Tôi là một giáo viên Hóa học. Đứng trên giảng đường đại học, tôi không khỏi chạnh lòng khi chứng kiến những sinh viên từng nổi bật về Hóa ở cấp ba (kể cả với một số em đi thi Học sinh giỏi Hóa) bỗng dưng xa lạ với chính môn học mà các em từng yêu thích một thời. Thật khó tin khi các nguyên lý cơ bản của Hóa cơ sở và Hóa nhiệt động – nền tảng kiến thức vững chắc – lại có thể “bốc hơi” một cách nhanh chóng như chưa từng tồn tại.
Ở Việt Nam, có một bộ môn vừa đặc biệt, vừa “khó nhằn”, vừa “độc nhất vô nhị” mà nhiều nước hiếm thấy, các thế hệ học sinh thường gọi vui là “Toán Văn Hóa học”. Đây là bộ môn mà học sinh không chỉ học Hóa, mà còn phải “đánh vật” giải những bài tập tính toán “khủng”, thậm chí là “siêu khủng” như: biến đổi liên quan đến hệ phương trình bậc 4, bậc 5, hệ nhiều ẩn, có những bài chiếm tới 1/3 trang giấy A4. Các bài tập này dài, phức tạp và yêu cầu logic cao đến mức học sinh dễ bị cuốn vào việc tính toán mà quên đi kiến thức cơ bản.
Điều bất ngờ là, ngay cả những học sinh từng nổi bật về Hóa học ở phổ thông, khi bước lên giảng đường đại học, lại bỡ ngỡ với những nguyên lý tưởng chừng đơn giản của Hóa học cơ sở và Hóa học nhiệt động. Nhiều em có thể giải các bài toán dài, nhưng lại quên đi những nguyên tắc nền tảng mà môn học dựa trên đó. Thực trạng này đặt ra một câu hỏi lớn: liệu áp lực về tính toán có đang vô tình làm phai nhạt nền tảng kiến thức cơ bản của học sinh?
Hệ lụy của việc “Toán hóa” quá mức môn Hóa học không còn là điều dự báo mà đã trở thành hiện thực. Trong vai trò giảng dạy Hóa học cơ sở ở bậc đại học, tôi không khỏi bàng hoàng khi nhận thấy sinh viên thường sai nhiều nhất ở những kiến thức tưởng chừng hết sức cơ bản: vẽ công thức cấu tạo, dự đoán hình học phân tử hay ước lượng góc liên kết. Thậm chí, nhiều em còn sai “hết sức vô lý” như vẽ oxygen hóa trị I, carbon hóa trị V, silicon hóa trị III, hay những lỗi vi phạm quy tắc bát tử (mặc dù không thuộc trường hợp ngoại lệ)…
Ngay cả trong học phần Hóa nhiệt động, nơi tính toán chiếm ưu thế, sinh viên có thể dùng máy tính để ra đáp số pH trong vài giây, nhưng khi được tôi yêu cầu chứng minh công thức đơn giản như: pH = 1/2 (pKₐ – logCₐ) (công thức tính pH của acid yếu), thì các em lại hoàn toàn bế tắc. Khi “chiếc gậy” là các dạng toán làm sẵn bị tước bỏ, tư duy Hóa học của các em lộ rõ những lỗ hổng thênh thang.
>> ‘Đáng lo khi học sinh né Lý, Hóa, Sinh thi tốt nghiệp THPT’
Một ví dụ điển hình của một bài tập dạng “Toán Văn Hóa học” là: “Hỗn hợp P gồm ba ester mạch hở trong đó có hai ester đơn chức X, Y (MX < MY < 110, nX > nY) và một ester đa chức Z. Cho 5,07 gam P vào 32,00 gam dung dịch NaOH 10% rồi cô cạn dung dịch sau khi các phản ứng kết thúc thấy thu được 5,96 gam phần rắn Q và phần hơi T (gồm hơi nước và hỗn hợp hai alcohol no có cùng số nguyên tử carbon trong phân tử). Thêm bột CaO và NaOH dư vào Q rồi nung hỗn hợp trong bình chân không thấy thu được hỗn hợp hai hydrocarbon, hỗn hợp này làm mất màu vừa đủ 0,02 mol Br₂ trong dung dịch. Đốt cháy hết phần hơi T thu được 2,016 lít khí CO₂ và 31,23 gam H₂O. Các phản ứng xảy ra hoàn toàn, các thể tích khí đo ở điều kiện tiêu chuẩn. Tính phần trăm khối lượng của Z trong P?”.
Để giải được bài tập trên, học sinh phải:
– Theo dõi nhiều dữ kiện phức tạp và tính toán nối tiếp;
– Áp dụng phản ứng xà phòng hóa, phản ứng với Br₂, định luật bảo toàn khối lượng;
– Tính toán số mol, khối lượng, liên hệ các phản ứng để tìm thành phần Z.
Mặc dù bài toán dài và nhiều bước, bản chất hóa học của các phản ứng này không phức tạp. Tuy nhiên, chính số liệu rườm rà và bước tính toán nối tiếp khiến học sinh dễ quên đi các kiến thức nền tảng: cơ chế phản ứng, bản chất phân cực của liên kết C=O trong ester, ảnh hưởng của cấu trúc phân tử đến nhiệt độ sôi của alcohol.
Mặt khác, nếu giáo viên yêu cầu các em: biểu diễn sự phân cực của liên kết C=O trong nhóm chức ester; hoặc hỏi “tại sao hai alcohol no cùng số nguyên tử carbon lại có nhiệt độ sôi khác nhau?”, thì nhiều em sẽ lúng túng, dù vẫn giải được bài toán tính phần trăm khối lượng Z một cách cơ học. Đây là minh chứng rõ ràng rằng việc tập trung quá nhiều vào kỹ năng tính toán dài dòng khiến tư duy hóa học cơ bản bị bỏ quên, dẫn đến nghịch lý: học sinh có thể giải được bài toán trong phút chốc, nhưng lại không hiểu bản chất của chính các chất mình đang thao tác.
Sở dĩ phương pháp dạy và học này trở nên “độc hại” là bởi nó vi phạm nghiêm trọng thuyết Tải nhận thức (thuyết “tam tải”, Cognitive Load Theory):
Thứ nhất, tải nội tại (phát sinh từ bản chất phức tạp của môn học) bị đẩy quá cao: độ khó của Hóa học lẽ ra nằm ở cấu tạo chất và các quá trình biến đổi, nhưng nay lại bị đánh tráo bằng sự lắt léo của toán học (phương trình bậc cao, hệ nhiều ẩn). Não bộ bị buộc phải ưu tiên xử lý thuật toán thay vì thấu hiểu quy luật vật chất.
Thứ hai, tải ngoại lai (đến từ cách trình bày hoặc phương pháp dạy học) quá tải: những đề bài dài “như một bài văn” và ma trận số liệu vụn vặt chính là “rác nhận thức”. Chúng chiếm dụng hết bộ nhớ ngắn hạn, khiến học sinh kiệt sức vì những phép tính số học thuần túy trước khi kịp chạm đến tư duy Hóa học.
Thứ ba, tải liên quan (phát sinh khi học sinh kết nối kiến thức mới với kiến thức cũ) bị triệt tiêu: đây là phần quan trọng nhất để hình thành kiến thức bền vững. Khi hai loại tải trên quá lớn, não bộ không còn không gian để kết nối và ghi nhớ bản chất.
Hệ quả là chúng ta đang đào tạo nên những “thợ giải toán” có phản xạ cực tốt với các con số, nhưng lại rỗng tuếch về tư duy Hóa học. Đó có lẽ là lý do mà sinh viên của tôi có thể giải hệ phương trình 4 hay 5 ẩn rất nhanh, nhưng lại “đứng hình” khi yêu cầu vẽ một công thức cấu tạo hay chứng minh một công thức pH căn bản – những kiến thức lẽ ra phải nằm trong bộ nhớ dài hạn.
Thực tế, học sinh sợ Hóa không phải vì ghét môn học này, mà vì các em bị kiệt sức trước những ma trận số liệu đa chiều. Khi Hóa học vượt ra khỏi không gian ba chiều quen thuộc, nó không còn là câu chuyện về sự kỳ diệu của vật chất, mà trở thành một cuộc chạy đua giải toán khô khan, nơi ống nghiệm và bản chất Hóa học chỉ còn là những cái tên xa lạ.
Hóa học là khoa học về cấu tạo chất và các quá trình biến đổi, từ phản ứng cơ bản trong phòng thí nghiệm đến những ứng dụng thực tiễn sâu rộng trong đời sống. Khi môn học bị “Toán hóa” quá mức, học sinh dễ bị cuốn vào các bài toán dài, phức tạp, và quên đi bản chất thực sự của hóa học: hiểu cấu tạo phân tử, dự đoán tính chất, và giải thích các hiện tượng hóa học.
Trong thực tiễn, những kiến thức cơ bản này vô cùng quan trọng: hiểu tính chất acid – base giúp kiểm soát pH trong xử lý nước; nắm cấu tạo và phản ứng hữu cơ là nền tảng để sản xuất thuốc, polymer, hoặc vật liệu mới; dự đoán tương tác hóa học giúp thiết kế thực phẩm, mỹ phẩm hay chất tẩy rửa an toàn. Khi học sinh chỉ biết “giải bài toán” mà không hiểu cơ chế, các em sẽ khó áp dụng hóa học vào các tình huống thực tế, từ phòng thí nghiệm đến đời sống hằng ngày.
Để khắc phục, chúng ta cần tái cân bằng cách dạy Hóa học đúng bản chất: giảm tải các bài toán rườm rà, nhấn mạnh cơ chế, nguyên lý và tư duy phân tích, kết hợp lý thuyết với thực hành và ứng dụng thực tiễn. Khi học sinh nắm vững nền tảng, các em không chỉ giải được bài toán, mà còn có khả năng vận dụng hóa học một cách sáng tạo, từ việc kiểm soát pH, thiết kế phản ứng hóa học, đến phát triển vật liệu và dược phẩm. Như vậy, Hóa học không còn là những con số trên giấy, mà là công cụ để hiểu và tác động lên thế giới xung quanh, đúng với bản chất khoa học của nó.
Nhiều ý kiến cho rằng, nếu không có những bài tập nặng tính toán, chúng ta sẽ không thể phân loại được học sinh khá, giỏi. Tôi không đồng tình. Vấn đề nằm ở chỗ chúng ta đang nhầm lẫn giữa năng lực giải Toán và tư duy Hóa học, và từ đó chọn cách dễ nhất: dùng độ phức tạp của Toán học để làm thước đo cho môn Hóa.
Thực chất, một học sinh giỏi Hóa không phải là người giải nhanh những hệ phương trình nhiều ẩn, mà là người hiểu sâu bản chất và có khả năng suy luận từ nguyên lý. Việc phân loại hoàn toàn có thể thực hiện bằng những tiêu chí đúng bản chất hơn: tư duy biện luận dựa trên cơ chế; khả năng thiết lập mô hình và chứng minh; năng lực giải quyết vấn đề thực tiễn.
Một thang đo sai sẽ cho kết quả sai. Nếu tiếp tục dùng độ rối của phép tính để đánh giá năng lực, chúng ta sẽ chỉ tạo ra những “thợ giải” thành thạo con số nhưng thiếu hụt tư duy khoa học. Điều cần hướng tới là những học sinh có khả năng hiểu sâu và suy luận trong thế giới vật chất ba chiều – nơi Hóa học thực sự tồn tại, chứ không phải những người chỉ giỏi thao tác trong “không gian đa chiều” của các phương trình.
Nguyễn Vũ Hoàng’Học Toán vất vả vì nặng công thức, ít tư duy’
Tích phân, đạo hàm ‘khó nuốt’
Vật vã học Toán rồi quên sạch
Kỹ sư 20 năm kinh nghiệm chịu thua bài Toán tích phân lớp 12
Giá trị tích phân, đạo hàm nhìn từ chuyện Steve Jobs học thư pháp
Nhân viên bán hàng chê phí công học tích phân, đạo hàm
Mùa tuyển sinh năm nay, không khó để tôi bắt gặp những dòng tâm sự của học sinh trên Threads. Có em hỏi nên học ngành gì? Có em hỏi ngành nào dễ xin việc? Có em hỏi liệu mình có chọn sai hay không? Khi một quyết định quan trọng của tuổi 18 đang được đem hỏi những người xa lạ trên mạng, nhiều người cho rằng đó là biểu hiện của sự thiếu định hướng. Tuy nhiên, vấn đề có lẽ phức tạp hơn.
Thế hệ trước bước vào đại học với lượng thông tin rất hạn chế. Chúng tôi chỉ có vài cuốn cẩm nang tuyển sinh, những bài báo giấy và lời khuyên từ thầy cô, cha mẹ. Sự lựa chọn không nhiều. Áp lực cũng đơn giản hơn. Trong khi đó, học sinh ngày nay có thể tiếp cận hàng nghìn video, bài viết và lời khuyên chỉ bằng một cú chạm. Các em biết nhiều hơn thế hệ trước. Nhưng chính sự phong phú ấy lại tạo ra một nghịch lý mới. Các em không biết nên tin ai?
Báo cáo "The State of Global Teenage Career Preparation" do OECD công bố năm 2025 cho thấy học sinh tại nhiều quốc gia đang thể hiện mức độ bất định nghề nghiệp rất cao. Nghiên cứu dựa trên dữ liệu của gần 700.000 học sinh tại 81 quốc gia và vùng lãnh thổ. Báo cáo cũng chỉ ra kỳ vọng nghề nghiệp của thanh thiếu niên thường không phản ánh nhu cầu thực tế của thị trường lao động. Điều đó cho thấy sự hoang mang của học sinh Việt không phải là một hiện tượng cá biệt. Đây là vấn đề toàn cầu.
Điều đáng chú ý là càng nhiều thông tin, việc ra quyết định càng không dễ dàng. Các em phải đối diện với hàng trăm ngành học, những nghề nghiệp mới xuất hiện liên tục và vô số lời khuyên trái chiều trên mạng xã hội. Chỉ cần một video nói về ngành "hot" hay mức lương hấp dẫn, lựa chọn của học sinh có thể dao động.
>> 'Tốn 450 triệu đồng học Quản trị kinh doanh nhưng ra trường không biết làm gì'
Trong bối cảnh ấy, Threads hay TikTok đang trở thành nơi tư vấn hướng nghiệp bất đắc dĩ. Tuy nhiên, một người lạ trên mạng chỉ nhìn thấy điểm thi và vài dòng mô tả ngắn. Họ không biết năng lực, tính cách, điều kiện gia đình hay giá trị sống của người hỏi. Vì vậy, những lời khuyên nhận được thường mang tính kinh nghiệm cá nhân hơn là định hướng dài hạn.
Nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Kinh tế và Xã hội Ireland công bố năm 2023 cho thấy quyết định nghề nghiệp của thanh niên chịu ảnh hưởng rất lớn từ cha mẹ, giáo viên, các hoạt động trải nghiệm và tư vấn hướng nghiệp. Những học sinh được tiếp cận nhiều hơn với các nguồn hỗ trợ này có xu hướng đưa ra quyết định tự tin và phù hợp hơn.
Có lẽ, vấn đề của học sinh hiện nay không nằm ở chỗ thiếu thông tin. Điều các em thiếu là những cuộc đối thoại có chất lượng. Chúng ta thường nghĩ rằng chỉ cần cung cấp thêm thông tin là đủ. Nhưng hướng nghiệp không phải là việc đưa ra một đáp án đúng. Hướng nghiệp là quá trình giúp một người hiểu chính mình. Các em cần được trò chuyện với cha mẹ, cần được lắng nghe từ thầy cô, cần cơ hội trải nghiệm thực tế và tiếp xúc với những người đang làm nghề.
Tuổi 18 không cần phải biết chính xác mình sẽ trở thành ai trong 30 năm tới. Ngay cả người trưởng thành cũng có thể thay đổi nghề nghiệp nhiều lần trong đời. Sai lầm lớn nhất không phải là chọn nhầm ngành mà là để những quyết định quan trọng của tuổi trẻ được dẫn dắt bởi thuật toán và những bình luận từ những người chưa từng biết mình.
Tôi tin điều học sinh cần nhất lúc này không phải là thêm một video "top 10 ngành lương cao". Thứ các em cần là một người đồng hành đủ kiên nhẫn để cùng đi qua giai đoạn nhiều hoang mang nhất của tuổi 18.
Đọc bài 3 năm nay tôi bị sếp 'sa thải thầm lặng' tôi rất tâm đắc và đồng cảm với bạn tác giả vì thấy bóng dáng mình trong đó. Ngày ba mươi tuổi như tác giả bài viết, tôi cũng đã từng bị "sa thải thầm lặng" như vậy.
Bạn tác giả với câu "Nếu cuộc đời cho bạn một trái chanh chua, hãy bỏ thêm đường để biến nó thành một ly nước chanh ngon tuyệt" đã vượt lên hoàn cảnh khó khăn. Tôi chọn cách "lùi một bước biển rộng trời cao".
Tôi tốt nghiệp thủ khoa ngành cơ khí ở một trường đại học, ra trường lẽ ra nếu ở lại khoa học tập và làm việc tôi có thể đã làm đúng nghề đã học và triển vọng tiến xa như lời thầy trưởng khoa đã nhận xét lúc đó.
Nhưng vì muốn kiếm tiền nhanh để mua nhà và lập gia đình, tôi đã xin vào làm việc ở một đơn vị cùng trường đại học mình đã học nhưng không thuộc chuyên ngành mình đã được đào tạo.
Làm trái nghề, tôi phải học lại từ đầu và cố gắng rất nhiều. Sau hai năm làm việc tôi được biên chế suốt đời của đơn vị và được sếp đơn vị cơ cấu vào vị trí cấp phó.
Mâu thuẫn nội bộ, bằng mặt không bằng lòng nảy sinh từ đây. Thật không may, sếp tôi vì nhiều lý do nên nghỉ việc ở đơn vị tôi. Vài anh em đồng nghiệp cũng nghỉ việc để đi theo sếp đến nơi mới, tôi vì nhà ở gần nơi công tác và tự tin vào năng lực của mình nên vẫn ở lại.
Ban lãnh đạo mới thì chưa biết gì về đơn vị, phần lớn những người cũ ở đơn vị do bất mãn với sếp cũ từ trước và để lập công với lãnh đạo mới đã thêu dệt thêm rất nhiều việc không hay về sếp cũ. Tôi một trong những người thân cận với sếp cũ còn ở lại bị cô lập một cách hiển nhiên.
Tôi có biên chế suốt đời nên không bị đuổi việc nhưng không được giao việc nào cụ thể, không được đóng góp ý kiến, chỉ được sai làm các việc lặt vặt khi cần... Tôi cũng nhiều lúc muốn nghỉ việc nhưng bao nỗi lo cơm áo, gạo tiền vợ mới sinh con, thu nhập thấp.
Nhiều lúc muốn chạy đến nơi sếp cũ xin việc, có lẽ ông sẽ nhận nhưng cứ nhờ vả người khác như vậy cũng không phải là cách hay. Tôi chọn cách đứng trên đôi chân của mình và lùi một bước biển rộng trời cao.
Trong vài năm thất sủng ở đơn vị như vậy tôi có rất nhiều thời gian và trong một lần đi lang thang, buồn và không biết sẽ về đâu, tôi và vợ thấy người ta rao bán mảnh đất mà khả năng mình cộng với vay mượn của bố mẹ nữa thì có thể mua được, vậy là chúng tôi mua. Đó là một ngã rẽ bất ngờ và là điểm bắt đầu của nghề tay trái-kinh doanh bất động sản suốt hai mươi hai năm sau đó chưa một lần thua lỗ.
Giờ thì vợ chồng tôi bỏ nghề, ngoài nhà cửa đang ở, nhà chuẩn bị cho con mỗi đứa mỗi cái khi lập gia đình, một khoản tiết kiệm bằng mười năm thu nhập của hai vợ chồng khi đi làm để dưỡng già và một khoản tiết kiệm lấy lãi hàng tháng gửi cho các tổ chức từ thiện bảo trợ xã hội.
Tôi vẫn công tác ở đơn vị cũ, vẫn hoàn thành tốt nhiệm vụ, tốt thôi chứ chưa bao giờ xuất sắc như những năm đầu mới đi làm. Cuộc đời dạy tôi rằng khi bạn tự đứng được trên đôi chân của mình thì những người xung quanh tự nhiên không ai còn cô lập bạn nữa
Tôi không cho rằng mình giỏi và cũng không muốn khuyên ai làm theo cách của mình. Chỉ muốn chia sẽ một cách nhìn cuộc sống là khi cánh cửa này đóng lại sẽ có cánh cửa khác mở ra và đôi khi còn tốt hơn.
Thời gian qua có nhiều quy định được ban hành xung quanh hành vi ép người khác uống rượu bia và hút thuốc lá điện tử. Cụ thể, Nghị định 90/2026 vừa được Chính phủ ban hành, quy định mức xử phạt từ 3 đến 5 triệu đồng cho hành vi sử dụng thuốc lá điện tử hoặc thuốc lá nung nóng. Hay Nghị định 90/2026 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế quy định hành vi lôi kéo, ép buộc người khác uống rượu bia hoặc sử dụng thức uống này ngay trước, trong giờ làm việc, học tập sẽ khiến người vi phạm bị xử phạt 1-3 triệu đồng.
Tôi hoàn toàn ủng hộ các quy định trên. Nhưng điều khiến tôi băn khoăn không nằm ở con số xử phạt. Các mức phạt đã có đủ hết, nhưng thực tế đã có ai bị phạt chưa, tố giác vi phạm thế nào, ai xử phạt?
Lấy chính trường hợp của bản thân, tôi thường xuyên bị sếp gọi đi nhậu (thực chất là ép vì không đi không được). Trong những buổi như vậy, các đồng nghiệp của tôi hút thuốc lá (cả loại truyền thống lẫn thuốc lá điện tử) là chuyện cơm bữa. Tôi không muốn uống rượu bia, cũng không hút thuốc, nhưng vẫn phải ngồi đó trong hơi men và giữa làn khói trắng. Nếu những hành vi ấy là vi phạm, thì tôi phải làm gì? Tố giác ư? Với ai? Và rồi chuyện gì sẽ xảy ra sau đó?
>> Kết quả sau nửa năm trời tôi từ chối tất cả lời mời nhậu
Không chỉ trong môi trường công sở. Ở nơi công cộng, tôi vẫn thường xuyên bắt gặp người hút thuốc lá điện tử. Có những lúc tôi tự hỏi: nếu muốn phản ánh, tôi phải báo cho ai? Liệu bản thân có bị liên lụy gì không? Hay chỉ có thể nhắc nhở rồi thôi? Những câu hỏi rất cụ thể ấy, nếu không có câu trả lời rõ ràng, thì quy định dù đúng đến đâu cũng dễ rơi vào tình trạng "biết là có, nhưng khó áp dụng".
Thực tế, không phải ai cũng đủ hiểu biết pháp luật và dũng khí để đứng ra tố giác, nhất là khi người vi phạm lại là cấp trên, đồng nghiệp, hay đơn giản là những người xa lạ nhưng có thể phản ứng tiêu cực. Nếu không có một cơ chế thực thi rõ ràng, dễ tiếp cận và an toàn, thì gánh nặng lại quay về phía người bị ảnh hưởng.
Có thể đó là một đường dây nóng dễ nhớ, một ứng dụng phản ánh nhanh, bảo mật danh tính, hay đơn giản là quy định rõ trách nhiệm của lực lượng tại chỗ như công an, quản lý trật tự, ban quản lý địa điểm công cộng... Khi người dân biết rõ, "gõ cửa" đúng nơi, pháp luật mới có cơ hội đi vào đời sống.
Tôi ủng hộ các quy định mới, nhưng sự ủng hộ đó đi kèm một kỳ vọng: luật không chỉ để đọc, mà phải để dùng. Và muốn dùng được, thì người như tôi cần biết rõ mình phải làm gì, khi nào, và ai sẽ đứng ra bảo vệ mình nếu tôi lên tiếng?
L.D'Nên xử phạt người hút thuốc lá khi lái xe bằng camera AI'