Tính đến ngày 30-4, bức tranh lợi nhuận quý 1-2026 của ngành ngân hàng dần hé lộ khi nhiều nhà băng công bố báo cáo tài chính.
Đáng chú ý, nhóm đạt lợi nhuận trên 10.000 tỉ đồng tiếp tục mở rộng với sự góp mặt của Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank, VCB) và Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam (VietinBank, CTG).
Tại Vietcombank, lợi nhuận trước thuế quý 1 đạt gần 11.803 tỉ đồng, tăng 9% so với cùng kỳ, bất chấp việc ngân hàng đẩy mạnh trích lập dự phòng rủi ro tín dụng.
Động lực tăng trưởng đến từ thu nhập lãi thuần đạt 17.651 tỉ đồng, tăng 29%, cùng với sự cải thiện ở mảng dịch vụ và hoạt động khác. Tuy nhiên, điểm đáng lưu ý là chi phí dự phòng tăng gấp 7 lần, lên hơn 2.493 tỉ đồng, phản ánh áp lực chất lượng tài sản.
Tính đến cuối quý 1, tổng nợ xấu của Vietcombank tăng 12%, lên 10.868 tỉ đồng. Đáng chú ý, nợ có khả năng mất vốn (nợ nhóm 5) chiếm tới 76% tổng nợ xấu, trong khi nợ nghi ngờ tăng đột biến gấp 7 lần đầu năm. Dù vậy, tỉ lệ nợ xấu trên dư nợ vẫn được kiểm soát ở mức 0,62%.
Trong khi đó VietinBank ghi nhận mức tăng trưởng lợi nhuận mạnh hơn, với lãi trước thuế đạt hơn 11.139 tỉ đồng, tăng 63% so với cùng kỳ. Hầu hết các mảng kinh doanh đều tăng trưởng, đặc biệt thu nhập lãi thuần tăng 25% lên 19.385 tỉ đồng, cùng với sự bứt phá của các nguồn thu ngoài lãi như kinh doanh ngoại hối và chứng khoán đầu tư.
Chi phí dự phòng rủi ro tín dụng của VietinBank giảm 5%, còn 7.700 tỉ đồng, qua đó hỗ trợ đáng kể cho tăng trưởng lợi nhuận. Đồng thời chất lượng tài sản được cải thiện khi tổng nợ xấu giảm 6% xuống còn 20.598 tỉ đồng, kéo tỉ lệ nợ xấu/dư nợ từ 1,1% xuống 1,02%.
Ngay phía sau là nhóm ngân hàng có lợi nhuận quanh ngưỡng 8.000-9.000 tỉ đồng, gồm Ngân hàng TMCP Quân đội (MB) với lợi nhuận quý 1 đạt 9.628 tỉ đồng, Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam (Techcombank) báo lãi 8.870 tỉ đồng và Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) lãi 8.572 tỉ đồng.
Ở chiều tích cực, một số ngân hàng ghi nhận mức tăng trưởng lợi nhuận khá ấn tượng trong quý 1-2026, chủ yếu nhờ nền so sánh thấp của cùng kỳ và sự cải thiện ở cả nguồn thu lãi lẫn ngoài lãi.
Nổi bật trong nhóm là Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank) ghi nhận lợi nhuận trước thuế 7.921 tỉ đồng, tăng 58% so với cùng kỳ, nằm trong nhóm có tốc độ tăng trưởng cao nhất trong các ngân hàng quy mô lớn.
Ở nhóm quy mô vừa, Ngân hàng TMCP An Bình (ABBank) là trường hợp tăng trưởng đột biến khi lợi nhuận trước thuế đạt 1.500 tỉ đồng, cao gấp gần 4 lần cùng kỳ.
Tổng thu nhập hoạt động của ngân hàng tăng tới 136% lên 3.077 tỉ đồng, trong đó riêng lãi từ hoạt động khác đạt 1.355 tỉ đồng (gấp 7,9 lần) và lãi dịch vụ đạt 413 tỉ đồng (gấp 2,4 lần). Dù chi phí dự phòng tăng 151% lên 855 tỉ đồng, kết quả lợi nhuận vẫn tăng mạnh.
Một số ngân hàng quy mô nhỏ hơn cũng ghi nhận mức tăng trưởng cao, như Ngân hàng TMCP Bản Việt (BVBank) với lợi nhuận khoảng 216 tỉ đồng, tăng 169%, hay Ngân hàng TMCP Xăng dầu Petrolimex đạt 276 tỉ đồng, tăng 187% so với cùng kỳ.
Ở chiều ngược lại, không ít ngân hàng ghi nhận lợi nhuận sụt giảm trong quý 1-2026, chủ yếu do áp lực gia tăng trích lập dự phòng rủi ro tín dụng và sự suy yếu của nguồn thu cốt lõi.
Đáng chú ý, Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) báo lãi trước thuế 2.106 tỉ đồng, giảm 43% so với cùng kỳ. Nguyên nhân chính đến từ chi phí dự phòng tăng vọt lên 2.023 tỉ đồng, cao gấp hơn 10 lần cùng kỳ, trong khi thu nhập lãi thuần cũng giảm 12%.
Dù vậy nếu loại trừ yếu tố dự phòng, nhiều mảng hoạt động của ngân hàng vẫn ghi nhận tăng trưởng tích cực như ngoại hối, chứng khoán đầu tư và hoạt động khác.
Tương tự, Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank) ghi nhận lợi nhuận trước thuế chỉ còn 1.388 tỉ đồng, giảm tới 68% so với cùng kỳ, là một trong những mức giảm sâu nhất toàn ngành.
Trong khi đó Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) cũng báo lãi giảm mạnh 59%, xuống còn 338 tỉ đồng.
Trong bối cảnh thị trường năng lượng toàn cầu tiềm ẩn nhiều biến động do tình hình địa chính trị tại Trung Đông, việc hoàn thành nâng công suất tái hóa kho LNG nhằm đáp ứng yêu cầu cấp khí cho phát điện mùa khô để khẳng định năng lực chủ động, linh hoạt trong đảm bảo nguồn cung trong nước, góp phần đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia.
Theo đó, ngày 2-4, chi nhánh logistics - đơn vị trực thuộc PV Gas đã phối hợp cùng các bên liên quan hoàn thành chương trình chạy thử nâng công suất tái hóa kho LNG Thị Vải, sau các đợt triển khai vào ngày 18 đến 19-3 và 1 đến 2-4.
Kết quả cho thấy hệ thống vận hành an toàn, ổn định ở mức 288 tấn/giờ (so với công suất thiết kế ban đầu 171 tấn/giờ), tương đương khoảng 9,5 triệu sm³/ngày, đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật và điều kiện vận hành.
PV Gas cho hay toàn bộ hệ thống đã được kiểm định, đánh giá theo tiêu chuẩn Việt Nam và quốc tế, với sự giám sát của tổ chức đăng kiểm DNV.
Việc nâng công suất giúp PV Gas gia tăng đáng kể năng lực cấp khí, sẵn sàng đáp ứng nhu cầu huy động cho các nhà máy điện theo điều độ của Công ty Vận hành hệ thống điện và thị trường điện quốc gia (NSMO) trong cao điểm mùa khô.
Đơn vị có thị phần cung cấp khí lớn nhất nước cho hay, việc vận hành kho LNG Thị Vải ổn định ở mức công suất cao hơn thiết kế ban đầu đòi hỏi trình độ kỹ thuật và kinh nghiệm vận hành cao. Việc chạy thử được duy trì giám sát liên tục 24/7, đảm bảo kiểm soát chặt chẽ các thông số vận hành then chốt như nhiệt độ, áp suất, độ rung và chuyển vị thiết bị.
Việc nâng công suất kho LNG Thị Vải có ý nghĩa chiến lược trong bối cảnh chuỗi cung ứng năng lượng toàn cầu tiềm ẩn rủi ro. Hạ tầng này tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong chuỗi cung cấp khí, góp phần đảm bảo nguồn nhiên liệu ổn định cho sản xuất điện tại khu vực Đông Nam Bộ.
Với nền tảng hạ tầng ngày càng hoàn thiện, năng lực vận hành được khẳng định và khả năng thích ứng linh hoạt, PV Gas tiếp tục giữ vai trò nòng cốt trong ngành công nghiệp khí Việt Nam, góp phần đảm bảo vững chắc an ninh năng lượng quốc gia và đáp ứng nhu cầu năng lượng ngày càng gia tăng của nền kinh tế.
Nội dung nêu tại bản góp ý dự thảo Nghị định hướng dẫn Luật Quản lý thuế của Liên đoàn thương mại và công nghiệp Việt Nam (VCCI).
Theo đó, VCCI đề nghị bổ sung quy định cho phép doanh nghiệp ký hợp đồng thu mua phế liệu được khai và nộp thuế thay cho hộ, cá nhân kinh doanh ve chai, đồng nát.
Thực tế, ngành tái chế là mắt xích quan trọng trong phát triển kinh tế tuần hoàn, phù hợp chiến lược phát triển bền vững. Trong chuỗi này, lực lượng thu gom ve chai, phế liệu giữ vai trò đầu vào, đảm nhận khâu thu gom và phân loại ban đầu.
Tuy nhiên, theo VCCI, người thu gom phần lớn là cá nhân nhỏ lẻ, hiểu biết pháp luật hạn chế nên gặp khó trong nộp thuế, hóa đơn. Vì vậy, nhiều người lo ngại rủi ro pháp lý, ưu tiên bán cho các làng nghề phi chính thức thay vì doanh nghiệp tái chế.
Điều này khiến doanh nghiệp lĩnh vực này khó tiếp cận nguồn phế liệu trong nước, trong khi thị trường ngày càng yêu cầu tỷ lệ tái chế cao hơn. Về lâu dài, nguy cơ mất đơn hàng và suy giảm năng lực cạnh tranh của ngành tái chế có thể xảy ra. Ngược lại, Nhà nước cũng gặp khó trong quản lý thuế, tận dụng nguồn tài nguyên tái chế.
Ngoài lĩnh vực phế liệu, VCCI cũng góp ý về yêu cầu tổ chức hợp tác kinh doanh với cá nhân phải khai thuế giá trị gia tăng (VAT) trên toàn bộ doanh thu, không phân biệt cách chia doanh thu giữa các bên.
Theo VCCI, quy định này chưa phản ánh đúng bản chất kinh tế của mô hình hợp tác kinh doanh, đặc biệt với dịch vụ gọi xe công nghệ.
Hiện các nền tảng gọi xe thường hợp tác với tài xế theo tỷ lệ chia doanh thu, chẳng hạn doanh nghiệp hưởng 20%, tài xế nhận 80%. Tuy nhiên, theo dự thảo, doanh nghiệp có thể phải chịu VAT 10% trên toàn bộ doanh thu cuốc xe.
VCCI cho rằng điều này gây bất lợi vì doanh nghiệp chỉ thực nhận một phần doanh thu nhưng phải kê khai thuế toàn bộ giá trị giao dịch. Trong khi đó, phần doanh thu chia cho tài xế lại không có hóa đơn đầu vào phù hợp để khấu trừ thuế.
Với tài xế công nghệ, VCCI nhận định việc áp VAT 10% trên phần doanh thu của người lái xe cũng chưa phù hợp. Bởi đây chủ yếu là cá nhân kinh doanh nhỏ lẻ, nhiều trường hợp thuộc diện miễn hoặc nộp thuế theo tỷ lệ trên doanh thu. Theo quy định hiện hành, mức VAT áp dụng với cá nhân kinh doanh vận tải thường khoảng 3%.
Do đó, tổ chức này đề xuất sửa theo hướng doanh nghiệp nền tảng chỉ kê khai, nộp thay VAT cho cá nhân trên phần doanh thu được chia, khai và nộp thay thuế thu nhập cá nhân cho tài xế.
Chỉ thị mới của Thủ tướng về thúc đẩy tiết kiệm điện và phát triển điện mặt trời mái nhà không chỉ tạo thêm động lực cho thị trường mà còn mở ra kỳ vọng sớm tháo gỡ vướng mắc, hoàn thiện cơ chế nhằm đạt mục tiêu nâng tỉ lệ công suất điện mặt trời tại các địa phương, cơ quan và hộ gia đình trong thời gian tới.
Nhận hóa đơn tiền điện tháng 3 vừa rồi đến hơn 4 triệu đồng, chị Đặng Lan Hương (phường Thanh Xuân, Hà Nội) quyết định lắp điện mặt trời mái nhà. Sau khi chuyển xuống nhà đất và cho thuê thêm hai phòng trọ, chi phí điện tăng mạnh so với ở chung cư, khiến chị kỳ vọng hệ thống này sẽ giúp chủ động nguồn điện và giảm chi phí hằng tháng.
Tham khảo các thông tin trên mạng, chị Hương khá bất ngờ khi thị trường có rất nhiều sản phẩm và nhà cung cấp với những mức giá khác nhau.
Với nhu cầu sử dụng điện hiện tại khoảng từ 2 - 3 triệu đồng/tháng, gia đình chị được tư vấn lắp đặt hệ thống điện áp mái gồm pin lưu trữ công suất khoảng 6kW và lưu trữ từ 12 - 18kW, với chi phí dao động khá lớn từ các nhà cung cấp, khoảng từ 80 - 120 triệu đồng. Nếu có thêm các chính sách hỗ trợ cho người dân cũng giúp phần nào giảm bớt gánh nặng.
Không chỉ mức giá chênh lệch, các thiết bị lắp đặt cũng có nhiều loại sản phẩm của nhiều thương hiệu khác nhau. Chị Hương chia sẻ, theo tư vấn của nhân viên lắp đặt, các thiết bị có nguồn gốc khác nhau, từ sản phẩm có thương hiệu đến hàng trôi nổi trên thị trường, nên có mức giá khác nhau, thường "tiền nào của nấy" và chỉ nên lựa chọn các nhà cung ứng cam kết bảo hành.
Thực tế này khiến chị băn khoăn không biết chọn nhà cung ứng nào đảm bảo được chất lượng sản phẩm khi tính ra chi phí lắp đặt cũng ngót cả trăm triệu đồng.
Anh Trần Văn Hưng (phường Hòa Lạc, Hà Nội) cho biết chi phí xăng tăng cao khiến anh tính mua xe máy điện. Tuy nhiên, tiền điện gia đình hiện đã khoảng 5 triệu đồng/tháng, nên nếu có thêm nhu cầu sạc xe, anh dự định lắp điện mặt trời mái nhà để chủ động nguồn điện, nhất là vào mùa nắng nóng hay mất điện, đồng thời giảm chi phí.
Qua tìm hiểu, anh được tư vấn các gói lắp đặt trọn gói khoảng 200 - 250 triệu đồng cho hệ thống 13 - 15kW, với mức giá phụ thuộc vào chất lượng thiết bị như biến tần và pin lưu trữ.
Trong khi đó, anh Nguyễn Tuấn Đức (phường Thủ Dầu Một, TP.HCM) băn khoăn về thủ tục, chi phí và chất lượng thiết bị. Ban đầu lo ngại phải làm nhiều giấy tờ, nhưng sau khi tìm hiểu, anh được biết hiện chỉ cần đăng ký qua Cổng dịch vụ công và có thể thuê đơn vị làm trọn gói.
Tuy vậy, điều anh Đức lo nhất vẫn là chất lượng sản phẩm khi thị trường có nhiều mức giá khác nhau. "Nếu có chính sách hỗ trợ tài chính hoặc vay ưu đãi, người dân sẽ mạnh dạn lắp đặt hơn, đồng thời cần kiểm soát chất lượng để tránh tình trạng chọn thiết bị giá rẻ nhưng không đảm bảo", anh Đức nêu ý kiến.
Theo ông Lê Quang Vinh - đại diện Sigenergy, đơn vị chuyên lắp đặt hệ thống điện mặt trời mái nhà, chỉ thị mới của Thủ tướng đang tạo cú hích cho thị trường điện mặt trời mái nhà, nhất là trong bối cảnh nhu cầu lắp đặt tăng sớm do lo ngại thiếu điện và dự báo nắng nóng cực đoan.
Nhu cầu tăng mạnh cũng kéo theo giá thiết bị leo thang: tấm quang điện đã tăng 30 - 35% vào cuối năm 2025, còn pin lưu trữ tăng khoảng 20%. Đồng thời, xu hướng đầu tư hệ thống lưu trữ (BESS) để tận dụng điện giá thấp giờ thấp điểm, cùng với nhu cầu sạc xe điện gia tăng, đang khiến thị trường càng thêm sôi động.
Ông Vinh cho biết chi phí lắp đặt hiện đã tăng từ mức 15 - 16 triệu đồng/kW lên khoảng 18 - 20 triệu đồng/kW, tùy thuộc vào chất lượng thiết bị. Riêng pin lưu trữ có giá trung bình khoảng 5 triệu đồng/kW, với cấu hình phổ biến 10kW. Tuy nhiên, ông cảnh báo người dùng không nên chạy theo giá rẻ, bởi thiết bị kém chất lượng có thể khiến "tiền mất, tật mang".
"Người dùng luôn muốn mua với giá rẻ nhất, nhưng cần đi đôi với chất lượng. Ví dụ như đầu tư một thiết bị lưu trữ khoảng 50 triệu đồng, tương đương một chiếc xe máy, nhưng liệu có đảm bảo chất lượng suốt vòng đời thiết bị hay không?
Nếu mỗi ngày tích trữ được 10kWh, thì mỗi tháng là 300kWh, tương đương với mức điện hiện nay sẽ tiết kiệm được 900.000 đồng, thì cũng phải vài năm mới thu hồi vốn. Vì vậy, cần phải kiểm soát được chất lượng thiết bị để đảm bảo việc lắp đặt xong mà chỉ sử dụng được một vài năm", ông Vinh nói.