Thủ tướng Campuchia Hun Manet khẳng định coi trọng quan hệ láng giềng hữu nghị và hợp tác toàn diện với Việt Nam. Thủ tướng Lê Minh Hưng, khẳng định Việt Nam sẽ phối hợp chặt chẽ với Thủ tướng Hun Manet đưa quan hệ Việt Nam – Campuchia phát triển ngày càng thực chất và hiệu quả.
Tại cuộc gặp, hai bên nhất trí cho rằng quan hệ hai nước thời gian qua tiếp tục tiến triển thực chất, trao đổi đoàn các cấp diễn ra sôi động.
Hai bên đánh giá cao việc hai bên đã nhất trí những nguyên tắc cơ bản kiểm soát các vấn đề khác biệt trên cơ sở tôn trọng lợi ích chính đáng của nhau; khẳng định hợp tác quốc phòng – an ninh tiếp tục là trụ cột vững chắc; hợp tác kinh tế tiếp tục là điểm sáng, kim ngạch thương mại hai chiều trong quý 1/2026 đạt gần 3,5 tỉ USD, tăng 6,5% so với cùng kỳ năm 2025.
Trên nền tảng những thành tựu đã đạt được, hai bên nhất trí tiếp tục phối hợp chặt chẽ, đẩy mạnh trao đổi đoàn các cấp về giao lưu nhân dân, nghiêm túc triển khai các thỏa thuận và các cơ chế hợp tác.
Hai bên kiên định nguyên tắc không để các thế lực thù địch sử dụng lãnh thổ nước này để gây phương hại đến an ninh, lợi ích của nước kia; coi an ninh chính trị của nước này cũng góp phần giữ vững an ninh, ổn định và phát triển của nước kia; đẩy mạnh hợp tác, ứng phó với các thách thức an ninh phi truyền thống, phối hợp chặt chẽ trong công tác quản lý bảo vệ biên giới, ngăn chặn, đấu tranh phòng chống các loại tội phạm xuyên biên giới.
Hai bên nhất trí thúc đẩy sớm việc thống nhất Đề án “Cơ chế hợp tác kinh tế mới liên kết chặt chẽ hai nền kinh tế” đến năm 2035, tầm nhìn 2050; thúc đẩy nghiên cứu thống nhất phương án kết nối cao tốc TP.HCM – Mộc Bài – Bavet – Phnom Penh… Hai bên nhất trí phối hợp tổ chức các hoạt động chào mừng 60 năm Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam – Campuchia.
Nhấn mạnh tầm quan trọng của việc duy trì đường biên giới hai nước hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển bền vững, hai bên khẳng định tiếp tục xử lý thỏa đáng, kịp thời các vấn đề phát sinh, trong đó có việc phối hợp bảo vệ bền vững môi trường ở khu vực biên giới; thúc đẩy đàm phán, giải quyết khoảng 16% đường biên giới chưa hoàn thành phân giới cắm mốc, phối hợp quản lý biên giới cả trên bộ và trên biển với tinh thần hiểu biết, tôn trọng lẫn nhau và phù hợp luật pháp quốc tế.
Nhân dịp này, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng cảm ơn và đề nghị Campuchia tiếp tục quan tâm, tạo thuận lợi cho cộng đồng người gốc Việt tại Campuchia được sinh sống, lao động, học tập hợp pháp, đóng góp cho phát triển kinh tế – xã hội tại Campuchia và quan hệ hữu nghị giữa hai nước.
Tiếp Chủ tịch Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) Masato Kanda, Thủ tướng Lê Minh Hưng đánh giá cao những đóng góp của ADB đối với sự phát triển của Việt Nam trong nhiều năm qua.
Thủ tướng nhấn mạnh tầm quan trọng của các nguồn viện trợ, vốn vay ưu đãi cho đầu tư phát triển giai đoạn mới và hoan nghênh việc ADB sớm khởi động xây dựng Chiến lược Đối tác quốc gia đoạn 2027 – 2031, qua đó thể hiện cam kết đồng hành cùng Việt Nam trong thực hiện các mục tiêu phát triển.
Thủ tướng đề nghị ADB phối hợp chặt chẽ với Chính phủ Việt Nam để nâng cao hơn nữa hiệu quả hợp tác giữa hai bên, đặc biệt rà soát, tháo gỡ vướng mắc, khó khăn trong thực hiện các dự án, mở rộng các công cụ tài chính linh hoạt, ưu đãi và tăng cường hỗ trợ kỹ thuật và tư vấn chính sách trong xây dựng mô hình phát triển mới, chuyển đổi xanh, chuỗi cung ứng, ứng phó biến đổi khí hậu, hỗ trợ khu vực tư nhân.
Thủ tướng Chính phủ cũng đề nghị ADB thúc đẩy hợp tác ADB – ASEAN, Chương trình hợp tác tiểu vùng Mê Kông mở rộng (GMS), đặc biệt trong lĩnh vực năng lượng, kết nối khu vực.
Chủ tịch ADB Masato Kanda chúc mừng Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng được tín nhiệm bầu làm người đứng đầu Chính phủ và cảm ơn sự ủng hộ của Thủ tướng đối với ngân hàng.
Ông Masato Kanda khẳng định ADB sẽ tiếp tục là đối tác tin cậy của Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới và Chiến lược Đối tác quốc gia 2027 – 2031 sẽ bám sát các chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam. ADB cũng sẽ không ngừng cải tiến các quy trình, thủ tục, phát triển các công cụ tài chính mới để đáp ứng tốt hơn nhu cầu nguồn lực cho Việt Nam và các thành viên.
Tin Gốc: Thanh Niên
Chính Trị
Thủ tướng tuyên dương 124 chiến sĩ tham gia khắc phục hậu quả động đất tại Venezuela

Sau khi tại Venezuela xảy ra trận động đất kép với cường độ mạnh, gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng về người và tài sản, Chính phủ đã cử lực lượng gồm 124 cán bộ, chiến sĩ quân đội và công an, 10 chó nghiệp vụ, cùng trang thiết bị sang Venezuela khắc phục hậu quả thảm họa động đất.
Đoàn đã phối hợp tìm kiếm và bàn giao 57 thi thể nạn nhân cho gia đình và chính quyền địa phương; xác định 46 vị trí bàn giao cho lực lượng tại chỗ của bạn; đã bàn giao 5,6 tấn hàng viện trợ gồm các mặt hàng thiết yếu; đoàn công tác đã dành số tiền công tác phí cùng đóng góp và ủng hộ 15.000 USD; tổ chức khám, phát thuốc cho hơn 132 người dân.
Ghi nhận và tôn vinh những đóng góp xuất sắc của đoàn Việt Nam, phía Venezuela đã trao Huy chương "Anh hùng Venezuela" hạng nhất cho tập thể, Huy chương "Anh hùng Venezuela" hạng nhì cho toàn bộ 124 thành viên; trao Huân chương "Công trạng phục vụ" cho đội chó nghiệp vụ của đoàn.
Sự hiện diện của đoàn Việt Nam cùng các đội cứu hộ quốc tế, như khẳng định của Tổng thống lâm thời Venezuela Delcy Rodríguez, đã mang lại niềm hy vọng to lớn cho người dân sở tại, cho thấy quốc gia Nam Mỹ không đơn độc trong cuộc chiến khắc phục hậu quả thiên tai.
Báo cáo tại lễ tuyên dương, thiếu tướng Phạm Văn Tỵ, Phó cục trưởng Cục Cứu hộ - Cứu nạn (Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam), trưởng đoàn công tác, cho biết, từ ngày 29 - 6.7, đoàn thực hiện cường độ làm việc cao từ 6 giờ đến 19 giờ hằng ngày, có những hôm làm việc xuyên đêm, bất kể thời tiết nắng, mưa.
Các chiến sĩ phải vượt qua khó khăn do chênh lệch múi giờ, không khí, đặc biệt là mùi tử khí nồng nặc do thi thể phân huỷ. "Chúng tôi 3 lần nhận được tín hiệu và thông tin của nước bạn về dấu hiệu sự sống, cả đoàn đã thức trắng đêm trong mưa cùng với lực lượng tại chỗ quyết tâm giành giật lấy sự sống", thiếu tướng Tỵ chia sẻ.
Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng; đại tướng Phan Văn Giang, Phó thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, và các đại biểu tại lễ tuyên dương
Đặc biệt, theo thiếu tướng Phạm Văn Tỵ, các khu vực được lực lượng Việt Nam triển khai tìm kiếm đều là những địa bàn hết sức khó khăn, nguy hiểm, nơi nhiều đoàn cứu hộ quốc tế trước đó chưa thể thực hiện công tác tìm kiếm.
Với tinh thần trách nhiệm cao nhất, các cán bộ, chiến sĩ luôn nỗ lực tìm kiếm bằng được các nạn nhân, kiên định quan điểm "đã phát hiện thì phải đưa ra", dù điều kiện khắc nghiệt đến đâu cũng quyết tâm thực hiện, với sự tận tâm như tìm chính người thân của mình. Có thời điểm, cán bộ, chiến sĩ phải xuống những hầm sâu hàng chục mét giữa đống đổ nát của các tòa nhà cao tầng để tiếp cận hiện trường.
"Chúng tôi vẫn luôn nói với nhau, việc tìm kiếm ở đây cũng như tìm chính người thân của mình. Mỗi lần tìm được một nạn nhân, chứng kiến người thân của họ bật khóc, chúng tôi cũng không cầm được nước mắt. Đó cũng chính là tình cảm mà đất nước và nhân dân Việt Nam dành cho nhân dân nước bạn", thiếu tướng Phạm Văn Tỵ bày tỏ.
Theo ông, từ kinh nghiệm triển khai nhiệm vụ tại Thổ Nhĩ Kỳ và Myanmar, trong chuyến công tác lần này, đoàn đã đưa theo 10 chó nghiệp vụ và tổ chức từ 6 đến 8 mũi tìm kiếm để đồng thời triển khai nhiệm vụ tại nhiều khu vực.
Bên cạnh đó, công tác chuẩn bị trang thiết bị cần được thực hiện chu đáo, chặt chẽ, cụ thể đến từng người, từ sớm, từ trước để chủ động lên đường ngay khi có lệnh. Mặc dù thời gian chuẩn bị rất gấp, song đoàn công tác vẫn chủ động trong mọi mặt công tác.
Một bài học quan trọng khác là phải thường xuyên rèn luyện bản lĩnh, ý chí quyết tâm cho lực lượng chỉ huy và lực lượng cứu hộ, cứu nạn. Đây là yếu tố quyết định đến việc hoàn thành nhiệm vụ của đoàn công tác. Đồng thời, người chỉ huy phải cương quyết, linh hoạt và quyết đoán trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, nhất là tại những khu vực có nguy cơ tiếp tục sập đổ.
Đại tá Phạm Hùng Dương, Phó cục trưởng Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ, Trưởng đoàn công tác Bộ Công an, khẳng định luôn bảo đảm các yêu cầu về an toàn, kỹ thuật, chiến thuật, chế độ thông tin, báo cáo và tuân thủ các quy định khi thực hiện nhiệm vụ ở nước ngoài.
Các thành viên trong đoàn đều thể hiện quyết tâm cao, nỗ lực không ngừng nghỉ, không ngại khó khăn, gian khổ với mong muốn cứu được nhiều nạn nhân nhất có thể. Đồng thời, phát huy tinh thần tương thân tương ái, "lá lành đùm lá rách" của dân tộc Việt Nam.
Khu vực đoàn thực hiện nhiệm vụ là những hiện trường đặc biệt nguy hiểm, với địa hình đổ sập phức tạp của các tòa nhà cao tầng, nhiều cấu kiện vẫn tiềm ẩn nguy cơ sập đổ thứ cấp khi xảy ra dư chấn hoặc có tác động. Các thi thể nạn nhân được đoàn đưa ra khỏi hiện trường đều ở những vị trí hết sức khó tiếp cận.
Trước đó, nhiều đoàn cứu hộ quốc tế đã đến nhưng phải rời đi do việc tiếp tục triển khai cứu nạn, cứu hộ có thể gây nguy hiểm đến tính mạng và sức khỏe của lực lượng làm nhiệm vụ. Điều này khiến người dân địa phương không khỏi bức xúc. Tuy nhiên, họ đã dành nhiều tình cảm và sự trân trọng đối với đoàn công tác Việt Nam vì tinh thần trách nhiệm và sự sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ.
Tin Gốc: Thanh Niên
Chính Trị
Phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại hội nghị sơ kết chính quyền 3 cấp

Thưa các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, lãnh đạo các cấp ủy đảng, lãnh đạo các ban, bộ, ngành Trung ương và các địa phương,
Thưa toàn thể các đồng chí dự hội nghị.
Sau một buổi sáng làm việc khẩn trương, nghiêm túc, dân chủ và trách nhiệm, Hội nghị đã hoàn thành toàn bộ nội dung chương trình đề ra. Các ý kiến phát biểu rất phong phú, sâu sắc, thẳng thắn, cần nghiên cứu, tiếp thu, hoàn thiện tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị và mô hình chính quyền 3 cấp trong giai đoạn tới.
Chúng ta thống nhất cao và khẳng định: chủ trương đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả là hoàn toàn đúng đắn, cần thiết và có ý nghĩa chiến lược đối với sự phát triển đất nước. Đây là cuộc cải cách có phạm vi rất rộng, rất khó, rất quyết liệt, tác động đến hầu hết các cơ quan, các cán bộ, công chức, người lao động trong hệ thống chính trị, từ Trung ương đến cơ sở. Sau một năm, chúng ta đã đi qua giai đoạn sắp xếp tổ chức ban đầu. Nhiệm vụ tiếp theo là chuyển trọng tâm sang nâng cao chất lượng vận hành, năng lực phục vụ và năng lực kiến tạo phát triển của bộ máy mới.
Những kết quả nổi bật đã được thể hiện trong báo cáo khá đầy đủ và chi tiết. Tôi nêu khái quát 5 kết quả lớn như sau:
Thứ nhất, bộ máy của hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương đã được sắp xếp, kiện toàn theo hướng tinh gọn hơn, đồng bộ hơn. Nhiều đầu mối, tầng nấc trung gian được cắt giảm, chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan từng bước được rà soát, điều chỉnh và làm rõ hơn. Việc tổ chức lại các cơ quan Đảng, cơ quan hành pháp, cơ quan dân cử, MTTQ, các tổ chức chính trị - xã hội, các đơn vị sự nghiệp công lập đã được triển khai với quyết tâm chính trị cao, cơ bản bảo đảm tiến độ, yêu cầu đề ra.
Thứ hai, việc hoàn thiện thể chế pháp luật, phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền, cải cách thủ tục hành chính và môi trường kinh doanh, chuyển đổi số và xây dựng cơ sở dữ liệu đã được đẩy mạnh. Nhiều cơ chế mới, quy trình mới, phương thức giao việc, đánh giá kết quả và giám sát mới đang được hình thành.
Thứ ba, việc vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp bước đầu ổn định. Các hoạt động quản lý nhà nước, cung ứng dịch vụ công, giải quyết thủ tục hành chính, bảo đảm an sinh xã hội, quốc phòng, an ninh, hoạt động của các cơ quan tư pháp, và trật tự, an toàn xã hội cơ bản được duy trì liên tục, không để xảy ra khoảng trống trong quản lý. Cấp tỉnh, cấp xã từng bước thích ứng với chức năng, nhiệm vụ và phương thức vận hành mới.
Thứ tư, công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện có nhiều đổi mới. Cấp ủy, chính quyền, cơ quan, đơn vị đã chủ động ban hành quy chế làm việc, quy trình phối hợp, giao ban, phân công trách nhiệm, hỗ trợ cơ sở, giải quyết những vấn đề phát sinh. Công tác sắp xếp, bố trí, đánh giá cán bộ có nhiều đổi mới, chú trọng năng lực, trình độ gắn với vị trí việc làm; quản trị gắn với dữ liệu, tiến độ và kết quả công việc.
Thứ năm, công tác tuyên truyền, quán triệt, giáo dục chính trị, tư tưởng và vận động tạo đồng thuận xã hội được triển khai khá bài bản. Đội ngũ công chức, viên chức, người lao động ảnh hưởng do sắp xếp bộ máy, nhìn chung, tư tưởng ổn định, cán bộ chấp hành sự phân công của tổ chức, Nhân dân đồng thuận và ủng hộ chủ trương lớn của Đảng.
Thay mặt lãnh đạo Đảng và Nhà nước, tôi ghi nhận, biểu dương và đánh giá cao nỗ lực của các cơ quan Đảng, cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, các bộ, ngành, địa phương, lực lượng vũ trang và đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong cả nước. Trong điều kiện công việc rất lớn, thời gian rất gấp, yêu cầu rất cao, các đồng chí đã thể hiện tinh thần trách nhiệm, sự tận tâm, ý thức tổ chức kỷ luật và quyết tâm vượt khó rất đáng trân trọng.
Tuy nhiên, chúng ta không được chủ quan, thỏa mãn. Kết quả đạt được mới là bước đầu. Cuộc cải cách này còn nhiều việc phải tiếp tục thực hiện với quyết tâm cao hơn, cách làm khoa học hơn và tinh thần đổi mới mạnh mẽ hơn.
Hội nghị đã thống nhất nhận diện một số hạn chế, vướng mắc lớn cần tập trung khắc phục. Ở đây tôi chỉ tóm tắt 07 vấn đề lớn:
Thứ nhất, thể chế liên quan đến tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ, phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền, cơ chế vận hành mới ở một số lĩnh vực chưa thật sự đồng bộ. Có nơi nhiệm vụ đã được giao nhưng hướng dẫn chưa kịp thời, có nơi thẩm quyền đã được phân cấp nhưng nguồn lực, nhân lực, công cụ quản lý chưa đi cùng.
Thứ hai, thể chế pháp luật hiện hành còn chưa đồng bộ, thống nhất, nhiều quy định còn chưa rõ ràng, nhất là pháp luật liên quan đến hoạt động của chính quyền địa phương trong một số lĩnh vực như khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo; pháp luật về đất đai, tài nguyên, khoáng sản, tài nguyên rừng, pháp luật về tài chính, ngân sách,… Chức năng, nhiệm vụ, cơ chế phối hợp giữa một số cơ quan trong hệ thống chính trị chưa thật sự rõ ràng, đồng bộ; nhiều trường hợp thẩm quyền chưa tương xứng với nguồn lực được giao và điều kiện thực thi; một số mô hình tổ chức và vận hành sau sắp xếp còn đang trong quá trình hoàn thiện.
Thứ ba, năng lực thực thi ở cơ sở, nhất là cấp xã, chưa theo kịp yêu cầu mới. Khối lượng công việc chuyển xuống cơ sở rất lớn, trong khi cán bộ chuyên sâu về đất đai, quy hoạch, xây dựng, tài chính, đầu tư, công nghệ thông tin, thanh tra, quản lý đô thị, các lĩnh vực phức tạp khác còn thiếu. Nhiều cán bộ phải kiêm nhiệm nhiều việc, chịu áp lực lớn và đối mặt với rủi ro công vụ. (theo đánh giá chỉ có 53% cán bộ cấp tỉnh, 30% cán bộ cấp xã đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ).
Thứ tư, định mức biên chế, tổ chức bộ máy và cơ chế phân bổ nguồn lực ở một số nơi còn mang tính bình quân, chưa phản ánh đầy đủ sự khác biệt rất lớn về quy mô dân số, diện tích, tính chất đô thị, điều kiện miền núi, biên giới, hải đảo, mức độ phát triển và khối lượng công việc thực tế.
Thứ năm, hạ tầng viễn thông, công nghệ thông tin, hạ tầng số còn hạn chế; việc chuyển đổi số còn chậm và chưa thật sự đồng bộ. Dữ liệu chuyên ngành còn phân tán; một số hệ thống phần mềm chưa liên thông, chưa ổn định (trung tâm dữ liệu quốc gia mới kết nối 5/12 cơ sở dữ liệu chiến lược và 60/104 cơ sở dữ liệu chuyên ngành hay cả nước có 106 triệu thửa đất nhưng chỉ có 23,5 triệu thửa đạt tiêu chí "đúng, đủ, sạch, sống", dữ liệu đất đai chưa được chuẩn hóa thì quản lý dựa trên dữ liệu sẽ rất khó khăn); cán bộ cơ sở phải sử dụng nhiều hệ thống, nhiều phần mềm khác nhau, làm giảm hiệu quả vận hành, tăng áp lực xử lý công việc.
Thứ sáu, việc xử lý tài sản công dôi dư, bố trí trụ sở làm việc, chỉnh lý và số hóa hồ sơ, tài liệu lưu trữ còn chậm ở nhiều nơi. Đây vừa là vấn đề trước mắt cần giải quyết, vừa là nguồn lực rất lớn cần được khai thác hiệu quả cho phát triển.
Thứ bảy, sau khi không còn cấp huyện, yêu cầu đổi mới phương thức lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát giữa cấp tỉnh với cấp cơ sở đặt ra nhiều vấn đề mới. Nếu không đổi mới mạnh mẽ phương thức chỉ đạo, dễ dẫn đến hai nguy cơ: hoặc cấp trên không nắm chắc cơ sở, hoặc cấp dưới lại phải xin ý kiến quá nhiều, làm giảm tính chủ động, sáng tạo và trách nhiệm.
Từ những kết quả, hạn chế và yêu cầu thực tiễn đặt ra, tôi đề nghị giai đoạn tới, trọng tâm là nâng cao chất lượng vận hành của mô hình mới, cần tập trung thực hiện tốt 10 nhiệm vụ trọng tâm.
Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện đồng bộ thể chế về pháp luật và tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Phải tiếp tục rà soát, hoàn thiện đồng bộ pháp luật tất cả các lĩnh vực, và văn bản hướng dẫn thi hành, bảo đảm thống rất, rõ ràng, minh bạch, thuận lợi cho tổ chức thực hiện ở cả 3 cấp chính quyền (không để tình trạng luật này thông mà luật kia lại nghẽn). Việc sửa luật phải xuất phát từ điểm nghẽn thực tế. Các cơ quan Trung ương, Chính phủ, các bộ, ngành và địa phương phải tiếp tục rà soát toàn diện các quy định, quy chế, quy trình liên quan đến tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và quan hệ phối hợp giữa các cơ quan trong hệ thống chính trị. Không để chồng chéo, trùng lắp, khoảng trống hoặc tình trạng nhiều cơ quan cùng tham gia nhưng không rõ cơ quan nào chịu trách nhiệm cuối cùng.
Thứ hai, tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị và xã hội . Cấp ủy phải lãnh đạo bằng định hướng chiến lược, bằng thể chế, bằng công tác cán bộ, bằng kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả. Phải bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện của Đảng, nhưng không làm thay, không buông lỏng, không can thiệp hành chính không cần thiết vào chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước, MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội. Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động tổ chức Đảng ở cơ sở, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, xây dựng tổ chức cơ sở đảng thực sự là hạt nhân chính trị, trung tâm đoàn kết, quy tụ, phát huy sức mạnh cán bộ, đảng viên và Nhân dân.
Thứ ba, hoàn thiện mô hình tổ chức và cơ chế vận hành của chính quyền địa phương 2 cấp. Cấp tỉnh tập trung vai trò chiến lược, quy hoạch, điều phối, phân bổ nguồn lực, tổ chức không gian phát triển, kiểm tra, giám sát và liên kết vùng. Cấp xã phải được tổ chức như tuyến đầu của quản trị công: tiếp nhận, xử lý và phản hồi kịp thời nhu cầu của người dân, doanh nghiệp; đồng thời phát hiện sớm các vấn đề về an sinh, trật tự, đất đai, xây dựng, môi trường, dịch vụ công và các rủi ro phát sinh tại địa bàn. Tiếp tục rà soát tổ chức bộ máy, biên chế, cơ chế phân bổ nguồn lực phù hợp quy mô dân số, diện tích, mức độ đô thị hóa, đặc điểm vùng miền và khối lượng công việc, không áp dụng cào bằng. Nghiên cứu mô hình đơn vị hành chính đô thị hạt nhân trong tỉnh, thành phố, có thẩm quyền và công cụ phù hợp để điều phối hạ tầng, dịch vụ công, không gian kinh tế trọng điểm, liên kết vùng và hình thành các cực tăng trưởng mới.
Thứ tư, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với bảo đảm nguồn lực và kiểm soát quyền lực. Đây là yêu cầu rất quan trọng. Phân cấp, phân quyền phải thực chất, phải bảo đảm cấp được giao nhiệm vụ có đủ thẩm quyền, nhân lực, kinh phí, công cụ quản lý để thực hiện. Khắc phục tình trạng giao việc xuống dưới nhưng không giao đủ điều kiện cần thiết. Phân cấp không phải là chuyển gánh nặng xuống cấp dưới mà là chuyển thẩm quyền, nguồn lực, dữ liệu, công cụ thực thi và trách nhiệm một cách rõ ràng, minh bạch, có kiểm soát. Đồng thời, phải tăng cường kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình.
Thứ năm, xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu của mô hình mới. Đây là nhiệm vụ then chốt của then chốt. Coi năng lực thực thi của cấp xã là thước đo kiểm định thành công của mô hình mới. Khẩn trương hoàn thiện vị trí việc làm, đánh giá năng lực, sở trường, kinh nghiệm của cán bộ để bố trí đúng người, đúng việc. Tăng cường cán bộ có năng lực, chuyên môn sâu về cơ sở, nhất là lĩnh vực đất đai, xây dựng, quy hoạch, đầu tư, tài chính, công nghệ thông tin, thanh tra, tư pháp, giáo dục, y tế, quản lý đô thị, v.v… Xây dựng chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cấp xã, luân chuyển, tổ công tác hỗ trợ chuyên môn, hướng dẫn trực tiếp tại cơ sở. Đồng thời, có chính sách tiền lương, phụ cấp, điều kiện làm việc và cơ chế khuyến khích phù hợp để cán bộ yên tâm công tác, nhất là địa bàn khó khăn, miền núi, biên giới, hải đảo.
Thứ sáu, nâng cao chất lượng hạ tầng viễn thông, công nghệ thông tin, hạ tầng số; đẩy mạnh chuyển đổi số trong toàn hệ thống chính trị. Phải coi dữ liệu là tài sản, là nguồn lực, là nền tảng của quản trị hiện đại. Khẩn trương chuẩn hóa, tích hợp, chia sẻ, khai thác dữ liệu, khắc phục tình trạng phần mềm cục bộ, dữ liệu phân tán, cán bộ phải thao tác trên quá nhiều hệ thống. Chuyển đổi số trong mô hình mới là thiết kế lại phương thức điều hành, từ dữ liệu gốc và hồ sơ công việc đến quy trình liên thông, bảng điều hành theo thời gian thực và cơ chế giám sát trách nhiệm. Chuyển đổi số phải nâng cao hiệu suất công việc, giải quyết thủ tục nhanh hơn, chính xác hơn, chi phí thấp hơn, thiết thực hơn với người dân, doanh nghiệp. Phải giảm tối đa việc yêu cầu người dân, doanh nghiệp kê khai lặp lại những thông tin Nhà nước đã có.
Thứ bảy, phát huy mạnh mẽ hơn vai trò của MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội. Sau sắp xếp, MTTQ và các đoàn thể phải thực sự đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, tập trung về cơ sở, cần có cơ chế tiếp nhận, tổng hợp và phản hồi thường xuyên ý kiến của người dân, doanh nghiệp về chất lượng phục vụ của bộ máy mới, coi đây là một kênh giám sát xã hội quan trọng đối với hiệu quả vận hành của chính quyền cơ sở, tăng cường đồng thuận xã hội và khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Thứ tám, xử lý hiệu quả tài sản công, trụ sở và hồ sơ, tài liệu sau sắp xếp. Phải coi đây là nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa lâu dài. Khẩn trương hoàn thiện phương án xử lý từng cơ sở nhà, đất, tài sản công dôi dư. Tài sản còn sử dụng được phải được tận dụng hiệu quả. Tài sản không còn phù hợp cần chuyển đổi công năng, điều chuyển hoặc xử lý minh bạch, đúng quy định; ưu tiên phục vụ giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao, an sinh xã hội và các nhu cầu thiết thực của cộng đồng. Đối với hồ sơ, tài liệu, phải có kế hoạch bảo quản, số hóa và khai thác phù hợp; tuyệt đối không để thất lạc, hư hỏng, lãng phí hoặc ảnh hưởng đến quyền lợi chính đáng của tổ chức, người dân và doanh nghiệp.
Thứ chín, đổi mới mạnh mẽ công tác kiểm tra, giám sát và phương thức chỉ đạo, điều hành. Phải tăng cường nắm tình hình từ cơ sở, kết hợp kiểm tra trực tiếp với giám sát dựa trên dữ liệu, phát hiện sớm, xử lý sớm các vấn đề, không để những khó khăn nhỏ tích tụ thành những vấn đề lớn. Cần xây dựng bộ chỉ số theo dõi vận hành mô hình mới, bao gồm thời gian xử lý thủ tục hành chính, tỷ lệ hồ sơ đúng hạn, mức độ hài lòng của người dân và doanh nghiệp, tỷ lệ công việc cấp xã phải xin ý kiến cấp trên, số lượng vụ việc phát sinh được phát hiện sớm và xử lý sớm. Có cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung khi đã làm đúng thẩm quyền, đúng quy trình, công khai, minh bạch, có căn cứ chuyên môn và không vụ lợi. Đồng thời xử lý nghiêm hành vi lợi dụng đổi mới để vi phạm pháp luật, trục lợi hoặc né tránh trách nhiệm.
Thứ mười, đối với các lĩnh vực liên ngành còn giao thoa, cần khẩn trương rà soát, điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ theo nguyên tắc: một việc phải có một cơ quan chủ trì, một đầu mối chịu trách nhiệm chính; một nguồn dữ liệu dùng chung; một quy trình phối hợp liên thông; đồng thời có cơ chế kiểm tra, giám sát và quy trách nhiệm rõ ràng. Trước mắt, phải tập trung hoàn thiện phương án phân định trách nhiệm, xử lý dứt điểm các quy định chồng chéo, mâu thuẫn hoặc chưa đồng bộ, bảo đảm kế thừa, ổn định, liên tục, không để khoảng trống trong quản lý nhà nước, nhất là ở các lĩnh vực liên quan trực tiếp đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội và đời sống Nhân dân.
Chúng ta tiếp tục đổi mới, hoàn thiện công tác đánh giá cán bộ, phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, trọng dụng người có năng lực nổi trội; trên cơ sở kết quả đánh giá, thực hiện nguyên tắc cán bộ có vào, có ra, có lên, có xuống; xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu quản trị mới, đề cao trách nhiệm người đứng đầu, tăng cường cán bộ cho địa bàn khó khăn, lĩnh vực trọng yếu, quyết tâm thực hiện các mục tiêu đã đề ra.
Các đồng chí thân mến,
Cuộc cải cách tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị là công việc rất lớn, rất khó và phải được tiến hành kiên trì, bài bản, khoa học. Không thể nóng vội, chủ quan, song cũng không thể dừng lại hoặc chần chừ trước những bất cập được thực tiễn chỉ ra.
Tôi đề nghị các cơ quan có liên quan khẩn trương tiếp thu đầy đủ ý kiến của Hội nghị, hoàn thiện báo cáo, dự thảo kết luận và chương trình hành động. Mỗi nhiệm vụ phải rõ nội dung, rõ cơ quan chủ trì, rõ cơ quan phối hợp, rõ thời hạn, rõ nguồn lực, rõ trách nhiệm. Đồng thời, phải rõ chỉ số đánh giá kết quả, rõ cơ chế theo dõi tiến độ và rõ chế độ báo cáo định kỳ để kịp thời tháo gỡ vướng mắc phát sinh. Những việc thuộc thẩm quyền của Trung ương phải được nghiên cứu, quyết định kịp thời. Những việc thuộc trách nhiệm của Chính phủ, các bộ, ngành và địa phương phải được triển khai ngay, không để ách tắc, không để kéo dài, không để cơ sở phải chờ đợi. Những công việc đã được phân cấp cho cấp xã phải được hướng dẫn kịp thời, cụ thể, không để cơ sở phải chờ đợi, lúng túng trong tổ chức thực hiện.
Tinh thần nhất quán là: Tổ chức mới phải tạo ra năng lực mới, cơ chế phân cấp- phân quyền mới phải song hành với trách nhiệm mới, dữ liệu mới phải tạo ra phương thức quản trị mới, và bộ máy mới phải đem lại chất lượng phục vụ mới cho người dân và doanh nghiệp. Tôi tin tưởng rằng mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền 3 cấp sẽ tiếp tục được hoàn thiện, vận hành hiệu quả, góp phần xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại, liêm chính, kiến tạo và phục vụ nhân dân.
Chúc các đồng chí sức khỏe, tiếp tục phát huy tinh thần trách nhiệm, đoàn kết, đổi mới, quyết tâm đưa chủ trương cải cách tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị đi vào chiều sâu, thực chất và hiệu quả hơn nữa.
Xin trân trọng cảm ơn các đồng chí!
Tin Gốc: Thanh Niên

Dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ VN lần thứ XI, nhiệm kỳ 2026 - 2031 nhấn mạnh chỉ khi bám sát cơ sở, địa bàn dân cư, nắm chắc tình hình nhân dân, công tác Mặt trận mới thực sự hiệu quả.
"Gần dân, sát dân" không phải là khẩu hiệu hành chính mà đã trở thành phương thức hành động của Mặt trận các cấp. Điều này thể hiện rõ trong phong trào vận động hiến đất làm đường, chỉnh trang nông thôn mới tại nhiều địa phương của Hà Nội.
Ở Minh Châu, xã đảo duy nhất của Hà Nội, "dân vận khéo" không chỉ là khẩu hiệu, mà là cách giải quyết việc khó bằng phương châm công khai - lắng nghe - thuyết phục - đồng thuận, điển hình là phong trào "xanh thôn, sạch ngõ, đẹp điểm đến". Dân vận khéo còn thể hiện rõ trong việc chấn chỉnh công tác quản lý đất đai, đất công ích, xây dựng nông thôn mới. Đặc biệt, xã đã vận động nhân dân đồng thuận giải phóng mặt bằng mỏ cát phục vụ thi công dự án Cảng hàng không quốc tế Gia Bình.
Với phương châm "dân biết, dân bàn, dân hiểu, dân đồng thuận, dân giám sát", xã tổ chức đối thoại trực tiếp, công khai chủ trương và chính sách bồi thường. Kết quả, 100% hộ dân đồng thuận nhận bồi thường, bàn giao mặt bằng, bảo đảm tiến độ dự án và giữ vững an ninh trật tự. Đồng thời, khi xã có chủ trương mở rộng đường giao thông, xây dựng các khu vui chơi cộng đồng, nhiều hộ dân trên địa bàn đã hiến đất, góp tiền, ngày công lao động với sự đồng thuận cao.
Tại xã Vật Lại, hàng chục hộ dân tự nguyện hiến hàng trăm mét vuông đất, tháo dỡ công trình, tường rào để mở rộng đường giao thông nông thôn. Ở xã Đoài Phương, phong trào hiến đất được lan tỏa nhờ sự kiên trì tuyên truyền, đối thoại trực tiếp của Ban Công tác Mặt trận thôn. Xã Phượng Dực vận động nhân dân hiến đất chỉnh trang ao hồ, xây dựng hạ tầng đồng bộ, hướng tới tiêu chí đô thị văn minh.
Điểm chung ở những địa bàn này là Mặt trận không đứng ngoài vận động mà vào cuộc từ sớm, từ cơ sở. Cán bộ Mặt trận nắm bắt tâm tư, phân tích lợi ích lâu dài, tạo niềm tin rằng mỗi mét đất hiến tặng hôm nay chính là đầu tư cho tương lai con cháu mai sau. Khi người dân hiểu, người dân tin và đồng thuận, việc khó sẽ thành dễ, việc cá nhân sẽ trở thành việc chung, việc của làng, việc của nước. Vai trò "cầu nối" không còn trừu tượng mà hiện diện sinh động trong từng quyết định của mỗi gia đình, từng mét đường được mở rộng, diện mạo xóm làng khang trang, lòng người thêm nhiều niềm vui mới.
Công tác giải phóng mặt bằng dự án đường vành đai 1, đoạn Voi Phục - Hoàng Cầu (Hà Nội) lại là bài kiểm nghiệm vai trò của Mặt trận trong giải quyết những tồn tại cũ kéo dài, những "việc lớn, việc khó" của thủ đô. Đây là dự án trọng điểm, liên quan hàng nghìn hộ dân, đòi hỏi sự đồng thuận cao. Tại P.Giảng Võ, kinh nghiệm được nhấn mạnh là phải công khai, minh bạch, đối thoại nhiều vòng, giải thích cặn kẽ chính sách, lắng nghe từng kiến nghị cụ thể. Mặt trận phường cùng các tổ chức thành viên trực tiếp tham gia tuyên truyền, vận động, giám sát quá trình thực hiện, bảo đảm quyền lợi chính đáng của người dân.
Không chỉ là "người vận động", Mặt trận còn là kênh phản biện, góp ý để chính sách sát thực tế hơn. Khi người dân thấy tiếng nói của mình được lắng nghe, sự hy sinh quyền lợi riêng vì lợi ích chung sẽ trở nên tự giác hơn. Cụm từ "gần dân" là từ khóa được nhắc lại nhiều lần trong dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ VN lần thứ XI. Trong phương hướng hành động giai đoạn 2026 - 2031, dự thảo nhấn mạnh tiếp tục đổi mới toàn diện về tổ chức, nội dung, phương thức hoạt động theo hướng thực chất, hiệu quả, hướng mạnh về cơ sở, gần dân, sát dân, đồng hành cùng nhân dân. Thực hiện tốt phương châm "khi dân cần Mặt trận có, khi dân khó Mặt trận sẵn sàng tham gia", đáp ứng yêu cầu của tình hình mới và lợi ích, nguyện vọng chính đáng của đoàn viên, hội viên và nhân dân.
Tăng cường vai trò chủ trì của MTTQ VN, sự chủ động phối hợp, thống nhất hành động của các tổ chức thành viên, phát huy thế mạnh của từng tổ chức. Thực hành dân chủ; thực hiện tốt chức năng là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng, lắng nghe và phản ánh kịp thời tâm tư, nguyện vọng của nhân dân.
Trong công tác xây dựng bộ máy của MTTQ VN giai đoạn mới, dự thảo yêu cầu phải tinh gọn, thực hiện đúng chức năng, không hành chính hóa, gần dân, gần cơ sở, gần không gian số, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng. Yêu cầu đối với cán bộ Mặt trận và các đoàn thể trong giai đoạn mới cũng được dự thảo nhấn mạnh phải là hạt nhân nòng cốt, giữ "3 gần": gần dân - gần cơ sở - gần không gian số; "5 phải": phải lắng nghe - phải đối thoại - phải làm mẫu - phải chịu trách nhiệm - phải báo cáo kết quả; "4 không": không hình thức - không né tránh - không đùn đẩy - không làm sai chức năng.
Cạnh đó, cần nâng cao năng lực tham mưu, đề xuất đối với cán bộ chuyên trách công tác mặt trận các cấp, nhất là ở T.Ư. Xây dựng đội ngũ cán bộ Mặt trận, các tổ chức thành viên có phong cách, phương thức hoạt động gần dân, sát dân, đồng hành cùng nhân dân, đặc biệt là ở cấp cơ sở.
Vai trò gần dân, sát dân càng được khẳng định trong những thời điểm thiên tai, dịch bệnh. Trong đợt mưa lũ lớn năm 2025, Mặt trận các cấp đã xuyên đêm tiếp nhận, phân loại, vận chuyển hàng hóa, lương thực, thực phẩm tới đồng bào vùng lũ. Nhiều cán bộ, tình nguyện viên thức trắng nhiều ngày để bảo đảm từng chuyến hàng đến đúng nơi, đúng đối tượng và đến sớm nhất với đồng bào vùng thiên tai. Hình ảnh ấy không chỉ là sự tận tâm mà còn là minh chứng cho bản chất "vì dân" của hệ thống Mặt trận. Khi người dân gặp khó khăn, Mặt trận không chờ chỉ đạo mà chủ động kết nối nguồn lực xã hội, phát huy sức mạnh đại đoàn kết để sẻ chia kịp thời.
Không chỉ giải quyết những việc "truyền thống", Mặt trận còn tiên phong trong "việc mới" - chuyển đổi số. Nhiều địa phương trên cả nước đã triển khai chuyển đổi số toàn diện trong công tác tuyên truyền, giám sát, phản biện, tiếp nhận ý kiến nhân dân. Việc xây dựng "Mặt trận số" không đơn thuần là ứng dụng công nghệ, mà là mở rộng không gian tập hợp, phát huy dân chủ, để người dân có thể tham gia góp ý, phản ánh, giám sát thuận tiện hơn. Đây chính là bước đi phù hợp với yêu cầu xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả theo mô hình mới.
Trong bối cảnh cao điểm chuẩn bị công tác bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI, đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, việc ứng dụng công nghệ thông tin giúp công tác hiệp thương, lấy ý kiến cử tri, nắm bắt dư luận được thực hiện công khai, minh bạch, kịp thời hơn. Qua đó, Mặt trận tiếp tục khẳng định vai trò chủ trì hiệp thương, bảo đảm lựa chọn những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân.
Trong các mục tiêu cụ thể của giai đoạn 2026 - 2031 được đặt ra trong dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ VN lần thứ XI, các nhiệm vụ để Mặt trận thực sự gần dân, sát dân, hiểu dân được nêu nổi bật. Cụ thể, hằng năm, 100% Ủy ban MTTQ VN, các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức thành viên các cấp tổ chức "Tháng nghe dân nói". 100% Ủy ban MTTQ VN các cấp và các tổ chức thành viên có báo cáo phản ánh kịp thời tình hình nhân dân và đề xuất giải pháp, hướng giải quyết.
100% Ủy ban MTTQ VN, các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức thành viên triển khai "Cổng Mặt trận số" tiếp nhận kiến nghị 24/7. Phấn đấu 100% xã, phường thiết lập trang mạng xã hội để tương tác trực tiếp với người dân, tiếp nhận phản ánh ý kiến, kiến nghị của nhân dân. Hằng năm, 100% Ủy ban MTTQ VN cấp tỉnh triển khai một mô hình điểm về đối thoại xã hội. Các tổ chức chính trị - xã hội ở mỗi cấp phấn đấu tham mưu, tổ chức ít nhất một hội nghị đối thoại giữa cán bộ đoàn viên, hội viên với cấp ủy, chính quyền cùng cấp.
Phát biểu trước cử tri tỉnh Phú Thọ ngày 6.3 vừa qua, Chủ tịch Ủy ban T.Ư MTTQ VN Bùi Thị Minh Hoài nhấn mạnh trong phạm vi trách nhiệm của mình, Ủy ban sẽ tham mưu cho Đảng, kiến nghị, đề xuất với Quốc hội, Chính phủ, các cơ quan nhà nước ban hành những chủ trương, chính sách cụ thể hóa quan điểm "dân là gốc", "dân là chủ thể", "dân là trung tâm" của công cuộc đổi mới và phát triển đất nước. Mọi chủ trương, chính sách đều phải thực sự xuất phát từ nguyện vọng, quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng và hạnh phúc của nhân dân.
Tin Gốc: Thanh Niên

