Theo dự thảo Nghị định hướng dẫn Luật Thuế thu nhập cá nhân, người nộp thuế được giảm trừ chi phí y tế và giáo dục, đào tạo cho bản thân và người phụ thuộc. Mức giảm trừ đề xuất tối đa 23 triệu đồng mỗi năm với chi phí y tế và 24 triệu đồng với giáo dục, đào tạo.
Tuy nhiên, Bản tổng hợp, tiếp thu, giải trình ý kiến góp ý dự thảo cho biết, nhiều đơn vị cho rằng việc quy định một con số cố định có thể nhanh chóng lạc hậu trước biến động của giá cả và chi phí sinh hoạt.
Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam đề xuất xây dựng cơ chế điều chỉnh tự động dựa trên các chỉ tiêu như chỉ số giá tiêu dùng (CPI), mức chi tiêu bình quân hoặc các chỉ số kinh tế vĩ mô khác.
Tương tự, một số địa phương như Huế, Đồng Nai cùng doanh nghiệp tư vấn thuế Deloitte cũng đề nghị không ấn định mức giảm trừ cố định trong nhiều năm. Chẳng hạn, UBND TP Huế cho rằng mức giảm trừ nên được tính theo một tỷ lệ tham chiếu với chỉ số như lương cơ sở hoặc giảm trừ gia cảnh, để bảo đảm phù hợp với biến động giá cả theo thời gian.
UBND Đồng Nai đề nghị có cơ chế điều chỉnh định kỳ theo biến động giá cả và mức sống của người dân. Việc này nhằm bảo đảm tính thực chất của chính sách, tăng khả năng hỗ trợ người nộp thuế, phù hợp với xu hướng quốc tế.
Góp ý cụ thể hơn, Deloitte cho rằng việc ấn định một mức cố định trong Nghị định, trong khi các yếu tố kinh tế – xã hội tác động đến chi phí y tế và giáo dục – đào tạo luôn biến động theo thời gian, có thể làm hạn chế tính linh hoạt của chính sách.
“Thực tế, cơ chế điều chỉnh các mức cố định trong Nghị định thường không theo kịp diễn biến thị trường, dẫn đến nguy cơ không phản ánh sát thực tế khi điều kiện kinh tế – xã hội thay đổi”, hãng tư vấn thuế nêu.
Theo số liệu Điều tra mức sống cư dân, chi tiêu bình quân cho y tế năm 2024 của mỗi người là 3,5 triệu đồng một năm, nội trú 10,2 triệu, giáo dục – đào tạo 9,6 triệu. Bộ Tài chính tính toán hiện mức chi tiêu của một người phụ thuộc và chính bản thân người nộp thuế khoảng 20 triệu đồng mỗi năm cho y tế và 21 triệu đồng cho giáo dục – đào tạo.
Bộ Tài chính cho biết mức giảm trừ y tế tối đa được tính toán gấp 2,3 lần và giáo dục – đào tạo gấp 2,5 lần mức chi tiêu bình quân cho giáo dục – đào tạo của cá nhân trong năm 2024. Theo đó, người nộp thuế có thu nhập trên 28,63 triệu đồng một tháng mới phải nộp thuế với mức thuế suất bắt đầu từ 5%. Quy định này giúp giảm nghĩa vụ thuế cho tất cả người nộp thuế có chi phí y tế, giáo dục – đào tạo. Đồng thời, những người nộp thuế ở các bậc thấp sẽ được giảm với tỷ lệ cao hơn.
Thực tế, đa số ý kiến đồng tình với phương án này của Bộ Tài chính. Nhóm ủng hộ gồm Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, VCCI, Canon Việt Nam cùng nhiều địa phương như Sơn La, Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Ninh, Bắc Ninh, Đà Nẵng, Lâm Đồng, Cà Mau, Lai Châu và Điện Biên.
Các đơn vị cho rằng chi phí khám chữa bệnh, học tập và đào tạo đã tăng đáng kể trong những năm gần đây. Việc nâng mức giảm trừ sẽ phản ánh sát hơn chi phí thực tế của người dân, góp phần giảm gánh nặng thuế và khuyến khích sử dụng hóa đơn điện tử.
Tuy nhiên, có ý kiến đề nghị các mức áp dụng cụ thể cao hơn hoặc thay đổi cách tính phù hợp.
Hiệp hội Thương mại Mỹ tại Việt Nam (AmCham) cho rằng dự thảo đang có sự khác biệt giữa các khoản chi do doanh nghiệp và cá nhân tự chi trả. Theo dự thảo, các khoản chi chăm sóc sức khỏe, điều trị bệnh hiểm nghèo hoặc đào tạo do người sử dụng lao động chi trả cho người lao động được miễn thuế thu nhập cá nhân và không bị khống chế về giá trị hay tần suất chi trả. Trong khi đó, chi phí y tế, giáo dục – đào tạo do chính người nộp thuế hoặc người phụ thuộc chi trả lại chỉ được giảm trừ trong phạm vi nhất định.
Do đó, AmCham đề nghị bỏ quy định về mức giảm trừ tối đa hoặc nâng trần giảm trừ với các khoản chi y tế, giáo dục – đào tạo do người lao động tự chi trả, đặc biệt trong những trường hợp phát sinh chi phí lớn như điều trị bệnh hiểm nghèo.
Liên quan đến chi phí y tế, Hiệp hội Các nhà sản xuất ôtô Việt Nam (VAMA) đề nghị không áp dụng mức trần với người mắc bệnh hiểm nghèo để thể hiện sự chia sẻ của Nhà nước với hoàn cảnh ngặt nghèo nhất. Theo đề xuất này, người nộp thuế được giảm trừ theo chi phí thực tế sau khi đã trừ phần được bảo hiểm y tế chi trả.
VAMA cũng kiến nghị tăng mức giảm trừ giáo dục theo từng cấp học, với mức cao hơn với bậc phổ thông (30-40 triệu đồng) và đại học (50 triệu đồng) để phản ánh chi phí thực tế của các hộ gia đình. Theo Hiệp hội này, học phí đại học hiện theo cơ chế tự chủ rất cao, do đó mức 21 triệu đồng không còn phản ánh đúng thực tế.
Một số ý kiến cũng đặt vấn đề về tính công bằng của mức giảm trừ đang được đề xuất. UBND TP Hải Phòng cho rằng nếu quy định một mức giảm trừ cố định cho chi phí y tế và giáo dục thì người có một người phụ thuộc và người có nhiều người phụ thuộc đều được hưởng mức giảm như nhau.
Cùng quan điểm, Canon Việt Nam đề xuất xây dựng cơ chế giảm trừ theo từng người phụ thuộc thay vì áp dụng mức trần chung cho cả hộ gia đình. Họ cũng cho rằng việc áp dụng mức giảm trừ chi phí y tế, giáo dục cào bằng giữa khu vực đô thị và nông thôn chưa đảm bảo tính thực tế.
Song Bộ Tài chính tiếp tục bảo lưu quan điểm. Theo cơ quan này, mức giảm trừ đề xuất đã được tính toán trong tổng thể chính sách và bảo đảm cân đối giữa mục tiêu hỗ trợ người nộp thuế với khả năng của ngân sách nhà nước.
Theo báo cáo tài chính đã kiểm toán, Công ty TNHH MTV Vàng bạc đá quý Sài Gòn (SJC) có doanh thu gần 14.031 tỷ đồng. Con số này giảm hơn 56% so với năm 2024 và là mức thấp nhất trong 10 năm gần đây.
Tuy nhiên, giá vốn giảm mạnh hơn với mức sụt 58%. Nhờ đó, lợi nhuận gộp được cải thiện 6%, lên gần 742 tỷ đồng. Biên lãi gộp được ghi nhận ở mức 5,29%.
Công ty có hơn 4 tỷ đồng doanh thu tài chính, cải thiện 11% so với cùng kỳ. Khoản này chủ yếu đến từ cổ tức và lợi nhuận được chia.
Nhóm các chi phí thường xuyên trong năm qua có xu hướng được cắt giảm. Chi phí bán hàng sụt 36%, còn chi phí quản lý doanh nghiệp thấp hơn 7% so với cùng kỳ.
Riêng chi phí tài chính ghi nhận hơn 1,3 tỷ đồng, trong khi cùng kỳ được hoàn hơn 27 tỷ nhờ được giảm phần dự phòng tổn thất đầu tư. SJC tốn hơn 1 tỷ đồng trả lãi vay trong năm trước. Họ đang có khoản vay 45,5 tỷ đồng tại MB nhằm phục vụ sản xuất, gia công, kinh doanh vàng trang sức, bạc, đá quý và đồ kim hoàn mỹ nghệ.
SJC báo lãi sau thuế hơn 425,5 tỷ đồng, cao hơn 9% so với cùng kỳ. Trung bình mỗi ngày, công ty lãi hơn một tỷ đồng.
Đây cũng là mức lợi nhuận kỷ lục kể từ khi doanh nghiệp này công bố thông tin vào năm 2014. Con số này vượt xa mục tiêu lãi sau thuế gần 89 tỷ đồng được ban lãnh đạo công ty trình UBND TP HCM - cơ quan đại diện nhà nước sở hữu 100% vốn tại đây.
Tính đến cuối năm trước, công ty có tổng tài sản hơn 2.500 tỷ đồng, cải thiện gần 14%. Trong đó, hơn 2.000 tỷ đồng là hàng tồn kho, chủ yếu là hàng hóa. Kỳ này, SJC không dự phòng giảm giá cho lượng hàng tồn như năm 2024.
Nợ phải trả tăng gần 16% lên hơn 576 tỷ đồng. Chiếm tỷ trọng lớn là thuế và các khoản phải nộp Nhà nước (hơn 278 tỷ đồng), tiền cho quỹ phát triển khoa học và công nghệ (hơn 125 tỷ đồng).
SJC là doanh nghiệp chiếm thị phần vàng miếng lớn nhất cả nước, nhiều năm liền đóng góp hàng chục tỷ đồng cho ngân sách. Họ thuộc nhóm doanh nghiệp nhà nước sẽ nắm giữ từ 50% vốn điều lệ trở xuống hoặc không sở hữu sau cổ phần hóa.
Trước đây, Ngân hàng Nhà nước là đơn vị độc quyền sản xuất vàng miếng. SJC được chọn làm thương hiệu vàng miếng quốc gia. Tuy nhiên, Nghị định 232 có hiệu lực từ tháng 10/2025 đã xóa bỏ cơ chế này. Các đơn vị được sản xuất vàng miếng khi đáp ứng đủ điều kiện quy định. Ngân hàng Nhà nước sẽ cấp phép nhập khẩu vàng nguyên liệu cho các ngân hàng và doanh nghiệp.
Từ 1/5, Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) mất đi một trong những thành viên lớn nhất là Các tiểu vương quốc Arab thống nhất (UAE). Đây là nhà sản xuất dầu thô lớn thứ ba của khối, sau Arab Saudi và Iraq, chiếm khoảng 4% thị phần toàn cầu.
Giới chuyên gia đánh giá tác động từ việc UAE rời OPEC chưa xuất hiện, do eo biển Hormuz vẫn đóng, làm nguồn cung toàn cầu gián đoạn khoảng 10-12 triệu thùng dầu thô mỗi ngày. Tuy nhiên, khi xung đột Trung Đông chấm dứt, không loại trừ cuộc chiến giá dầu sẽ bùng nổ ở vùng Vịnh.
"Một cuộc chiến mới có thể nổ ra trên thị trường dầu mỏ quốc tế, dẫn đến biến động lớn hơn trong những năm tới", tờ The Guardian bình luận.
Theo ông Michael Tamvakis, Giáo sư về hàng hóa tại Trường Kinh doanh Bayes ở London (Anh), khi dầu được vận chuyển trở lại qua eo biển Hormuz, thị trường sẽ xuất hiện cuộc đua nhằm tối đa hóa sản lượng xuất khẩu để duy trì doanh thu.
OPEC từng giới hạn sản lượng dầu của UAE ở mức 3,2 triệu thùng, trong khi thực tế Abu Dhabi có khả năng sản xuất gần 5 triệu thùng mỗi ngày. Do đó, việc rời khỏi liên minh cho phép họ tăng sản lượng dễ dàng.
Theo ông Michael, Arab Saudi có thể "phản ứng mạnh mẽ" do động thái này đe dọa quyền lợi của họ với tư cách nhà dẫn dắt OPEC. Riyadh được dự báo đẩy mạnh chào bán dầu cho khách châu Á với mức chiết khấu hấp dẫn hơn, đồng thời cạnh tranh trực tiếp để giành lại thị phần sản phẩm lọc dầu tại châu Âu từ UAE.
Arab Saudi và UAE đều có chi phí sản xuất dầu thấp nhất thế giới và nhu cầu thu ngân sách cấp thiết, nhằm chuẩn bị cho nền kinh tế ít carbon hơn trong tương lai. Arab Saudi xuất khẩu dầu nhiều nhất thế giới, nhưng UAE cũng là đối thủ đáng gờm.
Đòn bẩy của UAE là công suất dự phòng còn lớn và khả năng chấp nhận giá dầu thấp nhờ cơ cấu kinh tế đa dạng. Nhà sản xuất này từng giữ sản lượng dưới 3 triệu thùng mỗi ngày trong năm 2024 theo yêu cầu của OPEC, nhưng có thể tăng lên mức 4,5 đến 6 triệu thùng mỗi ngày khi eo Hormuz mở lại.
Ông David Oxley, chuyên gia kinh tế trưởng về khí hậu và hàng hóa tại Capital Economics, nói UAE đang "rất muốn bơm thêm dầu", sau khi đầu tư mạnh vào việc mở rộng cơ sở hạ tầng sản xuất những năm gần đây.
Dieter Helm, Giáo sư chính sách kinh tế tại Đại học Oxford, so sánh cuộc chiến giá sắp tới với các cú sụp đổ thị trường dầu mỏ vào những năm 1980 và 2014. Ông nhận định giá dầu có khả năng sẽ "giảm nhanh và sâu hơn khi chiến tranh kết thúc".
Nhưng cuộc chiến giá thời hậu chiến không phải là câu chuyện tay đôi giữa hai cường quốc dầu mỏ Trung Đông. Trong lúc xung đột khiến nguồn cung của các quốc gia vùng Vịnh thắt chặt, nhà cung ứng khác đang tận dụng thời cơ.
Theo giới phân tích, thời gian đạt thỏa thuận hòa bình càng kéo dài, cơ hội cho Mỹ, Brazil và Guyana tăng thị phần dầu toàn cầu càng lớn. Đồng thời, cú sốc nguồn cung khiến các nền kinh tế tăng tốc giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch, góp phần thúc đẩy thị trường dầu bước vào giai đoạn suy giảm sớm hơn.
Do đó, viễn cảnh xuất hiện nhiều nguồn cung mới trong một thế giới ngày càng tiêu thụ ít dầu buộc các nhà sản xuất Trung Đông phải hành động. Họ có khả năng sẽ bơm càng nhiều dầu càng tốt để có ngân sách phục hồi hậu chiến và giành lại vị thế thị trường, khiến giá thấp hơn trong dài hạn.
Kịch bản này đi ngược hoàn toàn với mục tiêu của OPEC, tổ chức được thành lập năm 1960 bởi 5 nhà sản xuất dầu lớn nhất thế giới vào thời điểm đó, gồm Arab Saudi, Iran, Iraq, Kuwait và Venezuela.
OPEC từng nhiều lần dùng chiến lược tăng, giảm sản lượng để bình ổn giá, điển hình là việc cắt giảm nguồn cung chống lại cú sốc dầu đá phiến năm 2014 hay khủng hoảng Covid-19 năm 2020.
Để củng cố thêm quyền lực, tổ chức này phát triển cơ chế hợp tác OPEC và các đồng minh, gọi là OPEC+ vào 2016, với thành viên chủ chốt gồm Nga. Nhờ đó, tổng sản lượng dầu thô của nhóm liên minh này chiếm gần 42% toàn cầu.
Nhưng nội bộ OPEC và OPEC+ không phải lúc nào cũng đạt được thống nhất. Năm 2020, khi Covid bùng phát, Nga từ chối giảm sản lượng khiến giá dầu rơi xuống mức thấp nhất 20 năm. Arab Saudi phát động một cuộc chiến giá ngắn hạn để đáp trả, dẫn đến thỏa thuận cắt giảm 10% nguồn cung toàn cầu.
Bản thân OPEC cũng từng có 16 quốc gia thành viên vào thời kỳ đỉnh cao, nhưng chỉ còn 11, sau khi Ecuador, Indonesia, Qatar, Angola và gần nhất là UAE rời đi. Trong tương lai, các chuyên gia cho rằng nếu UAE rời OPEC dẫn đến các thành viên khác cũng bỏ nhóm, khả năng cạnh tranh về giá còn tăng và sức ảnh hưởng của liên minh này thêm lung lay.
"Mất đi một thành viên cốt lõi ở vùng Vịnh làm suy yếu uy tín của OPEC. Nếu các nước còn lại không thể bù đắp sản lượng của UAE bằng kỷ luật tập thể, việc kiểm soát giá có thể trở nên khó khăn hơn", Kim Fustier, nhà phân tích cấp cao tại HSBC Investment, nhận định.
Khánh Hòa đang định hướng trở thành trung tâm du lịch quốc tế, trong đó xác định thị trường du lịch Halal là một trong những thị trường tốt cần khai thác.
Trao đổi với Báo điện tử Tuổi Trẻ, bà Nguyễn Phương Trà - Vụ trưởng Vụ Trung Đông - châu Phi, Bộ Ngoại giao - nhận định Khánh Hòa là điểm đến lý tưởng của du khách Hồi giáo.
Theo bà Trà, để thu hút thị trường khách Hồi giáo, ngành du lịch Khánh Hòa cần chú trọng tiêu chuẩn của Halal.
Đó là phải có chu trình khép kín, thân thiện với người Hồi giáo, đồng thời cam kết tạo được niềm tin đối với những dòng khách này.
"Mức chi tiêu của du khách Hồi giáo rất cao, nếu Khánh Hòa thu hút thành công thì thị trường khách này sẽ đóng góp rất lớn vào tăng trưởng du lịch của tỉnh" - bà Trà nhận định.
Còn ông Đoàn Hải Quân - Giám đốc Vietravel chi nhánh Khánh Hòa - cho rằng dòng khách Hồi giáo không còn là phân khúc nhỏ, mà đang trở thành dòng khách chiến lược, có mức chi tiêu ổn định, khả năng lan tỏa mạnh thông qua cộng đồng, mạng xã hội.
Theo ông Quân, thay vì chỉ vận động một số nhà hàng làm chứng nhận Halal, cần chuyển sang tư duy "Halal - ready destination" - tức điểm đến sẵn sàng đón khách Hồi giáo ở toàn bộ hành trình từ lúc tìm kiếm thông tin, đặt tour, nhập cảnh, di chuyển, lưu trú, ăn uống, tham quan, mua sắm... đến khi rời Việt Nam và chia sẻ trải nghiệm.
Các địa phương có lợi thế hàng không, nghỉ dưỡng và dịch vụ quốc tế như Khánh Hòa nên được lựa chọn làm trung tâm điều phối du lịch Halal.
Cũng theo ông, Việt Nam có thể phát triển các món đặc trưng theo phiên bản Halal như phở bò Halal, bún bò Halal, mục tiêu không phải "quốc tế hóa" đến mức làm mất bản sắc Việt mà làm cho ẩm thực Việt trở nên phù hợp hơn với du khách Hồi giáo.
Ông Nguyễn Huy Toàn - Giám đốc truyền thông Công ty cổ phần Halal Hub Việt Nam - cho rằng du lịch Halal rất tiềm năng, góp phần đa dạng hóa dòng khách và giảm sự phụ thuộc vào một số thị trường truyền thống.
Theo ông Toàn, các đơn vị về du lịch - dịch vụ Việt Nam vẫn chưa biết và hiểu nhiều về du lịch Halal. Do vậy khi tiếp cận, nhiều doanh nghiệp dịch vụ chưa thực sự cởi mở với thị trường khách này.
"Tuy nhiên nếu đáp ứng được các tiêu chuẩn Halal và tạo dựng niềm tin, Khánh Hòa sẽ trở thành điểm đến lý tưởng, không chỉ thu hút khách du lịch mà còn kéo theo làn sóng đầu tư từ các nước Hồi giáo, các quốc gia vùng Vịnh", ông Toàn nói.
Về mức độ sẵn sàng đón du lịch Hồi giáo, bà Nguyễn Thị Uyên Chi - Chi hội phó Chi hội Khách sạn Khánh Hòa - cho hay các khách sạn ở Nha Trang đang từng bước chuẩn hóa để đáp ứng tiêu chuẩn của du khách Hồi giáo, đồng thời đã xây dựng nhiều chương trình ưu đãi đối với tệp khách này.