Đầu tháng 4, Vườn Quốc gia Cúc Phương, Ninh Bình, vào mùa sinh sản của hàng trăm loài bướm và đom đóm.
Năm nay, mùa bướm đến sớm hơn khoảng 2-3 tuần. Đại diện vườn cho biết bướm và đom đóm xuất hiện sớm do biến động thời tiết. Miền Bắc ấm lên sớm, độ ẩm cao ngay từ cuối xuân đã tạo điều kiện thuận lợi cho sâu non phát triển nhanh, chuyển hóa sớm thành bướm. Ảnh: Đăng Foto
Đầu tháng 4, Vườn Quốc gia Cúc Phương, Ninh Bình, vào mùa sinh sản của hàng trăm loài bướm và đom đóm.
Năm nay, mùa bướm đến sớm hơn khoảng 2-3 tuần. Đại diện vườn cho biết bướm và đom đóm xuất hiện sớm do biến động thời tiết. Miền Bắc ấm lên sớm, độ ẩm cao ngay từ cuối xuân đã tạo điều kiện thuận lợi cho sâu non phát triển nhanh, chuyển hóa sớm thành bướm. Ảnh: Đăng Foto
Ghé thăm vườn quốc gia cuối tháng 3, chị Hạnh Hạnh, du khách Hà Nội, cho biết bướm xuất hiện với mật độ dày dù chưa phải cao điểm rộ nhất. Theo kinh nghiệm của chị, bướm tập trung nhiều nhất tại bãi xe lối vào Động Người Xưa và khu vực hồ cạnh cổng vườn.
Do đặc thù địa hình là đường thẳng xuyên rừng, du khách có thể chủ động dừng chân tại bất kỳ điểm nào dọc hành trình để ghi lại những khung hình ưng ý. Ảnh: whereizhanhan
Ghé thăm vườn quốc gia cuối tháng 3, chị Hạnh Hạnh, du khách Hà Nội, cho biết bướm xuất hiện với mật độ dày dù chưa phải cao điểm rộ nhất. Theo kinh nghiệm của chị, bướm tập trung nhiều nhất tại bãi xe lối vào Động Người Xưa và khu vực hồ cạnh cổng vườn.
Do đặc thù địa hình là đường thẳng xuyên rừng, du khách có thể chủ động dừng chân tại bất kỳ điểm nào dọc hành trình để ghi lại những khung hình ưng ý. Ảnh: whereizhanhan
VQG Cúc Phương có hơn 400 loài bướm như bướm phượng, bướm khế, hồ điệp, bướm phấn (ảnh) với đủ màu sắc và kích cỡ, phổ biến nhất là các loài bướm trắng và vàng. Mùa bướm ở Cúc Phương kéo dài đến khoảng cuối tháng 5. Ảnh: whereizhanhan
VQG Cúc Phương có hơn 400 loài bướm như bướm phượng, bướm khế, hồ điệp, bướm phấn (ảnh) với đủ màu sắc và kích cỡ, phổ biến nhất là các loài bướm trắng và vàng. Mùa bướm ở Cúc Phương kéo dài đến khoảng cuối tháng 5. Ảnh: whereizhanhan
Du khách xếp hàng ở lối vào Động Người Xưa chờ đến lượt chụp ảnh cùng đàn bướm, ngày 7/4.
Đại diện vườn cho biết lượng khách đổ về đông ngay cả trong tuần. Nhiều du khách “săn” ảnh bướm hồi tuần đầu tháng 4 cho hay, từ khoảng 10h sáng các ngày trong tuần, lượng người đã đổ về gây ùn tắc.
Để có trải nghiệm tốt nhất, du khách từ Hà Nội nên xuất phát từ 5h sáng để có mặt tại vườn lúc 7h30. Việc đi sớm giúp tránh cảnh ùn tắc và ghi hình bướm đẹp nhất, khi nắng gắt bướm thường tản vào bóng râm để tránh nóng. Ảnh: Nhân Hưng
Du khách xếp hàng ở lối vào Động Người Xưa chờ đến lượt chụp ảnh cùng đàn bướm, ngày 7/4.
Đại diện vườn cho biết lượng khách đổ về đông ngay cả trong tuần. Nhiều du khách “săn” ảnh bướm hồi tuần đầu tháng 4 cho hay, từ khoảng 10h sáng các ngày trong tuần, lượng người đã đổ về gây ùn tắc.
Để có trải nghiệm tốt nhất, du khách từ Hà Nội nên xuất phát từ 5h sáng để có mặt tại vườn lúc 7h30. Việc đi sớm giúp tránh cảnh ùn tắc và ghi hình bướm đẹp nhất, khi nắng gắt bướm thường tản vào bóng râm để tránh nóng. Ảnh: Nhân Hưng
Khung cảnh rừng Cúc Phương mùa bướm
Khung cảnh bướm bay ở khu vực hồ cạnh cổng vườn. Theo kinh nghiệm của Hạnh Hạnh, thời điểm dễ săn bướm nhất là những ngày sau mưa. Đầu tháng 5 dễ bắt gặp bướm nhiều màu. Video: Hung Phan
Ngoài “đặc sản” cánh bướm, đại diện Ban quản lý VQG cho biết các gốc ráy khổng lồ cũng trở thành điểm nhấn. Trong điều kiện tự nhiên tại Cúc Phương, loài ráy voi phát triển thân mập mạp theo cụm, cao 3-4 m với phiến lá dài tới 1,5 m. Đơn vị quản lý cũng cảnh báo loài cây này chứa tinh thể calci oxalat trong nhựa, có thể gây kích ứng da nếu tiếp xúc trực tiếp. Ảnh: Linh Vũ
Ngoài “đặc sản” cánh bướm, đại diện Ban quản lý VQG cho biết các gốc ráy khổng lồ cũng trở thành điểm nhấn. Trong điều kiện tự nhiên tại Cúc Phương, loài ráy voi phát triển thân mập mạp theo cụm, cao 3-4 m với phiến lá dài tới 1,5 m. Đơn vị quản lý cũng cảnh báo loài cây này chứa tinh thể calci oxalat trong nhựa, có thể gây kích ứng da nếu tiếp xúc trực tiếp. Ảnh: Linh Vũ
Tháng 4, Cúc Phương còn thu hút du khách bởi mùa đom đóm đêm. Các tour “săn” đom đóm diễn ra trong khung giờ từ 19h đến 20h. Du khách có thể lựa chọn lưu trú tại Khách sạn Cổng Rừng ngay lối vào vườn quốc gia. Giá phòng tại đây dao động 500.000-800.000 đồng. Du khách có thể liên hệ trực tiếp lễ tân của VQG để đặt phòng lưu trú qua đêm. Ảnh: Đăng Foto
Tháng 4, Cúc Phương còn thu hút du khách bởi mùa đom đóm đêm. Các tour “săn” đom đóm diễn ra trong khung giờ từ 19h đến 20h. Du khách có thể lựa chọn lưu trú tại Khách sạn Cổng Rừng ngay lối vào vườn quốc gia. Giá phòng tại đây dao động 500.000-800.000 đồng. Du khách có thể liên hệ trực tiếp lễ tân của VQG để đặt phòng lưu trú qua đêm. Ảnh: Đăng Foto
Con đường rợp bóng cây cổ thụ giữa lòng rừng nguyên sinh Cúc Phương. Để chủ động di chuyển trong rừng, du khách có thể thuê xe máy với giá 250.000 đồng mỗi xe.
Với những du khách tham quan VQG trong ngày, lịch trình lý tưởng nên từ sáng sớm và kết thúc tham quan khoảng 14-15h. Hiện vé vào cổng có giá 60.000 đồng một người, phí gửi xe tự túc dao động 20.000-30.000 đồng. Ảnh: Đăng Foto
Con đường rợp bóng cây cổ thụ giữa lòng rừng nguyên sinh Cúc Phương. Để chủ động di chuyển trong rừng, du khách có thể thuê xe máy với giá 250.000 đồng mỗi xe.
Với những du khách tham quan VQG trong ngày, lịch trình lý tưởng nên từ sáng sớm và kết thúc tham quan khoảng 14-15h. Hiện vé vào cổng có giá 60.000 đồng một người, phí gửi xe tự túc dao động 20.000-30.000 đồng. Ảnh: Đăng Foto
Cá thể hươu sao trong Vườn quốc gia Cúc Phương.
Ngoài săn cảnh đẹp mùa bướm sinh sản, du khách có thể bắt gặp một số loài động vật hoang dã trong rừng.
Vườn quốc gia Cúc Phương đang đẩy mạnh chiến lược “tái hoang dã” với mục tiêu chủ động phục hồi các quần thể động vật và hệ sinh thái. Đến năm 2050, đơn vị hướng tới xây dựng một hệ sinh thái rừng đặc dụng hoàn thiện, nơi các chuỗi thức ăn và tương tác sinh học được vận hành tự nhiên. Ảnh: Đăng Foto
Cá thể hươu sao trong Vườn quốc gia Cúc Phương.
Ngoài săn cảnh đẹp mùa bướm sinh sản, du khách có thể bắt gặp một số loài động vật hoang dã trong rừng.
Vườn quốc gia Cúc Phương đang đẩy mạnh chiến lược “tái hoang dã” với mục tiêu chủ động phục hồi các quần thể động vật và hệ sinh thái. Đến năm 2050, đơn vị hướng tới xây dựng một hệ sinh thái rừng đặc dụng hoàn thiện, nơi các chuỗi thức ăn và tương tác sinh học được vận hành tự nhiên. Ảnh: Đăng Foto
Mai Phương
Mời độc giả gửi bài, câu hỏi tại đây hoặc về dulich@vnexpress.net
Chuyến bay do Công ty TNHH Thương mại và Du lịch Anex Việt Nam khai thác. Chào đón đoàn tại sân bay có đại diện Tổng lãnh sự Nga tại Đà Nẵng, các cơ quan cùng đại diện Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch thành phố Đà Nẵng.
Bà Nguyễn Thị Duyên, Thành viên HĐQT Anex Việt Nam, cho biết khách Nga và CIS có đặc điểm là thời gian lưu trú trung bình 6 - 9 đêm, du khách nghỉ tại cơ sở từ 3 đến 5 sao. Đây được xem là dòng khách "sang" góp phần sôi động cho tăng trưởng du lịch Đà Nẵng.
Theo bà Duyên, doanh nghiệp dự kiến tăng cường công suất khai thác trong giai đoạn cao điểm từ ngày 15-5 đến 30-9.
Sau khi tăng công suất, lượng khách đến Đà Nẵng có thể đạt khoảng 11.000 lượt mỗi tháng, bình quân khoảng 1.800 phòng lưu trú mỗi đêm.
Chương trình đưa khách Nga đến Đà Nẵng năm 2026 bắt đầu từ nay đến cuối tháng 10.
Đường bay từ Đà Nẵng kết nối 8 thành phố của Nga, Cộng đồng các quốc gia độc lập - CIS và Belarus. Dự kiến sân bay Đà Nẵng sẽ đón dòng khách này bình quân mỗi tháng 36 chuyến bay, tương đương khoảng 4.800 khách/tháng.
Theo Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch thành phố Đà Nẵng, trong 3 tháng đầu năm 2026 Đà Nẵng đón khoảng 2,3 triệu lượt khách quốc tế, trong đó khách Nga và CIS đạt hơn 100.000 lượt - chiếm khoảng 4,35%.
Ngành du lịch thành phố đặt mục tiêu tăng trưởng 30 - 40% trong năm 2026 so với năm 2025.
Trong năm 2026, các đường bay từ Nga và CIS đến Đà Nẵng được mở rộng từ Kazakhstan, Uzbekistan, Belarus và nhiều thành phố của Nga. Các chuyến bay chủ yếu được tổ chức theo hình thức thuê chuyến (charter) bởi các doanh nghiệp lữ hành.
Theo kế hoạch, Anex Tour sẽ khai thác khoảng 169 chuyến - tương đương 23.000 lượt khách. Crystal Bay dự kiến khai thác khoảng 400 chuyến, với tổng lượng khách từ 80.000 đến 100.000 lượt.
Giữa rất nhiều cuốn sách về du lịch và khám phá, Himalaya: Đất Nước Lửa Khí Không (Nhà xuất bản Thế Giới) của Nguyễn Mạnh Duy xuất hiện như một nỗ lực khác biệt: không kể về hành trình đi đến đâu, mà đào sâu vào câu hỏi đi để hiểu gì. Đây không đơn thuần là một cuốn sách ảnh, mà là một "photography storytelling book" - nơi hình ảnh, ký sự và chiêm nghiệm văn hóa đan cài để mở ra một thế giới vừa hùng vĩ, vừa nội tâm.
Sau hơn một thập kỷ gắn bó với dãy Himalaya, tác giả không chọn cách kể vội vàng. Anh đi, ở lại, quan sát, rồi quay lại - nhiều lần như thế trong suốt 12 năm qua - để tích lũy một "tầng ký ức" đủ dày trước khi chắt lọc thành gần 500 trang sách. Ở đó, Himalaya không chỉ là "nóc nhà thế giới", mà là một hệ sinh thái tinh thần, nơi thiên nhiên, con người và niềm tin hòa quyện vào nhau.
Điểm đặc biệt của cuốn sách không nằm ở việc ghi lại những cảnh quan hùng vĩ - điều mà bất kỳ nhiếp ảnh gia nào đến Himalaya cũng có thể làm. Điều đáng nói là cách Nguyễn Mạnh Duy tổ chức thế giới ấy bằng một hệ quy chiếu riêng: "Mandala ngũ đại".
Theo đó, toàn bộ đời sống Himalaya được nhìn qua năm trụ cột: thiên nhiên, văn hóa, con người, lối sống và đức tin. Năm yếu tố này tương ứng với "Đất - Nước - Lửa - Khí - Không", tạo thành một cấu trúc đa chiều vừa vật chất, vừa tinh thần.
Cách tiếp cận này giúp cuốn sách vượt ra ngoài phạm vi của một ấn phẩm nhiếp ảnh hay du ký. Himalaya: Đất Nước Lửa Khí Không giống một nỗ lực "giải mã", không phải bằng lý thuyết, mà bằng trải nghiệm cá nhân tích lũy qua thời gian dài. Lớp ngoài, độc giả nhìn thấy những dãy núi phủ tuyết, những ngôi làng treo mình giữa mây. Nhưng càng đi sâu, những hình ảnh ấy mở ra đời sống văn hóa bản địa, rồi dẫn đến tầng sâu hơn: đời sống tâm linh, nơi con người đối diện với chính mình.
Nguyễn Mạnh Duy không phải là người xa lạ với Himalaya theo nghĩa thông thường. Anh từng chinh phục những đỉnh núi trên 8.000m, trong đó có Everest - "nóc nhà thế giới".
Nhưng điều đáng chú ý là cuốn sách gần như không đặt trọng tâm vào hành trình "chinh phục". Trái lại, tác giả nhiều lần nhấn mạnh rằng điều giữ chân anh không phải là những đỉnh cao, mà là đời sống văn hóa và tinh thần của vùng đất này.
Có thể nói, đây là sự dịch chuyển từ "chinh phục thiên nhiên" sang "hòa vào thiên nhiên"; từ việc đo đếm bằng độ cao, sang việc cảm nhận bằng chiều sâu. Chính sự dịch chuyển này khiến cuốn sách mang màu sắc chiêm nghiệm rõ rệt - nơi mỗi bức ảnh không chỉ là một khoảnh khắc, mà là một lát cắt của hành trình nội tâm.
Một chi tiết đáng chú ý là phần lớn hình ảnh trong sách được chụp bằng máy ảnh film - một lựa chọn không phổ biến trong thời đại số. Điều này không chỉ là câu chuyện kỹ thuật, mà là cách tác giả lựa chọn đối thoại với thời gian. Film không cho phép chụp nhiều, không dễ sửa, và mỗi khuôn hình đều mang tính "không thể lặp lại".
Chính vì vậy, mỗi bức ảnh trong sách giống như một dạng "kết tinh" của hành trình, của điều kiện khắc nghiệt, và của sự kiên nhẫn. Như chính tác giả chia sẻ, những cuộn film phải đi qua nhiều hành trình rủi ro, nhưng cũng vì thế mà mỗi hình ảnh trở nên có trọng lượng hơn. Ở đây, nhiếp ảnh không còn là công cụ ghi nhận, mà trở thành một cách lưu giữ ký ức một cách chậm rãi và có ý thức.
Nếu phải tìm một cách định nghĩa ngắn gọn, có thể xem Himalaya: Đất Nước Lửa Khí Không như một "cánh cổng". Cánh cổng ấy mở ra cho độc giả Việt Nam một vùng văn hóa vốn xa xôi, nhưng lại có nhiều điểm chạm với đời sống tinh thần Á Đông: niềm tin, nghi lễ, sự gắn bó với thiên nhiên, và hành trình đi vào nội tâm.
Không dừng lại ở cuốn sách, tác giả còn tổ chức các hoạt động giao lưu, trưng bày, chia sẻ trải nghiệm như một cách kéo gần khoảng cách giữa Himalaya và công chúng trong nước. Ở góc độ này, cuốn sách không chỉ là sản phẩm cá nhân, mà còn là một nỗ lực kết nối văn hóa.
Một trong những điều đáng chú ý là cuốn sách không cố gắng "giải thích" Himalaya theo cách học thuật, mà để người đọc tự cảm nhận. Những hình ảnh, câu chuyện và chiêm nghiệm được đặt cạnh nhau, tạo nên một không gian mở - nơi mỗi người có thể tìm thấy điều riêng cho mình: có người nhìn thấy vẻ đẹp thiên nhiên, có người cảm nhận đời sống con người, có người lại bắt gặp những câu hỏi về chính mình.
Có lẽ vì vậy, cuốn sách không chỉ dành cho những người yêu nhiếp ảnh hay du lịch, mà còn cho những ai quan tâm đến đời sống nội tâm. Theo đó, hành trình đi vào Himalaya - như cách tác giả thể hiện - cũng là hành trình đi vào chính mình.
Giai đoạn 2021-2025 ghi nhận sự thống trị của bánh mì Việt trên các bảng xếp hạng ẩm thực toàn cầu. Bánh mì liên tục xuất hiện trong danh sách "các món sandwich ngon nhất thế giới" của CNN, trong top đầu các món ăn đường phố phải thử của TasteAtlas.
Tại tọa đàm "Bánh mì Việt Nam: Từ giá trị di sản ẩm thực đến định vị thương hiệu toàn cầu" thuộc khuôn khổ Lễ hội Bánh mì lần 4 tổ chức sáng 25/4, các chuyên gia đã tìm hướng đi để bánh mì xác lập vị thế thương hiệu bền vững toàn cầu.
Các chuyên gia cho rằng "món ăn mang tính di sản" này cần một lộ trình đầu tư chuyên nghiệp thay vì chỉ dựa vào hiệu ứng truyền thông.
Sự thay đổi về vị thế thương hiệu bắt đầu từ cách thế giới định danh món ăn này. Từ "Bánh mì" được đưa vào từ điển Oxford từ năm 2011, trong nhiều thập kỷ, truyền thông phương Tây vẫn thường gọi món ăn này bằng những tên mô tả như "Sandwich kiểu Pháp - Việt" hay "sandwich Việt Nam". Đến nay, tên gọi chính danh "bánh mì" đã xuất hiện phổ biến trên các kênh truyền thông quốc tế.
Theo GS. TS. Eric Olmedo, Trưởng khoa Quản trị Du lịch và Khách sạn Trường Đại học Kinh tế - Tài chính TP HCM (UEF), trước đây thế giới thường nhìn bánh mì Việt qua lăng kính của người Pháp. Hiện, tên gọi "bánh mì" được sử dụng độc lập trên các tờ báo lớn như Le Monde hay Vogue chính là sự thừa nhận bánh mì đã thoát ly hoàn toàn khỏi cái bóng của phương Tây.
"Người Việt đã thành công trong việc khẳng định chủ quyền đối với món ăn này, biến nó thành một thực thể di sản riêng biệt trên bản đồ thế giới", ông Olmedo nói.
Ông cho biết sự dịch chuyển này thể hiện rõ ở Pháp, khi bánh mì không còn bó hẹp trong các khu phố người Hoa dành cho tầng lớp lao động, mà tiến thẳng vào những quận trung tâm sầm uất của Paris, hiện diện trong các nhà hàng cao cấp.
Sức mạnh giúp bánh mì "phủ sóng" nhanh chóng chính là khả năng thích ứng tốt. TS. Lê Thị Thanh Thủy, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Văn hóa TP HCM nhận định bánh mì phù hợp với mọi nhóm khách hàng và mọi thời điểm trong ngày. Trong nhịp sống hiện đại, đặc tính gọn nhẹ, dễ đóng gói giúp bánh mì giữ được chất lượng tốt nhất khi tiếp cận thực khách qua các dịch vụ giao hàng trực tuyến.
Tuy nhiên, bà Thủy chỉ ra thực trạng bánh mì hiện nay phát triển rời rạc, thiếu một sự thống nhất về cách làm thương hiệu và quản lý chất lượng. "Muốn đi đường dài, cần xóa bỏ tính tự phát, tập trung vào việc chuẩn hóa quy trình và ứng dụng công nghệ để kiểm soát chất lượng đồng nhất", bà Thủy nói.
Thực tế tại thị trường quốc tế cho thấy, khi quy trình được làm kỹ lưỡng, bánh mì Việt hoàn toàn chinh phục những thực khách khó tính. Câu chuyện của những người Việt mang bánh mì ra thế giới là minh chứng cụ thể cho cách vận hành bài bản.
Tại New York, tiệm Bánh Anh Em của chị Hồng Như đã tạo nên hiện tượng khi thực khách chấp nhận xếp hàng chờ đợi 2-3 tiếng đồng hồ. Thành công này đến từ quy trình thủ công khắt khe. Bột được ủ qua đêm, bánh nướng liên tục từng mẻ nhỏ tại chỗ. Từng nguyên liệu như pate Hải Phòng, tương ớt hay thịt nướng đều được chế biến tại bếp thay vì nhập hàng công nghiệp.
Tại Singapore, chị Hà Lâm Tú Quỳnh, chủ tiệm Bánh Mì Society, cho biết để mở một tiệm bánh, chị phải nộp tới 6 bản vẽ kỹ thuật về điện, nước, phòng cháy chữa cháy với chi phí hàng nghìn USD cho mỗi bản. Không gian bếp phải đáp ứng những chi tiết nhỏ nhất như bồn rửa riêng cho thịt và rau, tủ lạnh hiển thị nhiệt độ rõ ràng. Quy định đóng gói kín hoàn toàn khi vận chuyển khiến bánh dễ bị mất phom dáng hoặc ỉu. Để giữ chất lượng, chị Quỳnh chấp nhận chi phí cao hơn để đóng bánh trong thùng carton và chấp nhận bỏ đi 20% mỗi mẻ bánh chỉ vì hình dáng không đạt chuẩn.
Tuy nhiên, chuẩn hóa quy trình mới chỉ là điều kiện cần. Để thực sự định vị thương hiệu bền vững tại toàn cầu, các chuyên gia cho rằng cần một chiến lược thích nghi thông minh để món ăn trở nên gần gũi nhưng không mất chất. GS. Eric Olmedo gợi dẫn bài học từ món California Roll của người Nhật. Việc thay cá sống bằng bơ và thanh cua vào những năm 1970 đã giúp Sushi vượt qua rào cản văn hóa để phù hợp với khẩu vị người Mỹ mà vẫn giữ được vị thế của một món ăn tinh tế.
Từ ví dụ này, ông Eric cho rằng bánh mì Việt cũng cần một chiến lược thích nghi linh hoạt. Sẵn sàng biến tấu một phần nguyên liệu phụ để hòa nhập với văn hóa địa phương nhưng tuyệt đối giữ vững các thành phần cốt lõi như đồ chua, rau thơm và pate đặc trưng.
"Điều này có thể giúp bánh mì xác lập vị thế riêng biệt giữa hàng loạt loại thức ăn nhanh khác, trở thành một thương hiệu ẩm thực có bản sắc trên toàn cầu", ông Eric nói.
Cùng với chiến lược thích nghi về khẩu vị, TS. Lê Thị Thanh Thủy đề xuất lộ trình dựa trên 5 trụ cột mang tính hệ thống để bánh mì tạo ra lợi ích thực tế và có chỗ đứng vững chắc trên thế giới.
Theo bà, cần hoàn thiện hồ sơ trình UNESCO công nhận Bánh mì Việt Nam là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại để định vị giá trị di sản. Bước đi chiến lược này tạo ra "tấm hộ chiếu" quyền lực giúp bánh mì vươn tầm thành thương hiệu quốc gia mang sức mạnh ngoại giao văn hóa.
Chú trọng nghệ thuật kể chuyện (storytelling) để truyền tải lịch sử và sự sáng tạo của món ăn lên không gian số. Việc xây dựng câu chuyện văn hóa sẽ tạo kết nối cảm xúc với thực khách toàn cầu hơn là việc chỉ bán một sản phẩm thuần túy.
Số hóa và ứng dụng công nghệ là trụ cột tạo niềm tin và sự lan tỏa rộng rãi. Việc xây dựng Bản đồ số bánh mì Việt Nam và các tour tham quan ảo toàn cầu sẽ giúp thực khách hình dung rõ về quy trình chế biến, trải nghiệm thực tế ảo về không gian văn hóa bánh mì dù đang ở bất cứ đâu.
Tính minh bạch cũng được đặt lên hàng đầu thông qua việc ứng dụng Blockchain để truy xuất nguồn gốc. Giải pháp này giúp công khai mọi thông tin về nguyên liệu từ trang trại đến ổ bánh, tạo niềm tin tuyệt đối với những thị trường khắt khe.
Trụ cột tiếp theo là tối ưu hóa vận hành bằng trí tuệ nhân tạo (AI). Các ứng dụng AI đảm nhiệm vai trò dự báo nhu cầu thị trường và xu hướng tiêu dùng, giúp các doanh nghiệp và cơ sở sản xuất chủ động điều chỉnh chiến lược, nâng cao hiệu quả kinh tế.
Theo bà Thủy, khi giá trị di sản được cộng hưởng cùng sức mạnh số hóa, bánh mì Việt Nam sẽ trở thành một thương hiệu toàn cầu chuyên nghiệp và bền vững trong tương lai.