Tôi năm nay gần 50 tuổi. Đọc những tranh luận về chuyện đám cưới hiện đại hay truyền thống, chuyện có nên tổ chức gọn nhẹ chỉ với vài người thân thiết hay không, tôi thấy nhiều ý kiến rất thú vị. Nhưng từ trải nghiệm của bản thân, tôi nghĩ rằng trước khi bàn đến việc nên làm đám cưới thế nào, cần hiểu rõ bản chất của đám cưới trong văn hóa Việt Nam là gì?
Theo tôi, cưới xin từ trước đến nay vốn không đơn thuần là chuyện của riêng hai người yêu nhau. Nó là một thủ tục mang tính lễ nghĩa, gia đình và cộng đồng rất rõ rệt. Từ ngày xưa đã vậy. Ăn hỏi, xin dâu, ra mắt gia tiên, thưa gửi hai bên gia đình, thông báo họ hàng, làng xóm… tất cả đều là những phần gắn với lễ nghĩa và truyền thống. Vì thế, nếu đã quyết định tổ chức đám cưới theo cách quen thuộc của người Việt thì cũng cần xác định trước rằng sẽ có những phần không thể bỏ qua, để khỏi đặt ra những kỳ vọng không thực tế rồi lại thất vọng.
Một đám cưới ở nước ta gần như luôn có phần lễ, phần nghĩa và cả yếu tố tâm linh. Đó là chuyện thưa kính tổ tiên, ra mắt họ hàng, nhận dâu nhận rể giữa hai gia đình. Khi đã có những phần ấy thì rất khó tổ chức theo kiểu chỉ vài người thân thiết như nhiều đám cưới phương Tây.
Đã có họ hàng thì sẽ có xóm giềng. Đã có xóm giềng thì bạn bè, đồng nghiệp cũng biết và tham dự. Khi khách mời không còn giới hạn trong vài người thân nhất, việc tổ chức cũng phải tính đến sự tươm tất, chu đáo đối với khách khứa. Nếu gia đình có điều kiện kinh tế khá giả, quen biết nhiều người hoặc có vị trí xã hội nhất định thì việc tổ chức quá sơ sài đôi khi lại không phù hợp với bối cảnh các mối quan hệ của họ. Một chuyện kéo theo rất nhiều chuyện khác. Cái này thường dẫn dắt sang cái kia.
>> Đám cưới 400 khách khiến tôi giống nhân viên phục vụ hơn cô dâu
Tôi thấy nhiều người động viên các bạn trẻ mạnh dạn thay đổi, chỉ mời vài người thân quen là đủ. Ý tưởng đó nghe rất hợp lý nếu nhìn từ góc độ cá nhân của cô dâu chú rể. Nhưng nếu vậy thì phần lễ nghĩa sẽ được đặt ở đâu? Nếu vẫn muốn có cha mẹ, họ hàng tham gia đầy đủ thì khó tránh khỏi những nghi thức truyền thống nhất định. Không thể vừa muốn giữ nguyên vai trò của gia đình, dòng họ trong đám cưới, vừa mong mọi thứ diễn ra theo kiểu hoàn toàn tối giản như trên phim ảnh.
Theo tôi, nếu muốn có một đám cưới thật hiện đại, riêng tư và chỉ dành cho những người thân thiết nhất thì có lẽ cách khả thi nhất là tổ chức thêm một buổi tiệc riêng theo mong muốn của cô dâu, chú rể. Nhưng như vậy lại phát sinh thêm thời gian, công sức và chi phí.
Điều tôi nhận thấy là người trẻ thường đặt mình ở vị trí trung tâm của câu chuyện nên dễ cảm thấy không hài lòng khi mọi thứ không diễn ra đúng như mong muốn. Họ thường nghĩ đám cưới là ngày của mình nên mọi thứ phải được quyết định theo ý mình. Nhưng khi có tuổi hơn và trải nghiệm nhiều hơn, tôi nhận ra rằng bản thân mình cũng chỉ là một phần trong cuộc sống, và đám cưới cũng vậy.
Cô dâu, chú rể chắc chắn là nhân vật quan trọng nhất của ngày cưới, nhưng không phải là tất cả của đám cưới đó. Đám cưới còn là câu chuyện của cha mẹ, họ hàng, các mối quan hệ xã hội và những giá trị văn hóa được duy trì qua nhiều thế hệ.
Có một điều tôi thấy khá thú vị, đó là nhiều bạn trẻ khi nói về đám cưới của mình thường khẳng định chỉ muốn mời gia đình, họ hàng và bạn bè thân thiết. Họ cho rằng cách làm của cha mẹ là quá nặng nề về quan hệ xã hội, quá nhiều khách không quen biết. Nhưng nếu nhìn kỹ hơn, tôi thấy quan điểm của họ thực ra không khác cha mẹ mình là mấy.
Lý do rất đơn giản. Khi còn trẻ, số lượng các mối quan hệ liên quan đến công việc, làm ăn hay lợi ích xã hội chưa nhiều. Vì vậy, phần lớn khách mời của họ sẽ được gọi chung là “bạn bè thân thiết”. Trong nhóm đó có bạn học cũ, bạn cùng hội nhóm, bạn đồng nghiệp, những người thường xuyên giao lưu. Nếu sau này phát sinh thêm các mối quan hệ mang lại lợi ích trong cuộc sống hay công việc, tôi tin rằng nhiều người cũng sẽ đưa họ vào danh sách khách mời.
Đến tuổi của cha mẹ, số bạn bè vui chơi thuần túy thường giảm dần. Thay vào đó là đồng nghiệp, đối tác, người quen trong công việc và các mối quan hệ xã hội khác. Thành phần khách mời có thay đổi, nhưng về bản chất vẫn là những người có ý nghĩa đối với cuộc sống của họ.
Nói cách khác, người trẻ và cha mẹ nhiều khi chỉ khác nhau ở cơ cấu các mối quan hệ chứ không khác nhau nhiều về bản chất. Không ít người trẻ không nhận ra mình đang đứng trên cùng một hệ quy chiếu với cha mẹ, nhưng lại cho rằng cha mẹ là người quá coi trọng hình thức hoặc quá đặt nặng quan hệ xã hội.
Với tôi, đám cưới không có công thức đúng tuyệt đối. Mỗi gia đình sẽ có cách lựa chọn khác nhau. Nhưng nếu đã hiểu rằng đám cưới Việt Nam từ lâu không chỉ là chuyện của hai người, mà còn là câu chuyện của gia đình và các mối quan hệ xung quanh, có lẽ chúng ta sẽ bớt thất vọng hơn khi thực tế không hoàn toàn giống những gì mình từng hình dung.
"Việc thu phí ôtô vào nội đô là tất yếu để hạn chế sử dụng phương tiện cá nhân, giúp bớt tắc đường và giảm ô nhiễm. Hiện nay, rất nhiều tuyến cao tốc và quốc lộ đổ về Hà Nội như (cao Tốc Hà Nội - Hải phòng, Hà Nội- Thái Nguyên, Hà Nội - Bắc Giang - Lạng Sơn, Hà Nội - Hòa Bình, Hà Nội - Pháp Vân - Cầu Giẽ, Hà Nội - Lào Cai, quốc lộ 6, quốc lộ 32, quốc lộ 1A...). Khi xe đi qua địa phận Hà Nội nếu đi qua đường vành đai 3.5, vành đai 4 (khi các con đường làm xong) thì vừa xa và vừa gặp trạm thu phí.
Nhưng nếu xe qua địa phận Hà Nội mà đi xuyên qua nội đô sẽ đỡ được nhiều đường và không mất phí. Nên việc tắc đường là đương nhiên vì ngoài xe của những người dân sinh sống ở nội đô, xe của người đi làm từ ngoài vào hàng ngày còn có xe đi qua địa phận Hà Nội theo cách đi xuyên qua nội đô.
Vì vậy, cần thu phí ôtô vào nội đô mới có kinh phí để sau này trả cho các nhà đầu tư để làm hầm hai tầng, ba tầng đi xuyên qua nội đô. Tiền trả cho nhà đầu tư về xây hầm như vậy là phí ôtô vào nội đô, phí thoát nước, phí đỗ xe. Không thu phí ôtô vào nội đô thì không thể phát triển được các đường hầm đi xuyên nội đô và các đường vành đai vùng thủ đô không phát huy được tác dụng. Việc này là cần thiết để có kinh phí chi trả cho phát triển phương tiện công cộng".
Đó là quan điểm của độc giả Ngandkkd khi Hà Nội dự kiến thu phí đối với phương tiện cơ giới đường bộ lưu thông vào nội đô nhằm góp phần giảm ùn tắc và ô nhiễm môi trường cụ thể như sau: khu vực trong vành đai 1 thực hiện từ ngày 1/1/2028; trong vành đai 2 từ ngày 1/1/2030 và trong vành đai 3 từ ngày 1/1/2032. Đây được xem là giải pháp cần thiết nhằm điều tiết nhu cầu sử dụng phương tiện cá nhân, góp phần giảm lưu lượng giao thông và khuyến khích sử dụng phương tiện công cộng.
Đồng tình với đề án thu phí phương tiện vào nội đô, bạn đọc Giainhan nhấn mạnh: "Ô nhiễm không khí tại Hà Nội đã đến mức báo động, không thể chần chừ được nữa. Thay vì chỉ thu phí, thành phố nên mạnh tay áp dụng lệnh cấm phương tiện chạy xăng đi vào khu vực phố cổ hoặc các tuyến đường lõi trong khung giờ cao điểm. Kinh nghiệm từ các nước cho thấy, muốn nhanh thì phải mạnh. Chỉ cần cấm xe xăng là hiệu quả cải thiện chất lượng sống sẽ thấy rõ ngay tức thì".
>> Nên kiểm định khí thải xe máy sản xuất từ 5, 10 hay 15 năm?
Trong khi đó, cho rằng việc thu phí phương tiện vào nội đô cần đi kèm nhiều giải pháp đồng bộ, độc giả Sông Đông bình luận: "Thu phí cũng được, nhưng phải đi kèm hệ thống giao thông công cộng thuận tiện và có thể miễn phí cho người dân đi lại".
"Song song với việc thu phí để hạn chế xe cá nhân, thành phố cần phải đầu tư đồng bộ và mạnh mẽ hơn nữa vào hệ thống giao thông công cộng để người dân có phương án thay thế", bạn đọc Yyuya nói thêm.
Lo ngại lộ trình thu phí phương tiện vào nội đô quá gấp gáp, độc giả Hà Khang phân tích: "Cần có giải pháp đồng bộ cho cả thành phố. Nếu thu phí hoặc cấm xe cơ giới vào Vành đai 1, Vành đai 2 thì áp lực sẽ dồn lên khu vực xung quanh. Về bản chất khu vực đó vẫn thuộc Thủ đô và ô nhiễm, khói bụi, tắc đường vẫn diễn ra".
Bạn đọc Longnt đặt câu hỏi: "Lộ trình mở rộng thu phí từ Vành đai 1 (năm 2028) ra Vành đai 2 (năm 2030) chỉ vỏn vẹn hai năm liệu có quá gấp và thiếu tính khả thi về mặt hạ tầng? Khi siết Vành đai 1, áp lực giao thông tĩnh sẽ dồn vào rìa vành đai này, buộc phải xây các bãi xe trung chuyển lớn. Nếu chỉ hai năm sau đã đẩy vùng thu phí ra Vành đai 2, các bãi xe Vành đai 1 chưa kịp khấu hao, vận hành sẽ bị lãng phí, trong khi quy mô phương tiện ở Vành đai 2 lớn gấp nhiều lần đòi hỏi thời gian chuẩn bị hạ tầng khổng lồ hơn.
Theo tôi, thành phố nên giãn khoảng cách giữa hai giai đoạn này ra ít nhất 5-7 năm để hạ tầng Vành đai 1 kịp thích ứng, tối ưu hóa đầu tư, và chờ hệ thống Metro hoàn thiện để đón dòng người trung chuyển".
Đợt rồi thời tiết nóng bức, tôi thấy một đồng nghiệp đăng bán bó rau mát trên trang cá nhân mạng xã hội, tôi đặt mua hai bó giá 50 nghìn đồng định đem về nói vợ nấu nước để trong tủ lạnh uống dần.
Mát đâu chưa thấy, vừa đem về vợ tôi nói ngay: "Một bó y chang vầy ngoài chợ bán có 12 nghìn mà sao anh mua 25 nghìn, mua của người quen không rẻ hơn thì cũng lệch vài ba ngàn thôi chứ".
Rồi tôi nhớ lại có lần cô bạn tôi kể một người bạn cấp ba, bây giờ về quê chồng gần Đà Lạt ở, cứ vài ba ngày lại đăng lên "vườn còn ít dâu ai ăn nhắn mình liền nha", nhưng thật ra nhà cô ấy đâu có vườn, cô ấy mua dâu ở vườn khác rồi bán lại, đương nhiên là với giá cao hơn.
Ở công ty tôi cũng có mấy trường hợp block Facebook, không nhìn mặt nhau, cũng chỉ vì mua bán "hàng nhà làm", "đồ ở quê gửi lên". Thôi thì cứ mua bán sòng phẳng, nói thẳng ra là bớt mua hàng của người quen để khỏi mích lòng.
Từ trước đến giờ, tôi hay mua đồ của người quen, đồng nghiệp bán như một cách ủng hộ họ. Nào là trái cây, rau củ, bánh ngọt, đồ ăn vặt... Mua rồi mới thấy có nhiều thứ lặt vặt nảy sinh trong quá trình "chốt đơn" và nhận hàng.
Là người quen nên họ thường chủ động ship cho tôi hoặc hẹn lên công ty nhận. Một số trường hợp không nói rõ giờ giao, phải chờ đợi hỏi đi hỏi lại mà đâu phải họ xem tin nhắn liền. Đã vậy còn không chịu nhắn số tài khoản đểtôi chuyển tiền trả.
Đã buôn bán thì nên chuyên nghiệp, không nên trì hoãn chuyện tiền nong, cộng dồn...
Tôi thích kiểu buôn bán nhanh gọn, họ tính luôn tiền ship tôi càng thấy khỏe vì đỡ cảm giác áy náy vì họ nói "Chỗ quen nên không tính ship" hoặc "Tôi sẽ đi giao cho bạn".
Quan trọng nhất, chất lượng món đồ họ bán không tương xứng nên dần dần tôi không mua nữa. Mà không mua thì họ lại không vui.
Ngày càng có nhiều người kiếm thêm thu nhập bằng cách bán hàng trên mạng, mà tệp khách hàng mà họ nhắm đến là người quen, bạn bè, đồng nghiệp.
Việc buôn bán thêm này cũng tốt, khi họ dành thời gian rảnh rỗi để kinh doanh, hoặc tìm đầu ra cho hàng hóa ở quê. Tôi nghĩ đây là việc tốt cho đôi bên, tuy nhiên, như những trường hợp đã kể ở trên cũng gây rắc rối không ít. Chính vì vậy tôi chia sẻ bài viết này với hy vọng như những lời góp ý, đôi bên cùng tránh để giữ hòa khí và vui vẻ.
"Câu chuyện 'tăng hay giảm tuổi nghỉ hưu?' đang được nhắc đến nhiều trong thời gian qua. Nhưng theo tôi, đó chưa phải là gốc rễ của vấn đề hưu trí hiện nay. Điều quan trọng hơn cả là cách doanh nghiệp đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động như thế nào?
Tôi làm việc trong doanh nghiệp và chứng kiến một thực tế khá phổ biến: mức lương thực nhận (NET) của người lao động đã tăng lên đáng kể, nhưng tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội lại thấp hơn rất nhiều. Có nơi chỉ kê khai bằng một phần ba thu nhập thực tế. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi lâu dài của người lao động, đặc biệt là khi về hưu.
Vì vậy, với tôi, nghỉ hưu ở tuổi nào không phải là vấn đề lớn. Sớm hay muộn đều có thể chấp nhận được, miễn là doanh nghiệp đóng bảo hiểm đúng và đủ theo thu nhập thực tế. Khi đó, dù có nghỉ hưu sớm và bị giảm tỷ lệ phần trăm lương hưu, người lao động vẫn có thể đảm bảo cuộc sống.
Một ví dụ rất cụ thể: hiện nay có người lao động nhận lương 10 triệu đồng mỗi tháng, nhưng doanh nghiệp chỉ đóng bảo hiểm trên mức 5 triệu. Có những người đã 50 tuổi vẫn đóng ở mức này. Nếu họ nghỉ hưu trong vài năm tới, lương hưu sẽ rất thấp, khó đủ sống. Vì vậy, dù sức khỏe giảm sút, họ vẫn phải cố gắng đi làm.
>> 'Tuổi già dễ thở hơn khi lương hưu không phải gánh thuế'
Ngược lại, nếu doanh nghiệp đóng bảo hiểm đúng mức 10 triệu đồng, thì dù nghỉ hưu ngay, họ cũng có thể nhận khoảng 6,5-7,5 triệu đồng mỗi tháng. Khi đó, việc lựa chọn nghỉ sớm hay tiếp tục làm việc sẽ trở nên chủ động và nhẹ nhàng hơn rất nhiều.
Bản thân tôi có mức lương NET khoảng 30 triệu đồng mỗi tháng, nhưng công ty chỉ kê khai đóng bảo hiểm ở mức 12,5 triệu, phần còn lại được tính là tiền thưởng để không phải đóng bảo hiểm. Với cách tính như vậy, kể cả khi tôi làm việc đến 70 tuổi, lương hưu dự kiến cũng chỉ hơn 7 triệu đồng. Rõ ràng, điều này khiến tôi không muốn nghỉ hưu sớm, dù có thể đã đủ tuổi".
Đó là quan điểm của độc giả Macvanlong xung quanh đề xuất giảm tuổi hưu ngành sản xuất, tăng lương tối thiểu vùng, mới được Công đoàn cơ sở các doanh nghiệp tại Bắc Ninh kiến nghị. Đây không phải lần đầu xuất hiện đề xuất phân loại nhóm lao động để nghỉ hưu sớm. Trước đó, khi góp ý dự thảo Luật Bảo hiểm xã hội sửa đổi năm 2024, Liên đoàn Lao động TP Hà Nội cũng kiến nghị áp dụng cơ chế này với công nhân trực tiếp sản xuất.
Thực tế, dù tuổi hưu đang tăng theo lộ trình lên 62 với nam vào năm 2028 và 60 với nữ vào năm 2035, doanh nghiệp tư nhân hầu như không bố trí việc làm cho lao động ở độ tuổi này, nhất là vị trí trực tiếp sản xuất do yêu cầu về sức khỏe và năng suất. Nhiều người buộc phải nghỉ việc sớm, dẫn đến thiệt thòi về thu nhập và quyền lợi bảo hiểm xã hội khi chưa đủ điều kiện hưởng lương hưu.
Nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đảm bảo mức đóng BHXH cho người lao động, bạn đọc Macvanlong kết lại: "Từ những thực tế đó, tôi cho rằng điều cần làm không phải chỉ là bàn chuyện có nên giảm tuổi nghỉ hưu hay không, mà quan trọng hơn là kiểm soát chặt chẽ việc doanh nghiệp đóng bảo hiểm xã hội đúng và đủ theo thu nhập thực tế của người lao động.
Khi quyền lợi được đảm bảo, người lao động hoàn toàn có thể tự quyết định thời điểm nghỉ hưu của mình, chẳng hạn từ sau tuổi 50 trở đi. Lúc đó, câu chuyện nghỉ sớm hay muộn sẽ không còn là áp lực, mà trở thành một lựa chọn cá nhân dựa trên sức khỏe và nhu cầu cuộc sống của mỗi người".