Sau giai đoạn bùng nổ 2018-2022, nhu cầu tuyển dụng IT năm 2023 sụt giảm mạnh. Trên nhiều nền tảng, số tin tuyển dụng giảm gần một nửa, các vị trí “fresher” và “junior” (dưới hai năm kinh nghiệm) hẹp lại rõ rệt.
Dù nhu cầu đã phục hồi phần nào trong hai năm qua, giới chuyên gia nhận định thị trường khó quay lại thời hoàng kim. Cửa xin việc của sinh viên mới ra trường đang hẹp hơn, nhất là nhóm chỉ biết code đơn thuần.
“Đó là lý do đại học phải thay đổi chương trình đào tạo để phù hợp với thực tiễn”, PGS. TS Hà Minh Hoàng, Trưởng khoa Khoa học dữ liệu và Trí tuệ nhân tạo, Đại học Kinh tế Quốc dân, nói.
Ưu tiên của nhiều trường hiện là xây dựng nền tảng cốt lõi cho sinh viên.
Theo ông Hoàng, thay vì dạy sinh viên cách dùng công cụ như những “thợ học việc”, chương trình tập trung 20% thời lượng cho tư duy logic và Toán học ứng dụng, cùng 30% kiến thức nền tảng kinh tế, quản trị. Ông Hoàng lý giải bản chất của AI là Toán học, sinh viên hiểu hàm tối ưu, đạo hàm hay ma trận sẽ biết cách tinh chỉnh (fine-tune) và sửa lỗi khi AI sai.
“Chúng tôi đang cố gắng dạy sinh viên cách tư duy logic như một nhà Toán học và giải quyết vấn đề như một chuyên gia kinh tế”, ông Hoàng nói. “Công nghệ có thể lỗi thời sau một đêm, nhưng tư duy logic và khả năng thấu hiểu bản chất vấn đề là ‘tấm vé thông hành’ giúp sinh viên thích nghi với mọi biến động của thị trường”.
Tương tự, tại Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội, TS Bùi Trung Ninh cho biết trường đã điều chỉnh chương trình theo chuẩn ABET (Hội đồng kiểm định chương trình đào tạo kỹ thuật – công nghệ của Mỹ), đối sánh với các đại học hàng đầu thế giới. Trong đó, trường chú trọng kiến thức nền tảng Toán, Lý và tư duy tính toán.
“Chỉ khi nắm chắc nền tảng cốt lõi, sinh viên mới có thể đi xa và bền vững trong công việc”, ông Ninh nói.
Song song, nhiều trường cập nhật và bổ sung môn mới nhằm thích ứng với sự bùng nổ AI.
PGS. TS Nguyễn Văn Vũ, Phó trưởng khoa Công nghệ thông tin, trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia TP HCM, cho biết trường đã đưa thêm nhiều môn liên quan tư duy tính toán, hệ thống, giải quyết vấn đề (Computational Thinking) ngay từ những năm đầu.
Cũng ở đại học này, trường Công nghệ Thông tin cập nhật và tích hợp các môn học liên quan lĩnh vực công nghệ mới như Trí tuệ nhân tạo, Khoa học dữ liệu, An toàn thông tin vào nhiều ngành học, theo PGS TS Nguyễn Tấn Trần Minh Khang, Phó hiệu trưởng phụ trách.
Đồng thời, chương trình có định hướng nghề nghiệp rõ ràng, tăng cường các học phần liên ngành, để sinh viên có thể ứng dụng IT vào nhiều lĩnh vực như tài chính, y tế, nông nghiệp…
Quan sát ở nhiều trường, TS Trịnh Thanh Bình, Trưởng khoa Hệ thống thông tin, Trường Công nghệ thông tin, Đại học Phenikaa, nhìn nhận thay đổi rõ nhất là tích hợp AI vào nhiều học phần, từ lập trình, kiểm thử đến làm dự án. Sinh viên vừa học chuyên môn, vừa được yêu cầu sử dụng AI như công cụ và phải giải thích, kiểm chứng kết quả.
Để chương trình sát thực tiễn hơn, các đại học còn tăng tỷ trọng học phần theo dự án, gắn với bài toán thực tế hoặc doanh nghiệp, theo ông Bình.
Ông Hà Minh Hoàng chung nhận định. Như tại Đại học Kinh tế Quốc dân, tỷ lệ học phần thực hành và làm dự án chuyên ngành ở mức 60-70%.
Còn ông Khang cho biết trường Công nghệ Thông tin chuyển mạnh sang mô hình học tập dựa trên dự án (project-based learning), tăng cường các học phần thực hành, đồ án và bài toán thực tế với sự tham gia của doanh nghiệp.
Để làm được điều này, các trường kết nối, mời doanh nghiệp góp ý, xây dựng chương trình và tham gia vào quá trình giảng dạy. Ví dụ, trường ông Khang hợp tác cùng đào tạo một học phần lập trình game với Tập đoàn VNG. Các trường như trường Đại học Công nghệ, Bách khoa Hà Nội, Công nghiệp Hà Nội cũng có chương trình tương tự.
Ông Khang cho biết trường còn cùng doanh nghiệp mở phòng thí nghiệm, từ đó sinh viên tiếp cận với công nghệ, dữ liệu và bài toán thực tế từ doanh nghiệp, góp phần thu hẹp khoảng cách giữa đào tạo và nhu cầu của thị trường.
Ngoài ra, việc phát triển năng lực toàn diện cho sinh viên được chú trọng hơn. Tại trường Đại học Công nghệ Thông tin, sinh viên được hướng dẫn phát triển khả năng tư duy phản biện, kỹ năng làm việc nhóm, giao tiếp, khả năng tự học và thích ứng nhanh với sự thay đổi của công nghệ.
“Đây là những năng lực cốt lõi mà doanh nghiệp đánh giá cao trong bối cảnh chuyển đổi số”, ông Khang nói.
Ông Phan Mạnh Dần, Giám đốc nhân sự cấp cao tại Rikkeisoft, đánh giá cao các hướng đi này. Ông nhấn mạnh trường đại học cần tiếp tục đào tạo nền tảng cốt lõi cho sinh viên, thay vì chỉ dạy kỹ năng, công cụ – những thứ thay đổi nhanh.
Về phía sinh viên, các nhà trường và doanh nghiệp cho rằng cần nâng cao tinh thần tự học.
Ông Hà Minh Hoàng nhấn mạnh ba trụ cột của một cử nhân xuất sắc, gồm: làm chủ và khai thác AI; khả năng giải quyết vấn đề liên ngành; tư duy thuật toán và nền tảng Toán học vững chắc.
Các kỹ năng “đặc quyền con người” như xây dựng mối quan hệ, làm việc nhóm, lãnh đạo và trí tuệ cảm xúc sẽ là những yếu tố giúp tạo khác biệt trong bối cảnh AI ngày càng phát triển.
“Sinh viên cần liên tục tự học và tái đào tạo, trang bị hiểu biết về đạo đức AI, ngoại ngữ và tư duy toàn cầu để thích nghi với sự biến đổi nhanh của ngành công nghệ”, ông Hoàng nhìn nhận.
“Nếu học lớt phớt, chắc chắn các em sẽ bị thay thế”, ông Bùi Trung Ninh nói thêm.
Dương Tâm – Hằng Lệ
Chị Thu Uyên, có con học lớp 8 tại Hà Nội, cho biết nếu như trước kia học sinh (HS) học thêm tại trường phải đóng 16.000 đồng/tiết học (45 phút) thì nay khi ra trung tâm, gia đình phải đóng 120.000 - 150.000 đồng cho mỗi buổi học 90 phút.
Điều đáng nói là dù mức đóng góp cao hơn nhiều lần nhưng chất lượng thì không khác biệt, vẫn là giáo viên (GV) trong trường nhưng các thầy cô "đổi chéo" cho nhau để đảm bảo đúng quy định không dạy thêm với HS chính khóa. Cơ sở vật chất thì chật hẹp hơn do phải đi thuê mướn nhà dân ở gần trường.
Chị Thu Uyên cho rằng quy định mới của Bộ GD-ĐT thì các trường chỉ được tổ chức dạy thêm miễn phí với HS cuối cấp để phục vụ thi cử, mà con chị mới học lớp 8 nên muốn học thêm trong trường cũng phải chờ sang năm. Tuy nhiên, chị cũng cho biết thực tế mà phụ huynh lớp 9 chia sẻ thì không có gì là "miễn phí" cả, bằng cách này, cách khác phụ huynh vẫn đóng góp cho việc học của con mình, dù trên lớp hay ở trung tâm.
Bình luận của một phụ huynh về chủ đề này trên nhóm mạng xã hội dành cho phụ huynh HS Hà Nội nhận được nhiều "like": "Thực ra cứ như trước vẫn được cả nhà trường, HS và thầy cô mà chẳng phải dấm dúi. Giờ HS ra ngoài học, vẫn thầy cô đó dạy mà còn phải trả tiền nhiều hơn". Cạnh đó là loạt bình luận như: vẫn thu tiền thông qua ban đại diện cha mẹ HS nhưng danh nghĩa thì học miễn phí. Bộ, sở hỏi đến thì là do phụ huynh tự ý, nhà trường không biết…
Dù tự nguyện hay bắt buộc thì không ít phụ huynh đã đăng ký cho con học thêm có đóng phí bằng cách "lách luật" này và thực tế này không riêng ở địa phương nào.
Có phụ huynh ở Thanh Hóa chia sẻ, một phụ huynh khác trong lớp liên lạc với từng người hỏi có muốn cho con học thêm với cô giáo dạy toán trên lớp không, nếu muốn cho con học thì đăng ký với phụ huynh đó trên tinh thần tự nguyện ôn phụ đạo để củng cố kiến thức. Hết tháng, gửi tiền học cho phụ huynh đó để gửi lại GV dạy gọi là "tiền bồi dưỡng" cho GV.
Tại tỉnh Ninh Bình, đầu năm 2026, dư luận cũng xôn xao khi một hiệu phó Trường THCS Ninh Thành (P.Hoa Lư) bị kỷ luật cảnh cáo khi cùng với một GV tự ý đưa HS bên ngoài vào trường dạy thêm ban đêm để thu tiền. Sự việc cho thấy có rất nhiều cách lách luật dạy thêm mà các văn bản quy phạm pháp luật cũng chưa lường hết được.
Năm 2025, sau một thời gian thông tư mới về dạy thêm học thêm (DTHT) được thực thi, trong báo cáo của Ủy ban MTTQ VN, một loạt tỉnh, thành phố cho thấy cử tri và nhân dân đánh giá việc Bộ GD-ĐT ban hành Thông tư số 29 với các quy định cụ thể nhằm quản lý chặt chẽ hoạt động DTHT, tránh tình trạng lạm dụng và tiêu cực trong giáo dục là bước tiến trong việc minh bạch hóa hoạt động DTHT, bảo đảm quyền lợi cho HS và GV, đồng thời giảm áp lực tài chính cho phụ huynh.
Tuy nhiên, nhân dân phản ánh tình trạng phụ huynh tự tổ chức thu tiền dưới danh nghĩa "bồi dưỡng" nhưng không công khai, dẫn đến sự không đồng thuận giữa các phụ huynh trong lớp. Trong khi đó, GV cũng đối mặt với áp lực lớn khi phải bảo đảm chất lượng giảng dạy và ôn tập mà không được thu phí, gây thiếu công bằng và ảnh hưởng đến đời sống của GV.
Một số địa phương gặp khó khăn trong việc giám sát và thực thi quy định, đặc biệt tại các trung tâm dạy thêm ngoài nhà trường. Từ thực tế trên, cử tri đề nghị các cơ quan chức năng, chính quyền địa phương cần có biện pháp giám sát, thanh tra thường xuyên để bảo đảm thực hiện đúng quy định, đồng thời xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm.
Đầu năm 2026, trả lời kiến nghị của cử tri tỉnh Ninh Bình về việc "cho phép tổ chức dạy thêm tại trường để giúp giảm chi phí học thêm cho phụ huynh, hạn chế tình trạng dạy thêm tràn lan bên ngoài, nâng cao chất lượng giáo dục", Bộ GD-ĐT giữ quy định hạn chế đối tượng HS được học thêm trong nhà trường theo Thông tư 29 và không thu tiền của HS, đồng thời khẳng định: "Quan điểm của Bộ GD-ĐT là hướng tới mô hình trường học không có DTHT".
Xung quanh yêu cầu cần quản lý, giám sát tốt hơn việc DTHT, đại diện Bộ GD-ĐT cho rằng: việc thanh tra, kiểm tra hoạt động DTHT được thực hiện theo nguyên tắc công khai, khách quan, đúng thẩm quyền; kịp thời phát hiện, xử lý theo quy định của pháp luật đối với các hành vi vi phạm.
Thông tư 19/2026/TT-BGDĐT có hiệu lực từ 15.5 quy định rõ xử lý nghiêm các trường hợp cố tình vi phạm, tái phạm hoặc có hành vi ép buộc, trục lợi trong hoạt động DTHT.
Tiến sĩ Nguyễn Tùng Lâm, Phó chủ tịch Hội Khoa học tâm lý giáo dục VN, khẳng định dù quản lý còn khó khăn nhưng ông đồng tình với tinh thần Thông tư 29, đó là hướng tới chấm dứt tình trạng DTHT tràn lan trong nhà trường. Tuy nhiên theo ông, hiện nay việc dạy thêm vẫn còn khá phổ biến. Nguyên nhân chính không chỉ vì thi cử, mà là do nhiều HS chưa biết cách học, chưa có khả năng tự học. Khi các em chưa tự học được thì nhu cầu học thêm là có thật, không thể phủ nhận.
Ông Lâm cho rằng Thông tư 19/2026 đã điều chỉnh theo hướng phù hợp hơn với thực tế, không phải là nới lỏng, mà là làm rõ để tổ chức cho đúng. Những HS yếu, chưa biết cách học thì cần được hỗ trợ, được phân loại rõ ràng, không làm tràn lan, không biến thành dạy thêm đại trà. "Tôi cho rằng điểm tích cực là quy định rõ hơn. Khi đã rõ ràng thì việc tổ chức sẽ công khai, minh bạch, đi vào nền nếp hơn", ông Lâm bày tỏ.
Ông Lâm cũng cho rằng hiệu trưởng phải chịu trách nhiệm toàn diện về việc tổ chức DTHT trong nhà trường. Hiệu trưởng xây dựng kế hoạch cho từng khối lớp, từng nhóm đối tượng, không thể làm chung chung. Với HS khá giỏi thì không cần học thêm nhiều, các em phải tự học là chính. GV chỉ cần tổ chức các buổi chữa bài, nêu vấn đề, định hướng; có thể học trực tuyến, không nhất thiết phải đến trường.
Ông Lâm đề xuất 3 vấn đề để thay đổi khi tổ chức DTHT trong nhà trường. Thứ nhất là nhận thức. Phải hiểu dạy thêm là để hỗ trợ HS phát triển, không phải là áp lực, cũng không phải là nguồn thu.
Thứ hai là công tác quản lý trong nhà trường. Hiệu trưởng phải tổ chức khoa học, kiểm tra đầy đủ, bảo đảm đúng quy định và đúng yêu cầu sư phạm.
Thứ ba là sự tham gia của gia đình và xã hội. Không thể chỉ giao cho nhà trường. Phụ huynh phải đồng hành, chính quyền địa phương cũng cần tham gia giám sát một cách khách quan. Khi làm được những điều này thì DTHT sẽ trở về đúng nghĩa là hoạt động hỗ trợ HS, đúng tinh thần gỡ khó cho thầy và tạo thuận lợi cho trò.
Dù vậy, TS Lâm cũng bày tỏ băn khoăn về tính khả thi trong thực hiện quy định không thu tiền dạy thêm. Thực tế, không ít sở GD-ĐT cũng đã từng kiến nghị với Bộ GD-ĐT có hướng dẫn hoặc giải pháp cho vấn đề này, bởi yêu cầu GV dạy miễn phí không thể kéo dài mà chi từ ngân sách địa phương thì không phải địa phương nào cũng thực hiện và thiếu căn cứ pháp lý về tài chính để thực hiện.
Ông Tuấn được giữ chức vụ đến tuổi nghỉ hưu, theo quyết định bổ nhiệm của Bộ Y tế có hiệu lực từ ngày 1/7.
GS. TS Trần Diệp Tuấn, sinh 1967, quê An Giang, là cựu sinh viên chuyên ngành Nhi của Đại học Y Dược TP HCM. Năm 2003, ông bảo vệ luận án tiến sĩ chuyên ngành Khoa học sinh sản, phát triển và lão hóa tại Đại học Tokyo, Nhật Bản. Năm 2025, ông Tuấn hoàn thành nghiên cứu sau tiến sĩ ở Đại học Michigan, Mỹ. Ông được công nhận giáo sư năm 2020.
Trong gần 40 năm làm việc tại trường, ông trải qua nhiều vị trí rồi được bổ nhiệm phó hiệu trưởng năm 2008. 7 năm sau, ông bắt đầu giữ chức hiệu trưởng.
Từ năm 2020, ông đảm nhiệm vị trí Chủ tịch hội đồng trường.
Đại học Y Dược TP HCM là trường đào tạo khối ngành sức khỏe lớn nhất phía Nam, với khoảng 15.000 người học và 1.000 giảng viên, nghiên cứu viên. Ngoài ông Trần Diệp Tuấn, ban giám hiệu trường còn có hai phó hiệu trưởng là PGS. TS Vương Thị Ngọc Lan và PGS. TS Nguyễn Văn Chinh.
Chủ tịch UBND xã Hòa Vang (TP. Đà Nẵng) Lê Phú Nguyện cho biết trước khi ban hành quy định tạm thời về quản lý việc sử dụng điện thoại, mạng xã hội và hỗ trợ chuyển đổi số an toàn đối với học sinh dưới 16 tuổi, áp dụng từ năm học 2026-2027, chính quyền địa phương này đã khảo sát 2.707 phụ huynh ở xã Hòa Vang. Đã có 79,2% cho rằng điện thoại và mạng xã hội ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc học tập, rèn luyện của học sinh; 95,5% đánh giá cần có giải pháp quản lý, hạn chế sử dụng đối với học sinh dưới 16 tuổi.
Theo quy định tạm thời này, nhà trường không cấm tuyệt đối việc sử dụng điện thoại, mạng xã hội mà quản lý về thời gian, nội dung và mục đích sử dụng, bảo đảm phục vụ học tập và sự phát triển toàn diện của học sinh. Cụ thể, học sinh phải nộp lại điện thoại cho giáo viên chủ nhiệm trước giờ học và nhận lại sau khi tan trường. Các em được khuyến khích dành thời gian đọc sách, tham gia hoạt động thể chất và tránh bị lôi kéo vào các hội nhóm bạo lực trên mạng xã hội.
Đại đa số giáo viên, phụ huynh học sinh cho rằng, việc ban hành quy định như trên là cần thiết, tạo thêm cơ sở để nhà trường quản lý học sinh hiệu quả hơn.
PGS-TS Ninh Thị Kim Thoa, Trường ĐH Khoa học xã hội và nhân văn (ĐH Quốc gia TP.HCM), cũng cho rằng, việc áp dụng quy định này sẽ tạo ra môi trường học tập thuần túy. Bên cạnh đó giúp tái kết nối không gian giảng đường và gia đình, góp phần bảo vệ trẻ em trên không gian mạng.
Cũng theo PGS-TS Ninh Thị Kim Thoa, để quy định này đạt hiệu quả cần có sự đồng hành giữa nhà trường, gia đình và xã hội
Dưới góc độ tâm lý học, TS Lê Phương Hoa, giảng viên khoa Tâm lý học, Trường ĐH Thái Nguyên cho rằng, trẻ vị thành niên đang ở giai đoạn khủng hoảng hoán vị bản sắc. Các em cần tương tác thực tế để định hình cái tôi. Việc dùng điện thoại thông minh bất kể thời gian nào sẽ để lại một số hậu quả.
Thứ nhất, đối với học tập: Điện thoại huấn luyện não bộ trẻ quen nhận dopamine (hoocmon hạnh phúc) từ các kích thích ngắn, nhanh (video vài chục giây, thông báo liên tục). Khi quay lại với bài học vốn là kích thích tĩnh và chậm não, trẻ sẽ phản kháng, rơi vào trạng thái chán nản, bứt rứt và mất hoàn toàn khả năng đọc sâu hay tư duy phản biện.
Cơ chế vừa học vừa lướt điện thoại buộc não phải liên tục chuyển đổi trạng thái tập trung. Điều này khiến thông tin thu nạp bị đứt gãy, manh mún, không thể chuyển hóa và lưu trữ vào trí nhớ dài hạn. Dùng điện thoại sát giờ ngủ làm mất chu kỳ ngủ sâu, trẻ thức dậy với bộ não mệt mỏi, giảm 30-40% khả năng tiếp thu bài mới vào ngày hôm sau.
Thứ hai, trẻ bị suy giảm trí tuệ cảm xúc (EQ): Việc giao tiếp qua màn hình điện thoại khiến trẻ bị ngắt kết nối hoàn toàn với các tín hiệu phi ngôn ngữ (ánh mắt, tông giọng, cử chỉ, biểu cảm khuôn mặt). Việc dùng điện thoại vô điều kiện sẽ cướp đi thời gian vui chơi thực tế – nơi trẻ học cách thỏa hiệp, giải quyết xung đột và đồng cảm. Hậu quả là trẻ phát triển một nhân cách thiếu nhạy cảm xã hội, khó thấu cảm với người khác.
Thứ ba, khi liên tục nhìn thấy những hình ảnh hoàn hảo được lọc lựa trên mạng, trẻ dễ rơi vào bẫy so sánh xã hội, dẫn đến lòng tự trọng thấp, bất an về ngoại hình và lo âu kéo dài.
Thứ tư, việc tiếp xúc không kiểm soát với các nội dung độc hại, bạo lực hoặc các hội nhóm kích động trên mạng xã hội dễ khiến trẻ dần bình thường hóa các hành vi bạo lực, coi đó là cách giải quyết xung đột chấp nhận được. Khi những ức chế trên mạng tích tụ (ví dụ: bị bóc phốt, bị cô lập trực tuyến), chúng sẽ dễ dàng chuyển hóa thành bạo lực thể xác tại trường học như một cách để giải tỏa và khẳng định quyền lực.
Còn theo PGS-TS Ninh Thị Kim Thoa, việc sử dụng điện thoại liên tục làm giảm khả năng tập trung, phân tán tư tưởng trong giờ học. Học sinh dễ sa vào việc gian lận, lười suy nghĩ do phụ thuộc vào các công cụ giải bài tập trên mạng, dẫn đến hổng kiến thức căn bản và giảm sút kết quả học tập. Từ đó tác động tiêu cực đến sức khỏe và cuộc sống, lệch lạc về văn hóa và nhận thức…
Các chuyên gia, quản lý giáo dục cho rằng, thời gian tới mô hình của xã Hòa Vang (Đà Nẵng) cần được các cấp có thẩm quyền nghiên cứu, áp dụng, nhân rộng đại trà trên quy mô toàn quốc. Tuy nhiên, đây là vấn đề mới, khó trong bối cảnh các cơ sở pháp lý và hàng rào kỹ thuật bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng vẫn đang tiếp tục được hoàn thiện.
Theo PGS-TS Ninh Thị Kim Thoa, Bộ Giáo dục và Đào tạo cần phối hợp với các ban ngành, địa phương đưa ra một khung quy định chung, mang tính định hướng, làm cơ sở pháp lý cho các tỉnh thành và trường học áp dụng tùy theo đặc thù địa phương.
PGS-TS Ninh Thị Kim Thoa cũng đề nghị cần xây dựng quy trình đồng bộ tại trường học. Theo đó, các trường cần chuẩn bị hạ tầng quản lý (như tủ đựng điện thoại có khóa, đánh số theo số thứ tự học sinh) và quy định rõ ràng trách nhiệm của giáo viên chủ nhiệm trong việc thu - trả điện thoại để tránh thất lạc, hư hỏng…
Tiến hành khảo sát và thí điểm từng bước, không áp đặt cơ học mà cần có giai đoạn khảo sát thực trạng từng vùng miền (đô thị, nông thôn, miền núi). Đồng thời, nên thí điểm tại một số trường học, xã, phường đại diện trước khi nhân rộng ra toàn tỉnh và cả nước.