Trong buổi hội thảo trực tuyến chiều 15/5, một nhà đầu tư đặt câu hỏi tại sao quỹ Dragon Capital lại gia tăng tỷ trọng ở nhóm cổ phiếu Vingroup, nổi bật là VIC và VHM, khi hầu hết mã này đang “chạm đỉnh”. Tính đến hết phiên hôm qua, cổ phiếu VIC của Vingroup đạt 228.000 đồng, còn VHM của Vinhomes đạt 158.000 đồng, cả hai đều ở gần mức cao lịch sử.
Trả lời câu hỏi trên, ông Võ Nguyễn Khoa Tuấn – Giám đốc Nghiệp vụ cấp cao lĩnh vực chứng khoán – nhấn mạnh rằng Dragon Capital tiếp cận nhóm cổ phiếu này với tinh thần “không thành kiến” và “kịp thời”. Dù tránh đầu tư vào Vinhomes và Vingroup trong nhiều năm trước đó, quỹ DCDS của họ đã giải ngân trở lại vào năm 2025. Theo ông, đây là quyết định đúng đắn và đóng góp đáng kể vào mức tăng trưởng trên 30% của DCDS trong năm trước.
Trước những lo ngại về việc giá cổ phiếu “họ” Vin tăng mạnh và có thể đã “đạt đỉnh”, ông Tuấn cho rằng nhận định này thường mang tính chủ quan. Nhiều người đưa ra kết luận mà không thực sự cầm bảng báo cáo tài chính hay bảng cáo bạch, báo cáo thường niên của doanh nghiệp để phân tích.
“Làm sao bạn biết được cổ phiếu Vingroup hay Vinhomes đang ở vùng đỉnh?”, ông Tuấn đặt câu hỏi ngược lại.
Dragon Capital đưa ra thống kê cho thấy nhiều cổ phiếu tại Hàn Quốc đã tăng trưởng 25-55 lần suốt 3 năm qua. Trong đó, mã chứng khoán của Hyosung Heavy Industries đã tăng 5.459% tính đến cuối tháng 4; cổ phiếu Hyundai Electric và SK Square cũng tăng hơn 2.500%…
Trong khi đó, cổ phiếu Vingroup mới chỉ tăng khoảng 7-8 lần tính từ đáy. Nếu so với mức giá từ năm 2018-2019 (sau khi đã điều chỉnh), giá hiện tại của Vingroup tăng chưa đến 5 lần trong vòng 7-8 năm.
“Điều đó không có gì quá vô lý đối với một doanh nghiệp luôn làm việc hết tốc lực”, chuyên gia này nhận định.
Từ năm trước đến đây, nhóm “họ” Vin với nồng cốt là VIC và VHM đã trở thành nhân tố chính kéo VN-Index tăng trưởng mạnh và lập kỷ lục trên 1.900 điểm. Hồi cuối năm trước, ông Petri Deryng, Quản lý danh mục đầu tư của PYN Elite Fund (Phần Lan), từng kể trong lĩnh vực của ông, nhiều người nói đùa rằng năm 2025, VN-Index nên được gọi là “VIN-Index”. Bởi chỉ một nhóm doanh nghiệp đã chi phối gần như toàn bộ diễn biến của chỉ số.
Cổ phiếu VIC của Vingroup chiếm hơn 20% vốn hóa VN-Index. Do đó, chỉ riêng biến động của mã này cũng có thể tác động mạnh đến toàn bộ chỉ số chung. Vì không nắm giữ cổ phiếu “họ” Vin, nhiều quỹ đầu tư phải ghi nhận hiệu suất kém hơn VN-Index trong năm nay.
Trả lời VnExpress hồi đầu tuần, ông Tyler Nguyễn Mạnh Dũng, Giám đốc cấp cao Nghiên cứu chiến lược thị trường của Công ty Chứng khoán HSC, nhắc tới việc nhiều thị trường phát triển như Mỹ, Hàn Quốc, Đài Loan từng chịu sự chi phối tương tự tác động của nhóm Vingroup lên VN-Index hiện nay. Cụ thể, tại Đài Loan, TSMC từng chiếm trên 40% vốn hóa toàn thị trường. Còn ở Hàn Quốc, Samsung Electronics từng chiếm khoảng 15-20% vốn hóa KOSPI trong giai đoạn bình thường. Nếu tính Samsung Group và SK Group, con số lên tới 60%.
“Việc thị trường được dẫn dắt bởi một vài doanh nghiệp lớn không nên được mặc định tích cực hay tiêu cực, mà cần nhìn sâu hơn vào chất lượng tăng trưởng và mức độ lan tỏa mà những doanh nghiệp đó tạo ra cho nền kinh tế”, chuyên gia HSC nói.
Theo ông, sự xuất hiện của các doanh nghiệp này phản ánh nền kinh tế đã hình thành những tập đoàn đủ lớn, có khả năng cạnh tranh và đóng vai trò đầu tàu tăng trưởng. Tuy nhiên, mặt trái sẽ xuất hiện nếu sự tăng trưởng của thị trường chỉ mang tính tài chính hoặc đầu cơ ngắn hạn, trong khi phần còn lại của nền kinh tế và doanh nghiệp niêm yết không thực sự được hưởng lợi.
Dưới góc nhìn của Dragon Capital, Vingroup là tập đoàn đa ngành dẫn đầu và đại diện cho sự tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam với đội ngũ làm việc “kinh khủng” và quyết liệt. Còn với Vinhomes, chuyên gia nhấn mạnh đây là doanh nghiệp bất động sản hiếm hoi đạt lợi nhuận trên 2 tỷ USD. Ông cho rằng mức giá hiện tại của VHM chỉ tăng hơn 100% so với mức cao nhất cách đây 5 năm, nên không thể coi là mức tăng trưởng quá nóng.
Ngày 27/5, Công ty TNHH MTV Vận hành Hệ thống điện và Thị trường điện Quốc gia (NSMO) cho biết nắng nóng nhiều ngày liên tiếp, nhu cầu sử dụng điện tăng mạnh khiến hệ thống điện quốc gia tiếp tục lập kỷ lục về cả công suất và sản lượng. Nền nhiệt cao nhất phổ biến tại khu vực đồng bằng Bắc Bộ, Phú Thọ và từ Thanh Hóa đến TP Huế hôm nay là 38-40 độ C, có nơi trên 40 độ C.
Theo số liệu của NSMO, công suất tiêu thụ điện lớn nhất cả nước đạt 58.326 MW vào lúc 14h30. Mức này cao hơn khoảng 200 MW so với mức đỉnh hôm qua (58.103 MW). Trong đó, miền Bắc chiếm tỷ trọng lớn nhất, với công suất gần 29.509 MW, còn lại miền Nam và miền Trung lần lượt 23.130 MW và hơn 5.687 MW.
Trước đó, lúc 10h, công ty vận hành hệ thống điện quốc gia cũng ghi nhận lượng tiêu thụ điện cả nước cao hơn khoảng 900 MW so với cùng thời điểm ngày 26/5. Mức này tương đương 1,5 lần công suất của một tổ máy nhiệt điện than lớn, theo NSMO.
Miền Bắc hiện chiếm gần 52% tổng sản lượng điện tiêu thụ cả nước, trong khi miền Nam trên 39% và miền Trung khoảng 9%.
Cũng theo NSMO, ngày 26/5, sự cố thiết bị trên lưới điện 110 kV lúc 18h55 đã gây mất điện cục bộ tại một số khu vực thuộc tỉnh Bắc Ninh và TP Hải Phòng. Sau 15 phút, các đơn vị vận hành đã khắc phục sự cố, cấp điện trở lại cho người dân.
Tại cuộc họp cung ứng điện trong cao điểm mùa khô chiều 26/5, Bộ trưởng Công Thương Lê Mạnh Hùng nhận xét diễn biến nắng nóng năm nay "vượt nhiều kịch bản dự báo trước đó". Đặc biệt, nhu cầu sử dụng điện tại miền Bắc tăng cao sớm hơn dự kiến trong bối cảnh nhiều dự án nguồn điện phát triển chậm.
Theo Tổng giám đốc Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) Nguyễn Anh Tuấn, hệ thống điện đang vận hành trong điều kiện "rất căng thẳng", nhiều đường dây và trạm biến áp rơi vào tình trạng quá tải do nhu cầu tiêu thụ tăng mạnh kéo dài. EVN đã yêu cầu các đơn vị tăng cường trực vận hành, chuẩn bị phương án ứng phó sự cố và làm việc với khách hàng lớn để đẩy nhanh chương trình điều chỉnh nhu cầu sử dụng tự nguyện.
Tương tự, các nhà máy nhiệt điện của Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) hiện duy trì độ công suất huy động trên 90%, đáp ứng yêu cầu của hệ thống. TKV cũng bảo đảm đủ nguồn than cung cấp cho các nhà máy nhiệt điện theo các hợp đồng đã ký.
Trước diễn biến thời tiết bất thường, Bộ trưởng Lê Mạnh Hùng yêu cầu các đơn vị cập nhật lại kịch bản điều hành hệ thống điện mùa khô năm nay, hoàn thành trước ngày 30/5. Các tập đoàn, đơn vị phát điện phải bảo đảm đủ nhiên liệu than, khí, vật tư cho vận hành, chuẩn bị sẵn sàng nhân lực và phương án xử lý sự cố trong cao điểm mùa khô.
Với lưới điện, EVN được yêu cầu tăng kiểm tra các đường dây, trạm biến áp có nguy cơ, không để xảy ra cắt điện trong đợt nắng nóng, thời tiết cực đoan.
Bộ trưởng cũng yêu cầu theo dõi sát tiến độ các dự án nguồn, lưới điện trọng điểm, nhất là các công trình truyền tải phục vụ nhập khẩu điện và giải tỏa công suất năng lượng tái tạo.
Ông cho rằng trong bối cảnh phụ tải tăng nhanh, giải pháp hiệu quả nhất hiện nay là sử dụng điện tiết kiệm, điều chỉnh nhu cầu sử dụng và hạn chế dùng đồng thời thiết bị công suất lớn trong khung giờ cao điểm tối từ 18h đến 23h.
Thông tư 08 sửa đổi, bổ sung Thông tư 22 về giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động ngân hàng vừa được Ngân hàng Nhà nước ban hành và có hiệu lực từ ngày 15/5.
Theo quy định này, tiền gửi của các tổ chức tín dụng tiếp tục phải loại trừ một số khoản mục trước khi tính vào mẫu số tỷ lệ LDR. Các khoản bị loại trừ gồm tiền ký quỹ, tiền gửi vốn chuyên dùng của khách hàng, khoản gửi không kỳ hạn và 80% số dư gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước.
Các ngân hàng được tính 20% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước vào chỉ số LDR, thay vì phải loại trừ hoàn toàn như trước.
Việc nới cách tính LDR giúp các nhà băng cải thiện tỷ lệ an toàn và có thêm dư địa tăng trưởng tín dụng, trong đó được hưởng lợi nhiều nhất là nhóm các ngân hàng có vốn nhà nước.
Tính tới cuối tháng 3, tiền gửi của Kho bạc Nhà nước tại nhóm ngân hàng quốc doanh (Vietcombank, BIDV, Agribank, VietinBank) chiếm hơn 99% số dư 626.700 tỷ đồng tiền gửi kho bạc toàn hệ thống.
Theo Ngân hàng Nhà nước, tỷ lệ LDR của 4 ngân hàng quốc doanh gồm VietinBank, BIDV, Vietcombank và Agribank đều tăng trong những tháng đầu năm. Tại ngày 31/3, tỷ lệ này lần lượt ở mức 83,5%; 82,9%; 84,5% và 83%, tiến sát ngưỡng tối đa 85%.
Động thái sửa quy định diễn ra trong bối cảnh thanh khoản hệ thống ngân hàng chịu nhiều áp lực. Tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 4, Chính phủ giao Ngân hàng Nhà nước rà soát, sửa các quy định và có biện pháp phù hợp để bảo đảm thanh khoản cho hệ thống ngân hàng.
Theo thống kê của Tuổi Trẻ Online, 40 công ty chứng khoán (CTCK) ghi nhận tổng lợi nhuận gần 7.600 tỉ đồng trong quý 1-2026, thấp nhất trong 4 quý gần đây.
Dù vẫn tăng trưởng so với cùng kỳ, bức tranh chung cũng phản ánh những điểm kém tích cực của thị trường chứng khoán quý đầu năm.
Cụ thể, đã có tới khoảng 17/40 doanh nghiệp thua lỗ hoặc suy giảm kết quả kinh doanh so với cùng kỳ năm ngoái.
Một loạt công ty ghi nhận kết quả kém khả quan như EVS lỗ 157,5 tỉ đồng, VDS lỗ 24,2 tỉ đồng, SBS lỗ 5,2 tỉ đồng hay OCBS lỗ 3,475 tỉ đồng.
Hầu hết các doanh nghiệp đều giải trình việc thua lỗ do ảnh hưởng của hoạt động tự doanh. Cá biệt, EVS cho biết phải trích lập với cổ phiếu NVB dù đây thực tế là tài sản đảm bảo được thu hồi từ các khoản nợ "xấu".
Trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt về phí môi giới và cho vay margin, nhiều CTCK đẩy mạnh tự doanh để cải thiện hiệu quả ROE.
Tuy nhiên, khi thị trường biến động, đặc biệt dưới tác động của yếu tố địa chính trị như cuộc chiến tại Trung Đông, danh mục đầu tư dễ bị ảnh hưởng, buộc doanh nghiệp phải trích lập dự phòng, kéo lợi nhuận đi xuống.
Ông Nguyễn Thế Minh - Giám đốc khối ngân hàng đầu tư tại Chứng khoán An Bình (ABS) - cho rằng tự doanh là "con dao hai lưỡi".
Các CTCK tập trung vào môi giới và cho vay margin ít chịu ảnh hưởng hơn trong giai đoạn vừa qua, trong khi những đơn vị đẩy mạnh đầu tư tài chính lại đối mặt rủi ro lớn hơn khi thị trường đảo chiều.
Không chỉ các công ty nhỏ, nhiều doanh nghiệp có thế mạnh tự doanh cũng ghi nhận suy giảm. Chẳng hạn, VIX giảm hơn 60% lợi nhuận so với cùng kỳ, trong khi CTS giảm trên 30%.
Trong khi đó, một đơn vị có thế mạnh về tự doanh khác là Chứng khoán SHS cũng mới công bố chiến lược giảm phụ thuộc vào mảng tự doanh (từ 52-55% còn khoảng 35%) để đẩy mạnh cho vay margin, ngân hàng đầu tư.
Tân CEO của SHS, ông Nguyễn Duy Linh cho biết sẽ tránh gây "cú sốc" cho thị trường và sẽ cân nhắc hành động dựa trên chất lượng doanh nghiệp, điều kiện thị trường.
Bên cạnh tự doanh, mảng cho vay margin, trụ cột quan trọng của ngành, cũng đang đối mặt áp lực. Dù dư nợ cho vay tiếp tục tăng và lập kỷ lục mới, biên lợi nhuận (NIM) của hoạt động này lại có xu hướng thu hẹp.
Tại đại hội đồng cổ đông thường niên 2026, Tổng giám đốc Nguyễn Thị Thu Hiền của Chứng khoán TCBS - đơn vị có dư nợ lớn nhất ngành, cho biết doanh nghiệp này vẫn còn nhiều dư địa tăng trưởng cho vay, thậm chí mới huy động thêm gần 500 triệu USD từ các tổ chức nước ngoài. Tuy nhiên, bà Hiền cũng lưu ý NIM đang mỏng đi do mặt bằng lãi suất tăng so với đầu năm, ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động cốt lõi này.
Ở góc nhìn khác, ông Nguyễn Thế Minh cho rằng cơ cấu khách hàng cũng góp phần làm giảm hiệu quả cho vay. Dư nợ vẫn mở rộng ở nhóm khách hàng lớn nhưng đặc điểm của nhóm này thường đòi hỏi mức lãi suất ưu đãi hơn.
"Trong khi đó, nhóm "hào phóng" hơn là nhà đầu tư cá nhân lại đang hạn chế sử dụng đòn bẩy trong bối cảnh vĩ mô có nhiều biến động, khiến hiệu quả từ hoạt động cho vay margin kém đi", ông Minh phân tích.
Điều này khiến hai trụ cột chính của CTCK đều chịu áp lực: tự doanh tiềm ẩn rủi ro lớn, còn cho vay margin lại bị bào mòn biên lợi nhuận.