Ngày 9/4, Đỗ Tuấn Anh (41 tuổi, cựu Đội phó Cảnh sát PCCC và cứu nạn cứu hộ, Công an quận Cầu Giấy cũ) và cán bộ cùng đơn vị Lê Quang Hưng, 30 tuổi, bị VKSND Hà Nội đề nghị mỗi người 3-4 năm tù, cùng về tội Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng.
Vụ hỏa hoạn trên phố Trung Kính khiến 15 người chết xảy ra hồi tháng 5/2024; trong đó 12 nạn nhân là khách trọ, còn lại là thành viên chủ nhà.
Khu nhà trọ của ông Nguyễn Kim Quyết gồm 13 phòng khép kín trên 3 tầng, có sân rộng 33 m2 vừa để xe vừa sửa xe điện, chỉ có một lối ra vào; không có giấy phép xây dựng và cũng không đăng ký kinh doanh cho thuê trọ.
Theo cáo buộc, đây là cơ sở thuộc diện quản lý nhà nước về PCCC của Đội Cảnh sát PCCC và CNCH Công an quận Cầu Giấy. Dù được giao phụ trách địa bàn phường Trung Hòa, bị cáo Hưng bị cho là không thực hiện đầy đủ nhiệm vụ rà soát, không phát hiện cơ sở ông Quyết cho thuê trọ và vi phạm quy định PCCC.
Đối với cựu Đội phó Tuấn Anh, VKS xác định bị cáo không chỉ đạo, quản lý đầy đủ, dẫn đến khu trọ của ông Quyết không có đơn vị nào phụ trách. Dù tồn tại nhiều vi phạm về PCCC, cơ sở này suốt thời gian dài không bị kiểm tra, xử lý.
Cựu cảnh sát: Địa bàn rộng, nhiệm vụ nhiều
Khai tại tòa, cựu thượng úy Hưng cho biết công tác tại Đội từ tháng 4/2021. Chín tháng trước vụ hỏa hoạn, bị cáo được phân công quản lý một nửa địa bàn phường Trung Kính (cũ), rộng khoảng 1,2 km2. Nhiệm vụ của Hưng là rà soát các cơ sở kinh doanh trên địa bàn để phân loại thuộc diện quản lý của phường hay quận.
Trả lời câu hỏi vì sao không đưa khu trọ nhà ông Quyết vào bất kỳ danh sách nào, Hưng khai thời điểm đó mới nhận địa bàn, trong khi phường có nhiều cơ sở nên chủ yếu quản lý theo danh sách cán bộ tiền nhiệm bàn giao, dự định sẽ tiếp tục đi thực tế để cập nhật các địa điểm chưa nắm được.
Tuy nhiên, theo lời bị cáo, mới làm được vài tháng thì Hà Nội liên tiếp xảy ra nhiều vụ cháy nghiêm trọng, khiến thành phố triển khai hàng loạt kế hoạch tổng kiểm tra liên ngành đối với quán karaoke trá hình, nhà xưởng, tòa nhà văn phòng…
Hưng cho biết mình được phân công tham gia các đoàn kiểm tra này nên phần lớn thời gian phải thực hiện nhiệm vụ theo chỉ đạo cấp trên, không còn thời gian rà soát bổ sung địa bàn.
Đối đáp tại tòa, kiểm sát viên nói “rất thông cảm” với áp lực quản lý địa bàn rộng của bị cáo, song cho rằng Hưng phải nhận thức bản thân chưa làm hết trách nhiệm. Theo VKS, nếu gia đình ông Quyết được các bị cáo hướng dẫn, chỉ đạo ngay từ đầu thì hậu quả có thể đã khác.
Trước đó, tại cơ quan điều tra, Hưng khai “nghĩ nhà này thuộc diện UBND phường Trung Hòa quản lý, không phải lực lượng cảnh sát PCCC nên không kiểm tra”.
Về trách nhiệm của chính quyền địa phương, VKS cho biết trong quá trình thực hiện chỉ thị của thành phố, Đội Cảnh sát PCCC và cứu nạn, cứu hộ đã tổng rà soát, lập danh sách 861 cơ sở thuộc diện quản lý của UBND phường Trung Hòa. Trong danh sách này không có khu trọ của gia đình ông Quyết. UBND phường Trung Hòa vì vậy mặc nhiên cho rằng cơ sở thuộc diện quản lý của Đội Cảnh sát PCCC và cứu nạn, cứu hộ.
Nhà trọ vi phạm PCCC suốt 15 năm không ai biết
Trong khi đó, cấp trên của Hưng là cựu Đội phó, thiếu tá Đỗ Tuấn Anh khai phụ trách địa bàn của ba phường với số cơ sở phải quản lý lên tới 10.000-20.000.
Bị cáo nhận trách nhiệm với vai trò người đứng đầu, song cho rằng bản thân thường xuyên đôn đốc, quan tâm công tác rà soát địa bàn vì luôn xác định đây là nhiệm vụ “xương sống” của đơn vị. “Tôi rất ý thức điều này, trong các biên bản họp đều ghi nhận việc tôi có đôn đốc”, Tuấn Anh nói.
Chủ tọa Đinh Quốc Trí hỏi: “Đôn đốc là một chuyện, nhưng đôn đốc xong có kiểm tra lại xem cấp dưới làm thế nào không?”. Bị cáo đáp có nhận thấy một số cán bộ làm chưa tốt, nhưng “nếu đã chỉ đạo nhiều lần mà cán bộ vẫn không chủ động thì rất khó”.
Về quy trình phân loại cơ sở thuộc diện UBND phường hay Cảnh sát PCCC quận quản lý, Tuấn Anh cho biết việc này cơ bản dựa trên đề xuất của UBND phường lập danh sách.
Theo VKS, tháng 11/2022, Công an phường Trung Hòa từng đề xuất chuyển danh sách nhà cho thuê trọ sang Đội Cảnh sát PCCC quận Cầu Giấy quản lý, trong đó có khu trọ của ông Quyết.
Tuy nhiên, tại tòa, Tuấn Anh cho rằng danh sách chỉ có tên và địa chỉ, chưa thể hiện quy mô nên chưa đủ căn cứ phân loại. “Chúng tôi tiếp nhận cũng không quản lý được, chưa phân quyền cho ai”, bị cáo nói, cho rằng với hàng chục nghìn cơ sở thì chỉ nhìn địa chỉ không thể biết nơi nào vi phạm.
Chủ tọa chia sẻ với khối lượng công việc của bị cáo, nhưng nhấn mạnh với vai trò chỉ huy, khi cấp dưới báo cáo đề xuất thì phải xem xét đến cùng. Theo chủ tọa, việc xem xét không chỉ dừng ở địa chỉ số nhà mà phải đánh giá điều kiện phòng cháy chữa cháy của khu trọ để xác định thuộc thẩm quyền quản lý của phường hay quận.
“Đấy mới là nhiệm vụ của người chỉ huy. Đằng này bị cáo nghe báo cáo thôi mà không xem xét lại có đúng hay không”, chủ tọa phân tích, cho rằng hậu quả là khu trọ suốt 15 năm không thuộc diện quản lý PCCC của bất kỳ cơ quan nào.
Ngày 30-6, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an TP.HCM cho biết đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Nguyễn Ngọc Sơn (33 tuổi, ngụ phường Tân Sơn Nhì) và 29 đồng phạm về các tội chế tạo, mua bán, tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng; mua bán trái phép chất ma túy; tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
Đồng thời ra lệnh bắt để tạm giam đối với 30 bị can về các hành vi nêu trên. Bên cạnh đó tiếp tục mở rộng điều tra, truy xét các đối tượng còn liên quan, làm rõ nguồn cung cấp vũ khí, đạn và các tài khoản mạng xã hội được sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội.
Trước đó, qua công tác nghiệp vụ, lực lượng cảnh sát hình sự phát hiện nhiều đối tượng sử dụng Facebook thường xuyên đăng tải hình ảnh, video về các loại súng có tính năng tương tự vũ khí quân dụng, đồng thời trao đổi, giao dịch mua bán súng, đạn và linh kiện vũ khí.
Qua xác minh, công an xác định đây là đường dây hoạt động có tổ chức, lợi dụng mạng xã hội để quảng bá, giao dịch, che giấu nhân thân và phương thức phạm tội nhằm đối phó với cơ quan chức năng.
Trước tính chất đặc biệt nguy hiểm của vụ việc, Phòng Cảnh sát hình sự Công an TP đã xác lập chuyên án để tập trung đấu tranh, bóc gỡ toàn bộ đường dây.
Quá trình điều tra xác định Nguyễn Ngọc Sơn (33 tuổi, ngụ phường Tân Sơn Nhì) là đối tượng cầm đầu, trực tiếp thực hiện lắp ráp, chế tạo nhiều khẩu súng có hình dạng và tính năng tương tự súng quân dụng.
Sau khi hoàn thiện, Sơn bắn thử, quay video, đăng tải lên mạng xã hội để chào bán cho người có nhu cầu.
Việc giao nhận súng, đạn được ngụy trang trong các thùng CPU máy tính hoặc hàng hóa gửi qua xe khách liên tỉnh. Các giao dịch thanh toán sử dụng tài khoản ngân hàng của người khác nhằm che giấu dấu vết phạm tội.
Từ ngày 30-5 đến ngày 6-6, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Giám đốc Công an TP, Phòng Cảnh sát hình sự đã huy động nhiều tổ công tác đồng loạt triển khai các biện pháp nghiệp vụ tại TP.HCM, Tây Ninh, Đồng Tháp và Vĩnh Long.
Mặc dù các đối tượng hoạt động phân tán trên nhiều địa bàn, thường xuyên thay đổi nơi cư trú, lợi dụng không gian mạng để liên lạc, giao dịch và sử dụng nhiều phương thức đối phó nhằm che giấu hành vi phạm tội, gây không ít khó khăn cho công tác xác minh, truy xét, nhưng với sự phối hợp chặt chẽ giữa công an các địa phương, ban chuyên án bắt giữ 30 đối tượng, bóc gỡ toàn bộ đường dây phạm tội.
Kết quả khám xét, ban chuyên án thu giữ số lượng lớn vũ khí gồm: 27 khẩu súng, trong đó 14 khẩu súng là vũ khí quân dụng; 9 khẩu súng đang lắp ráp, gần 100 chi tiết súng đang được chế tạo, độ chế và 1.000 viên đạn các loại, cùng nhiều máy khoan, máy cắt, máy mài, thiết bị gia công kim loại, linh kiện, vật tư, máy tính, dụng cụ phục vụ việc chế tạo súng và nhiều tang vật khác liên quan đến hoạt động phạm tội.
Đáng chú ý, trong quá trình đấu tranh mở rộng chuyên án về chế tạo, mua bán, tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng, Phòng Cảnh sát hình sự Công an TP.HCM còn phát hiện, xử lý hình sự đối với 7 đối tượng trong chuyên án về hành vi mua bán trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
Ngày 9-4, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai cho hay cơ quan này vừa phát hiện và ban hành kháng nghị tái thẩm đối với một phần quyết định công nhận thuận tình ly hôn đã có hiệu lực pháp luật liên quan con chung của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Gia Lai.
Kháng nghị này đã được Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai chấp nhận toàn bộ.
Theo đó, kháng nghị liên quan vụ án hôn nhân và gia đình về việc "ly hôn, tranh chấp về nuôi con" giữa vợ chồng ông T.T.B. và bà N.T.T., trú xã Tuy Phước Bắc, tỉnh Gia Lai.
Theo hồ sơ vụ án, ông B. (nguyên đơn) và bà T. (bị đơn) có 3 người con, gồm: D. (15 tuổi), Th. (11 tuổi) và N. (8 tuổi).
Năm 2020, do mâu thuẫn trong hôn nhân, vợ chồng ông B. và bà T. quyết định ra tòa ly hôn.
Tòa án cấp sơ thẩm là Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước (nay là Tòa án nhân dân khu vực 2 - Gia Lai) quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự về con chung, tài sản chung.
Cụ thể về con chung, giao 2 con chung là cháu D. và cháu Th. cho ông B. trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; giao cháu N. cho bà T. trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; không bên nào yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, hai bên không yêu cầu tòa án giải quyết. Phán quyết có hiệu lực pháp luật và các bên đã thi hành.
Tuy nhiên sau một thời gian, do nghi ngờ, ông B. đã thực hiện giám định ADN đối với cháu N. và kết quả xác định N. không phải con chung của ông B. và bà T..
Từ đó ông B. có đơn đề nghị xem xét lại một phần quyết định công nhận thuận tình ly hôn trước đó.
Theo Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai, sau khi rà soát, đánh giá lại toàn bộ hồ sơ, tài liệu, phát hiện tình tiết mới có ý nghĩa quyết định đối với việc giải quyết vụ án. Đây là tình tiết khách quan mà các đương sự và tòa án không biết được khi giải quyết vụ việc, làm thay đổi căn bản nội dung liên quan đến quan hệ con chung.
Cơ quan này đánh giá đây là căn cứ quan trọng để xem xét lại quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục tái thẩm. Từ đó Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai đã ban hành quyết định kháng nghị tái thẩm, đề nghị hủy một phần quyết định đã có hiệu lực pháp luật để giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
Sau đó hội đồng xét xử tái thẩm Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai đã quyết định chấp nhận toàn bộ kháng nghị của viện kiểm sát, hủy một phần quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự về phần con chung là cháu N..
Theo viện kiểm sát, phán quyết này đồng nghĩa giữa ông B. và cháu N. không còn tồn tại quan hệ cha - con và các nghĩa vụ, trách nhiệm có liên quan sau này như quan hệ về thừa kế, quyền tài sản, trách nhiệm giám hộ…
Đồng thời việc này cũng nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho cháu N. trong trường hợp xác định cha ruột sau này.
Vướng mắc được đặt ra từ một vụ án mà bị cáo bị truy tố về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ. Trong suốt quá trình điều tra và tại phiên tòa, người này khai không uống rượu bia trước khi lái xe.
Tuy nhiên, kết quả giám định lại cho thấy trong máu có nồng độ cồn 0,282mg/100ml. Đáng chú ý, cơ quan giám định không xác định được lượng cồn này phát sinh từ đâu.
Từ tình huống trên, tòa án cấp dưới đề nghị hướng dẫn liệu có thể áp dụng tình tiết định khung quy định tại điểm b khoản 2 điều 260 Bộ luật Hình sự hay không.
Đây là tình tiết áp dụng với trường hợp người phạm tội "trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định".
Trong văn bản giải đáp, Tòa án nhân dân Tối cao cho rằng điều kiện quan trọng để áp dụng tình tiết này là phải có căn cứ xác định người phạm tội "trong tình trạng có sử dụng rượu, bia". Theo đó, chỉ riêng kết quả xét nghiệm có nồng độ cồn là chưa đủ.
Tòa án tối cao nêu rõ, để áp dụng tình tiết định khung, kết luận giám định phải xác định được nồng độ cồn trong máu xuất phát từ việc sử dụng rượu bia hoặc phải có các chứng cứ khác chứng minh người phạm tội đã uống rượu bia trước khi tham gia giao thông.
“Trường hợp không có căn cứ xác định người phạm tội đã sử dụng rượu, bia thì không áp dụng tình tiết này”, văn bản nêu.
Luật sư Trịnh Văn Tuyến cho rằng hướng dẫn của Tòa án nhân dân Tối cao đã làm rõ một điểm lâu nay còn nhiều cách hiểu khác nhau trong thực tiễn xét xử các vụ án giao thông.
Theo đó, điểm b khoản 2 điều 260 Bộ luật Hình sự quy định tình tiết định khung đối với trường hợp người phạm tội “trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định”. Vì vậy, yếu tố then chốt không chỉ là phát hiện có nồng độ cồn mà còn phải chứng minh được người đó thực sự đã sử dụng rượu bia.
“Đây là hai khái niệm không hoàn toàn đồng nhất”, ông Tuyến nói và cho rằng việc Tòa án nhân dân tối cao yêu cầu phải xác định rõ nguồn gốc nồng độ cồn là "cách diễn giải đúng tinh thần điều luật, tránh việc suy đoán bất lợi cho người bị buộc tội".
Theo luật sư, trong tố tụng hình sự, trách nhiệm chứng minh thuộc về cơ quan tiến hành tố tụng. Người bị truy cứu trách nhiệm hình sự không có nghĩa vụ phải chứng minh mình vô tội.
"Vì vậy, nếu chỉ có kết quả xét nghiệm nồng độ cồn mà không kèm các chứng cứ khác như lời khai, hình ảnh camera, nhân chứng, hóa đơn thanh toán hoặc tài liệu thể hiện việc sử dụng rượu bia thì việc áp dụng tình tiết tăng nặng có thể chưa đủ chặt chẽ".
Ông Tuyến phân tích thêm bản chất của tình tiết định khung này còn gắn với yếu tố lỗi và ý thức chủ quan của người điều khiển phương tiện. Tức cơ quan tố tụng phải làm rõ người đó có chủ động sử dụng rượu bia trước khi tham gia giao thông hay không, nhận thức được việc uống rượu bia có thể ảnh hưởng khả năng lái xe nhưng vẫn điều khiển phương tiện.
“Nếu chưa xác định được nguồn gốc nồng độ cồn, chưa chứng minh được hành vi sử dụng rượu bia thì rất khó khẳng định yếu tố chủ quan của người phạm tội trong trường hợp này”, luật sư nhìn nhận.
Trên thực tế vẫn có những trường hợp trong cơ thể xuất hiện cồn do nguyên nhân khách quan như dùng thuốc, thực phẩm lên men, bệnh lý chuyển hóa hoặc hiện tượng cồn nội sinh. Dù hàm lượng thường không lớn, đây vẫn là yếu tố cần được xem xét, đánh giá thận trọng trong quá trình giải quyết vụ án.
Ông cũng cho rằng hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao cho thấy sự khác biệt giữa xử phạt hành chính và xử lý hình sự. Với vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông, chỉ cần có nồng độ cồn vượt ngưỡng đã có thể bị xử phạt.
Nhưng trong vụ án hình sự, đặc biệt với tình tiết làm tăng nặng trách nhiệm, yêu cầu chứng minh phải nghiêm ngặt hơn để tránh nguy cơ “đồng nhất” giữa việc có nồng độ cồn với hành vi sử dụng rượu bia.
Theo ông Tuyến, hướng dẫn này nhiều khả năng sẽ tác động trực tiếp đến quá trình điều tra, dựng hồ sơ các vụ án giao thông thời gian tới, buộc cơ quan tố tụng phải chú trọng hơn tới việc thu thập chứng cứ về quá trình sử dụng rượu bia thay vì chủ yếu dựa vào kết quả đo nồng độ cồn.