17h30 ngày 2/4, Emma kết thúc giờ làm việc, vội chạy xe từ phường Tây Hồ sang lớp học giao tiếp tiếng Việt trên đường Hoàng Quốc Việt, phường Cầu Giấy.
Đây là buổi học đầu tiên của cô giáo viên mầm non 25 tuổi sau ba tháng sống tại Hà Nội. Trong căn phòng nhỏ mượn tạm của một quán cà phê quen, Emma cùng năm học viên khác đến từ Nga, Đức, Anh bắt đầu bài học về cách chào hỏi, giới thiệu bản thân và kỹ năng mặc cả khi đi chợ.
Đến Việt Nam với vốn tiếng Việt bằng không, Emma từng hoang mang khi không biết cách sang đường giữa dòng xe cộ, hay ngạc nhiên trước cảnh đồng nghiệp ngủ trưa ngay tại văn phòng.
“Ở lớp, tôi được giải thích người Việt ngủ trưa để tái tạo năng lượng. Tôi cũng được hướng dẫn cách giơ tay xin đường để xe máy chủ động nhường lối”, cô kể. Cuối buổi, Emma lẩm nhẩm câu: “Món này đắt quá, bớt chút đi”, ghi cẩn thận vào sổ tay chuẩn bị cho buổi đi chợ sáng mai.
Lukas, 27 tuổi, người Đức, thừa nhận dù sống ở Hà Nội gần ba năm vẫn chưa rành quy tắc ứng xử. Anh lấy ví dụ ở Đức, hỏi về hôn nhân hay lương thưởng bị coi là thiếu tế nhị, nhưng ở Việt Nam lại là cách bắt đầu câu chuyện.
“Tôi từng sốc khi hàng xóm mới gặp đã hỏi chuyện vợ con, đồng nghiệp thì đòi mai mối. Học ở lớp này tôi mới hiểu đó là sự quan tâm, kết nối chứ không phải soi mói”, Lukas nói.
Với chàng trai người Đức, khó khăn lớn nhất là sáu thanh điệu của tiếng Việt. Để không biến “bún chả” thành “bùn chà”, anh mua trọn bộ sách giáo khoa từ lớp 1 đến lớp 5 để tự rèn luyện ở nhà.
Lớp học của Emma và Lukas thuộc dự án Hanoi Exploring, do Lê Huy Khánh, sinh viên năm cuối Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội, sáng lập đầu năm 2024. Rời Kon Tum ra thủ đô trọ học, Khánh thấu hiểu cảm giác lạc lõng. Thấy nhiều người nước ngoài tự “cô lập” vì rào cản ngôn ngữ, nam sinh nảy ý tưởng tạo không gian giao lưu văn hóa miễn phí.
Theo Khánh, thách thức lớn nhất là duy trì động lực cho nhân sự vì khối lượng công việc nhiều nhưng không có thù lao. Ban đầu, dự án có 6 thành viên, không có địa điểm cố định, thường thuê, mượn địa điểm. Số học viên nước ngoài cũng chỉ lác đác vài người. “Nhưng nhìn các học viên hứng thú mỗi khi tới lớp, say mê tìm hiểu văn hóa Việt, chúng tôi lại dặn lòng cố duy trì hoạt động”, anh nói.
Những ngày đầu, nhóm đối mặt với bài toán giáo trình. Anh Trần Thế Thành, 25 tuổi, cựu sinh viên ĐH Bách khoa Hà Nội, cho biết nhóm mất nhiều tháng để thay đổi phương pháp. Thay vì dạy đánh vần hay ngữ pháp hàn lâm khiến học viên dễ nản, nhóm chuyển sang tiêu chí: Đơn giản và ứng dụng cao.
Mỗi khóa học gồm 6 buổi, dạy trực tiếp những câu giao tiếp ngắn theo chủ đề thực tế: đi chợ, mặc cả, chỉ đường, gọi món ăn. “Mục tiêu là bước ra khỏi cửa lớp, họ phải tự gọi được một cốc cà phê sữa đá. Có như vậy học viên mới có động lực đi đường dài”, Thành chia sẻ.
Việc dạy ngôn ngữ có thanh điệu luôn là thử thách. Nguyễn Minh Hằng, tình nguyện viên 21 tuổi, tiết lộ nhiều học viên tỏ ra chật vật trước các cặp nguyên âm “ô-ơ”, “u-ư”, hay phải mất hàng tuần mới phân biệt được dấu hỏi và dấu ngã. Để khắc phục, Hằng xây dựng các tình huống thực tế và lồng ghép giải thích “cú sốc văn hóa” ngay trong bài giảng.
Để duy trì hoạt động, nhóm của Khánh được một chủ quán cà phê ở quận Cầu Giấy hỗ trợ không gian vào các tối cuối tuần. Từ sáu thành viên ban đầu, đến nay dự án có 20 tình nguyện viên là những sinh viên sở hữu chứng chỉ ngoại ngữ cao. Dự án đã hỗ trợ hơn 200 người nước ngoài hòa nhập cộng đồng.
Aleksandra, 24 tuổi, giáo viên tiếng Nga, đã gắn bó với lớp từ tháng 10 năm ngoái. Tốt nghiệp khóa học, tuần nào cô cũng nán lại để giao lưu. “Tết Nguyên đán vừa rồi, tôi được cùng mọi người gói bánh chưng, học ý nghĩa mâm ngũ quả và tục xông đất. Tình cảm của mọi người giúp tôi vơi đi nỗi nhớ nhà khi ăn Tết xa quê”, cô chia sẻ.
Cô gái 9X ấy đã khai trương Limart Zero Waste đầu tiên tại TP.HCM năm 2019 với hai mục tiêu rõ ràng: giảm rác thải nhựa, và tạo việc làm cho người khuyết tật, trả lương hằng tháng từ 7-12 triệu đồng/người/tháng tùy kỹ năng và vị trí.
Trò chuyện cùng Tuổi Trẻ, chị Hằng chia sẻ: "Chọn tuyển dụng người khuyết tật, tôi muốn tái định nghĩa năng lực của họ. Tôi nhìn thấy ở họ nguồn lực bị lãng quên".
* Hành trình chị đang đi đã bắt đầu thế nào?
- Khó khăn nhất không phải ở kỹ thuật mà là niềm tin. Ngay gia đình có khi cũng không tin con em mình có thể làm ra sản phẩm thời trang cao cấp. Chúng tôi bắt đầu trong một căn xưởng nhỏ, ngôn ngữ là ánh mắt và ký hiệu vụng về.
Có ngày chúng tôi hỏng hàng chục mét vải tái chế, thùng hàng lỗi ngổn ngang. Nhưng hành trình đó không phải tôi giúp họ, mà là chúng tôi cùng nhau tìm hướng đi.
* Câu chuyện nào khiến chị nhớ mãi khi làm việc với các nhân viên đặc biệt ấy?
- Thực lòng tôi từng nghĩ mình phải vất vả hơn nhiều, rằng mình sẽ bảo bọc, che chở họ. Tôi có lo lắng về hiệu suất và khả năng giao tiếp, một kiểu định kiến mang tên "sự thương hại kín đáo" song tôi đã bất ngờ bởi chính sự nỗ lực của các bạn.
Họ không cần sự thương hại, chỉ cần công bằng. Các bạn khiếm thính tại dự án Limloop của công ty có khả năng tập trung cao độ mà ngay cả người nghe bình thường khó lòng đạt được.
Tôi nhớ mãi bạn nhân viên khiếm thính ngày đầu đến xưởng luôn cúi gằm mặt không dám nhìn thẳng vào ai. Sau sáu tháng, thấy khách hàng tỏ ra thích thú khi cầm trên tay chiếc túi do bạn ấy tạo ra, bạn đã dùng ngôn ngữ ký hiệu nói với tôi bạn rất vui và tự tin để sáng tạo nhiều hơn nữa. Câu nói đó tiếp thêm động lực để tôi biết mình đang đi đúng hướng.
* Liệu xã hội đang hiểu chưa đúng về năng lực của người khuyết tật?
- Xã hội thường nhìn vào cái họ thiếu thay vì cái họ có. Chúng ta gọi là người khuyết tật và đóng khung họ với những công việc đơn giản nhưng thực tế họ có thể là nghệ nhân, nhà thiết kế, chuyên viên kinh doanh xuất sắc nếu được cung cấp một hệ sinh thái hỗ trợ phù hợp.
Chúng ta cần văn hóa thấu cảm. Khi tạo ra một môi trường xóa bỏ rào cản, bạn sẽ nhận lại một đội ngũ tận hiến.
Tại Limloop và Limart, nhờ họ mà chúng tôi tối ưu hóa quy trình trực quan hóa, giúp mọi thứ trở nên đơn giản và hiệu quả hơn. Họ trân trọng công việc hơn bất cứ ai. Mỗi giờ ở xưởng là một giờ họ được sống rực rỡ nhất. Tinh thần trách nhiệm của họ không đến từ áp lực KPI mà là niềm tự hào về nghề nghiệp.
* Chị cho rằng rào cản của người khuyết tật đến từ đâu?
- Đáng buồn thay rào cản lớn nhất không phải là cơ sở vật chất mà từ các định kiến, có doanh nghiệp sợ rắc rối, sợ chi phí phát sinh. Với lao động khuyết tật, rào cản lớn nhất là sự tự ti tích tụ qua nhiều năm bị xã hội từ chối.
Đó còn là sự lệch pha trong giao tiếp. Người nghe thường mất kiên nhẫn khi phải lặp lại hoặc học cách dùng ký hiệu. Sự cô lập về mặt cảm xúc trong môi trường làm việc chính là rào cản vô hình khiến họ khó phát huy hết năng lực.
* Chị thấy chính sách hiện tại cho người khuyết tật cần thay đổi gì?
- Chúng ta đã có những bước tiến nhưng vẫn mang tính chất hỗ trợ hơn là thúc đẩy. Các chính sách hiện còn nặng thủ tục hành chính khiến doanh nghiệp ngại tiếp cận. Chúng ta cần chính sách ưu tiên cụ thể hơn như ưu đãi thuế hoặc ưu tiên mua sắm công cho các doanh nghiệp có tỉ lệ người khuyết tật cao. Đặc biệt, cần đầu tư mạnh vào giáo dục nghề nghiệp công nghệ cao cho người khuyết tật để họ bắt kịp kỷ nguyên số.
* Câu chuyện mà doanh nghiệp của chị đang áp dụng là gì?
- Chúng tôi xây dựng hệ sinh thái không rào cản. Không chỉ là lối đi cho người dùng xe lăn hay đèn tín hiệu cho người khiếm thính, chính sách linh hoạt cho người khiếm thị mà là xây dựng văn hóa tôn trọng sự khác biệt. Chúng tôi học ngôn ngữ của nhau, cùng nhau xây dựng một thế giới chung chứ không yêu cầu họ hòa nhập vào thế giới của người bình thường.
Tôi cho rằng với doanh nghiệp xin đừng bắt đầu vì trách nhiệm xã hội mà hãy bắt đầu vì bạn nhận thấy giá trị thực sự của người khuyết tật. Chỉ cần kiên nhẫn trong ba tháng đầu đào tạo, sau đó bạn sẽ có những nhân viên xuất sắc nhất mà bạn từng sở hữu. Đừng cho họ cá, hãy cho họ cần câu và một hồ nước công bằng để câu cá.
Gia đình của chị Halima Cissé và anh Abdelkader Arby ở Mali từng trở thành tâm điểm chú ý toàn cầu kể khi 9 người con của họ cùng chào đời vào năm 2021.
Tên của 9 anh em bao gồm: Các bé trai Mohammed VI, Oumar, Elhadji, Bah và các bé gái Kadidia, Fatouma, Hawa, Adama và Oumou.
Điều đặc biệt nhất là Cissé thụ thai hoàn toàn tự nhiên, không qua bất kỳ phương pháp hỗ trợ sinh sản nào.
Bác sĩ tại Mali ban đầu chẩn đoán chị Cissé mang 7 thai. Chính phủ Mali sau đó đưa hai vợ chồng sang một phòng khám chuyên khoa ở Morocco để tiện theo dõi. Tại đây, các bác sĩ khám và phát hiện thêm 2 thai nhi. Đến tuần thai thứ 30, các bác sĩ tiến hành phẫu thuật lấy thai. 9 em bé chào đời với cân nặng dao động từ 0,5 kg đến 1 kg.
Ngày 4/5 vừa qua, 9 đứa con của gia đình Arby đã tổ chức ngày sinh nhật chung tại Mali.
Trong bữa tiệc tại nhà, 11 thành viên gia đình đã cùng nhau chụp ảnh kỷ niệm. Chị Cissé, mẹ 9 bé, cầm trên tay chứng nhận kỷ lục của Tổ chức Kỷ lục Guiness Thế giới trong khi 5 con gái mặc trang phục denim đồng bộ, còn 4 con trai mặc quần đen phối cùng áo thun trắng.
Chị Cissé xác nhận 9 người con hiện đều khỏe mạnh và gia đình đang chuẩn bị cho các bé đến trường.
Cha của các bé, anh Abdelkader Arby, tiết lộ mỗi đứa trẻ đều có tính cách riêng biệt, có bé rất điềm tĩnh, có bé hiếu động và thường xuyên đòi được bế trên tay.
Việc nuôi dạy cùng lúc 9 đứa trẻ mang lại những thách thức khổng lồ. Cissé thú nhận rằng khó khăn lớn nhất hiện nay là chuẩn bị cho các con đi học.
Nhìn lại lịch sử y khoa, các ca sinh 9 cực kỳ hiếm gặp và trước đây chưa từng có trường hợp nào mà tất cả các bé đều sống sót quá vài giờ sau khi sinh.
Ca sinh của gia đình Arby-Cissé đã phá vỡ mọi tiền lệ, vượt qua cả kỷ lục của "Octomum" Nadya Suleman (người sinh 8 con vào năm 2009). Đây không chỉ là câu chuyện hi hữu về y tế mà còn là biểu tượng của tình yêu thương, sự nỗ lực không ngừng nghỉ của gia đình và sự hỗ trợ của bạn bè quốc tế.
Cách đặt vấn đề "Không thể giao trẻ em cho mạng xã hội" của báo Tuổi Trẻ đã chạm đúng nỗi nhức nhối hiện nay rằng trẻ em đang "chìm" trong màn hình ngày càng sớm và ngày càng sâu.
Một số liệu từng được báo Tuổi Trẻ dẫn trong một bài viết sau đại dịch COVID-19 cho ra những con số đáng lo ngại: 87% trẻ từ 12-17 tuổi sử dụng Internet mỗi ngày, trong đó nhiều em dành từ 5-7 giờ/ngày trên môi trường số; 74% trẻ em truy cập Internet ngay tại trường học.
Những con số này cho thấy một thực tế rằng trẻ em trong nước không chỉ đang dùng mà là đang sống cùng Internet kèm theo các tác hại về cả thể chất lẫn tinh thần. Nhưng nếu chỉ dừng ở việc cảnh báo phụ huynh e là chưa đủ.
Chúng ta thường bắt đầu bằng một lập luận quen thuộc "Cha mẹ bận rộn, dễ dãi, giao điện thoại cho con như một cách giữ trẻ". Điều đó đúng nhưng chưa đầy đủ bởi thực tế vì nhiều lý do. Tuy nhiên có một yếu tố khác ít được nhắc đến chính là môi trường học tập đang góp phần hợp lý hóa việc trẻ gắn chặt với màn hình.
Là một người mẹ và làm trong lĩnh vực truyền thông tiếp thị, tôi hiểu rõ cách các nền tảng số vận hành, thu hút, giữ chân và dần hình thành thói quen sử dụng. Tôi đã cố gắng giải thích điều đó cho con mình bằng nhiều ví dụ nhưng thành thật mà nói nhiều khi đó chỉ là cách để tự trấn an.
Tôi nhớ giai đoạn dịch COVID-19, bé lớn lớp 2 phải học trực tuyến gần như cả ngày dưới sự hỗ trợ của ông bà ngoại. Ông bà cố gắng đọc cho cháu chép những bài tiếng Việt nhưng đến giờ học tiếng Anh cháu phải tự mình đọc trên màn hình toàn bộ nội dung của buổi học kéo dài chừng hai tiếng. Kết quả ngay khi quay lại TP.HCM, con bị cận.
Dù gia đình đã hạn chế việc sử dụng thiết bị điện tử và đặt ra nguyên tắc không mang điện thoại lên giường ngủ. Cả tôi và chồng đều không có bất kỳ tài khoản mạng xã hội nào cho nhu cầu cá nhân.
Nhưng các nguyên tắc đó dần trở nên mong manh khi cơn lốc số hóa lao tới: bài giảng, bài tập rồi các cuộc thi online từ học chính khóa đến bài tập bổ trợ, từ nội dung bắt buộc đến khuyến khích... hầu như mọi thứ đều diễn ra trên màn hình.
Hệ quả là gì? Một đứa trẻ học cả ngày ở trường, buổi tối tiếp tục học qua màn hình không còn thời gian nghỉ ngơi đúng nghĩa. Vậy là trẻ được hợp thức hóa việc sử dụng thiết bị số như một phần tất yếu của cuộc sống mà phụ huynh hầu như không thể từ chối!
Chúng ta nói không thể giao trẻ em cho mạng xã hội nhưng thực tế có những lúc chính gia đình lẫn nhà trường đã vô tình dẫn trẻ đến đó. Chẳng hạn khi bé lớn nhà tôi lên cấp II nhà trường có quy định "cấm học sinh mang điện thoại đi học". Tôi rất vui và tán đồng quy định này của trường. Tuy nhiên lịch học và làm bài tập online vẫn dày đặc thời khóa biểu tại nhà.
Khoảng cách giữa học tập và chơi gần như không còn. Từ học online đến mạng xã hội chỉ là một bước rất ngắn. Ban đầu là học, sau đó là nhóm rồi đến các cuộc trò chuyện ngoài bài vở. Và ở độ tuổi này trẻ bước vào thế giới mạng xã hội với đầy đủ sắc thái hành vi rất nhanh thôi.
Từ cập nhật tin tức, tìm kiếm thông tin cho bài học đến bắt trend, từ nghe nhạc giải trí cho tới đu thần tượng, từ đọc kỹ xem chậm chuyển sang nghe "review" và lướt nhanh... Càng phức tạp hơn khi tiếp theo đó là sự bắt chước của những đứa bé hơn trong nhà.
Nên nếu đặt toàn bộ trách nhiệm lên phụ huynh khi trẻ mắc kẹt trong màn hình, tôi cho rằng là cách tiếp cận không chỉ thiếu công bằng mà còn tạo nhiều khoảng trống. Trẻ em đang sử dụng Internet không chỉ để giải trí mà còn vì yêu cầu học tập. Nhà trường, nền tảng số và áp lực thành tích đang cùng tồn tại trong một hệ sinh thái.
Nếu không nhìn thẳng vào vai trò của hệ thống giáo dục, nếu không đặt lại ranh giới của việc học online thì mọi lời khuyên dành cho phụ huynh sẽ chỉ dừng lại ở mức khuyến nghị. Một khi việc học đã gắn chặt với màn hình thì việc cha mẹ có thể tách trẻ khỏi mạng xã hội gần như trở thành một cuộc chiến đơn độc. Phụ huynh nhiều khi không thể và cũng không có quyền lựa chọn thực sự.
Và những đứa trẻ, trong đó có con tôi, sẽ tiếp tục lớn lên trong một thế giới mà màn hình không còn là lựa chọn mà là điều mặc định.