả xăng khoáng và xăng sinh học để người dân có thời gian làm quen, thị trường có điều kiện thích nghi, doanh nghiệp từng bước hoàn thiện hạ tầng phân phối, kỹ thuật và nguồn cung.
Tuy nhiên, ông cho biết thực tiễn tại nhiều quốc gia cho thấy, nếu duy trì đồng thời quá nhiều chủng loại nhiên liệu trong thời gian dài sẽ phát sinh nhiều bất cập như tăng chi phí logistics, tồn chứa, phân phối; gây khó khăn cho doanh nghiệp bán lẻ; đồng thời làm giảm hiệu quả của chính sách chuyển đổi năng lượng xanh.
Đặc biệt, ông Tân cho biết xăng sinh học E10 đã được nghiên cứu, thử nghiệm và đánh giá phù hợp với phần lớn phương tiện đang lưu hành hiện nay.
Việc sử dụng xăng E10 không chỉ giúp giảm phát thải mà còn giúp giảm phụ thuộc nhiên liệu hóa thạch nhập khẩu, thúc đẩy tiêu thụ nguyên liệu sinh học trong nước, tạo đầu ra cho sản xuất nông nghiệp và nâng cao khả năng tự chủ năng lượng quốc gia.
Thứ trưởng Nguyễn Sinh Nhật Tân nhấn mạnh lộ trình chuyển đổi được xây dựng theo hướng từng bước, có đánh giá tác động kỹ lưỡng, không thực hiện đột ngột.
Trong quá trình triển khai, Bộ Công Thương sẽ tiếp tục phối hợp với các bộ, ngành, doanh nghiệp để bảo đảm nguồn cung ổn định, chất lượng nhiên liệu, quyền lợi người tiêu dùng và đặc biệt, Bộ cũng sẽ tiếp tục cung cấp thêm các thông tin thông minh bạch để người dân yên tâm sử dụng.
Theo lãnh đạo Bộ Công Thương, lộ trình áp dụng xăng sinh học E10 được triển khai theo các chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước như Nghị quyết 55 và Nghị quyết 70 của Bộ Chính trị về phát triển, bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, hướng tới giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch, giảm phát thải và bảo vệ môi trường.
Cùng với đó, Bộ Công Thương đang triển khai nhiều quyết định của Thủ tướng về tăng trưởng xanh và phát triển năng lượng quốc gia, hướng tới phát triển năng lượng tái tạo, năng lượng xanh và giảm phát thải CO2.
Đáng chú ý, Quyết định 53/2012 quy định từ năm 2015 triển khai lộ trình xăng E5 trên toàn quốc và từ năm 2017 áp dụng xăng E10. Thực hiện lộ trình này, xăng E5 đã được phân phối toàn quốc từ đầu năm 2018, trong khi xăng E10 chưa triển khai đúng kế hoạch. Vì vậy, Bộ Công Thương đã báo cáo Thủ tướng để tiếp tục thực hiện lộ trình theo tinh thần của Quyết định 53.
Thứ trưởng khẳng định việc chuyển đổi chính thức xăng sinh học (E5 RON 92 và E10 RON 95) trên toàn quốc từ ngày 1/6 là bước tiếp theo nhằm triển khai thực hiện lộ trình nhiên liệu sinh học theo tinh thần Quyết định 53.
Đồng thời hoàn toàn phù hợp với yêu cầu thực tiễn, cơ sở pháp lý, đúng với chủ trương đường lối của Đảng và Chính phủ về chuyển đổi năng lượng, xây dựng nền kinh tế xanh, giảm phát thải carbon.
Sau gần một tháng neo ở trên 60.000 USD, Bitcoin (BTC) đã thủng mốc tâm lý quan trọng này ngay khi bước sang ngày 25/6 (giờ Việt Nam). Chỉ trong vài chục phút sau đó, tiền số lớn nhất thế giới lùi về sát 59.000 USD một đơn vị.
Mất hơn 3 tiếng sau, BTC mới phục hồi trở lại mốc 60.000 USD. Đến sáng nay, thị giá tiếp tục giằng co quanh khu vực 60.800 USD, thấp hơn cùng kỳ hôm qua khoảng 3%.
Sắc đỏ cũng bao trùm hầu hết thị trường tiền số. Ether, Binance Coin, Solana và XRP ghi nhận mức sụt giá tương tự. Trong khi Dogecoin giảm gần 4%. CoinMarketCap 20 Index - chỉ số đại diện cho 20 token có vốn hóa lớn nhất toàn cầu - điều chỉnh 2,6%.
try{try{for(const iframe of document.querySelectorAll("iframe[data-src]")){iframe.removeAttribute("sandbox");iframe.setAttribute("src",iframe.getAttribute("data-src"));}}catch(e){}}catch(e){console.log("error_replace_script",e);}
Đà giảm của tiền số diễn ra trong bối cảnh cổ phiếu công nghệ phục hồi sau nhịp điều chỉnh nhẹ trước đó, khi làn sóng đầu tư vào trí tuệ nhân tạo (AI) tiếp tục thu hút dòng tiền. Hôm qua, nhà sản xuất chip nhớ Hàn Quốc SK Hynix nộp hồ sơ huy động gần 30 tỷ USD thông qua đợt chào bán cổ phiếu tại Mỹ. Nếu thành công, đây sẽ là đợt huy động vốn lớn nhất của một doanh nghiệp nước ngoài tại Mỹ kể từ thương vụ IPO 26 tỷ USD của Saudi Aramco năm 2019.
Đến giữa phiên giao dịch ngày 24/6, chỉ số Nasdaq tăng 0,8%, trong khi giá Bitcoin giảm 3,2%.
Tỷ phú quản lý quỹ phòng hộ Philippe Laffont cũng tóm lược tâm lý thị trường khi chia sẻ với CNBC rằng ông "đã bắt đầu lo ngại hơn một chút" về triển vọng của Bitcoin. Theo ông, nhà đầu tư hiện có nhiều cơ hội hấp dẫn hơn so với trước đây.
"Tôi không còn biết nên nghĩ gì về Bitcoin nữa", Laffont nói. Ông cho rằng các doanh nghiệp như SpaceX và những công ty AI mới nổi mang đến câu chuyện tăng trưởng dễ đánh giá hơn trong dài hạn, trong khi sự phát triển của stablecoin - token neo giá với một loại tài sản khác như USD - cũng làm giảm tính độc đáo của Bitcoin với vai trò là một tài sản tài chính thay thế.
CoinDesk dẫn nhận định của ông Markus Thielen, nhà sáng lập công ty nghiên cứu thị trường 10x Research, cho rằng Bitcoin có thể còn giảm sâu trước khi tạo đáy của chu kỳ hiện tại. Dự báo này dựa trên việc đồng USD gần đây tăng giá, vốn từ lâu được xem là yếu tố bất lợi đối với BTC.
Quan điểm này càng được củng cố khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) dưới thời tân Chủ tịch Kevin Warsh chuyển sang lập trường chính sách tiền tệ cứng rắn hơn. Thị trường ngày càng cho rằng động thái tiếp theo của Fed có thể là tăng lãi suất thay vì giảm, qua đó hỗ trợ đồng USD và gây áp lực lên các tài sản rủi ro như tiền số.
Tuy nhiên, Thielen không cho rằng xu hướng giảm sẽ kéo dài mãi. Ông chỉ ra 3 chỉ báo gồm xu hướng thanh khoản toàn cầu, các mốc sự kiện kinh tế vĩ mô và yếu tố mùa vụ của Bitcoin đều cho thấy thị trường có thể tạo "đáy" trong giai đoạn từ cuối tháng 8 đến tháng 10.
Một mô hình theo dõi tốc độ thay đổi của thanh khoản toàn cầu - từng xác định đúng thời điểm mua vào hồi tháng 3 và tín hiệu chốt lời trong tháng 4 - hiện cho thấy cuối tháng 8 sẽ là thời điểm quan trọng tiếp theo. Trong khi đó, dữ liệu lịch sử từ các năm trước cũng cho thấy tháng 9 thường là giai đoạn diễn biến kém tích cực của Bitcoin, trước khi giá có xu hướng phục hồi vào tháng 10.
Khoảng thời gian này cũng trùng với hai cuộc họp quan trọng của Fed trong tháng 9 và tháng 10, cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ tại Mỹ, cùng đợt công bố kế hoạch phát hành trái phiếu hàng quý của Bộ Tài chính Mỹ vào đầu tháng 11.
Tổng hợp các yếu tố trên, Thielen dự báo Bitcoin có thể giảm xuống dưới 60.000 USD, thậm chí chạm 55.000 USD, trước khi hình thành vùng "đáy" của chu kỳ hiện tại. "Điều đó có nghĩa là nhà đầu tư nên kiên nhẫn ở thời điểm hiện tại và đặc biệt theo dõi diễn biến từ cuối tháng 8", ông cho biết.