Theo Cục Du lịch quốc gia Việt Nam, các thủ đoạn lừa đảo thường tập trung ở các chiêu trò như giả mạo fanpage có tích xanh của các khách sạn, khu nghỉ dưỡng, doanh nghiệp lữ hành; website “nhái” giao diện chính thức, rồi yêu cầu chuyển tiền đặt cọc khi khách liên hệ; gửi link giả mạo yêu cầu đăng nhập tài khoản ngân hàng, mạng xã hội…; giả danh nhân viên hỗ trợ du lịch, các hãng tàu, xe, máy bay liên hệ khách hàng…
Vì vậy thời gian qua, các cơ quan chức năng đã liên tục có những cảnh báo người dân và du khách cần nâng cao cảnh giác, tuyệt đối không giao dịch qua các kênh không rõ nguồn gốc. Cục Du lịch khuyến cáo người dân chỉ đặt dịch vụ thông qua website chính thức, doanh nghiệp uy tín, có đầy đủ thông tin pháp lý; không chuyển tiền vào tài khoản cá nhân khi chưa xác minh; không truy cập các đường link lạ hoặc cung cấp thông tin bảo mật dưới bất kỳ hình thức nào.
Đồng thời, cần hạn chế chia sẻ công khai thông tin cá nhân, lịch trình di chuyển trên mạng xã hội để tránh bị lợi dụng. Tìm hiểu kỹ các thông tin về tour, combo du lịch, đặc biệt là những sản phẩm có giá rẻ hơn bình thường.
Song song, các doanh nghiệp trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ lữ hành, du lịch, cơ sở lưu trú… cũng cần chủ động minh bạch thông tin, công khai giấy phép kinh doanh, địa chỉ, kênh liên hệ chính thức, chuẩn hóa hệ thống nhận diện chính thức, kịp thời phát hiện, phản ánh và phối hợp với các cơ quan chức năng xử lý các hành vi giả mạo. Đây không chỉ là trách nhiệm bảo vệ khách hàng mà còn là yếu tố then chốt để xây dựng môi trường kinh doanh lành mạnh, công bằng.
Trước đó, website chính thức của Cục Du lịch quốc gia Việt Nam đã nhiều lần đưa thông tin cảnh báo về các “bẫy lừa đảo” trong lĩnh vực du lịch, đặc biệt gia tăng mạnh trên môi trường số.
Trong bối cảnh hoạt động du lịch đang phục hồi mạnh mẽ, nhất là chuẩn bị bước vào mùa cao điểm du lịch hè, việc chủ động phòng ngừa, nhận diện và ngăn chặn các hành vi lừa đảo không chỉ bảo vệ du khách mà còn góp phần quan trọng xây dựng môi trường du lịch an toàn, văn minh, bền vững.

"Tôi không thể tới chỗ cô được. Cô hãy đi bộ ra chỗ tôi đang đỗ xe nhé", một tài xế lái xe công nghệ nhắn tin với Katie Williams - nữ du khách người Australia sau khi anh nhận chuyến xe tại khu vực Canggu, Bali của Indonesia.
Vị khách người Australia phải giải thích qua ứng dụng rằng cha mẹ cô đã lớn tuổi, khó lòng đi bộ xa dưới cái nắng gay gắt ở Bali.
Tuy nhiên, người tài xế lái xe công nghệ chỉ trả lời ngắn gọn rằng anh không thể lái xe vào sâu hơn với lý do "sợ nguy hiểm".
Sau 2 lần bị tài xế hủy chuyến, cuối cùng Katie buộc phải thuê một tài xế lái xe taxi địa phương với mức giá cao gấp đôi so với giá hiển thị trên ứng dụng.
Vụ việc khiến cô gái 30 tuổi băn khoăn và tìm hiểu. Cô mới vỡ lẽ, khách sạn nơi mình đang lưu trú nằm ở một trong những "vùng cấm không chính thức" với các tài xế lái xe công nghệ ở hòn đảo này.
Nhìn lại sự việc, Williams cho rằng đó “chỉ là một sự bất tiện”, nhưng điều khiến cô và gia đình bối rối hơn cả là họ không hiểu chuyện gì thực sự đang diễn ra.
Trên thực tế, đằng sau những phiền toái tưởng chừng nhỏ nhặt là cuộc đối đầu kéo dài nhiều năm giữa sự tiện lợi của các ứng dụng gọi xe với quyền lực của các “banjar” (hội đồng cộng đồng làng xã). Họ là những người kiểm soát phần lớn đời sống thường nhật tại Bali.
Khác với nhiều nơi khác ở Indonesia, mỗi ngôi làng tại Bali đều được chia thành nhiều “banjar”. Đây là các đơn vị cộng đồng địa phương do cư dân quản lý, đảm nhiệm nhiều công việc như xây dựng đường sá, tổ chức nghi lễ tôn giáo, giải quyết tranh chấp và cả việc quy định giá taxi hoạt động trong khu vực.
Một tài xế địa phương tên Nyoman cho biết anh chỉ giữ lại khoảng 70% số tiền mỗi cuốc xe, phần còn lại phải nộp cho banjar. Anh mô tả những người lái xe công nghệ "đe dọa giá thị trường" và không đóng góp gì cho cộng đồng địa phương.
“Ở Bali, chúng tôi bảo vệ truyền thống và đất đai của mình”, anh nói.
Nam tài xế này đưa ra ví dụ. Các tài xế địa phương thường thu 800.000 đến 1 triệu rupiah (khoảng 1,1 - 1,4 triệu đồng) cho chuyến xe từ sân bay quốc tế Denpasar tới Singaraja - thành phố lớn thứ hai ở phía bắc đảo Bali.
Trong khi đó, cùng quãng đường khoảng 95km, giá trên ứng dụng gọi xe chỉ dao động từ 550.000-600.000 rupiah (800.000 đồng - 875.000đồng).
Không ít lần, sự va chạm dẫn tới tranh cãi gay gắt, kéo theo những vụ bạo lực.
Tháng 1/2023, truyền thông Indonesia đưa tin một tài xế xe ôm địa phương tại Pecatu đã hành hung tài xế công nghệ vì đón khách bên ngoài một nhà hàng.
Cuối năm đó, cảnh sát tại Canggu bắt giữ một tài xế địa phương vì chặn xe chở khách du lịch đặt qua ứng dụng và ép họ trả thêm 150.000 rupiah (220.000 đồng) mới cho đi tiếp ra sân bay.
“Tôi không thích bạo lực, đó không phải cách giải quyết tốt. Nhưng đúng là chuyện đó vẫn xảy ra”, Nyoman nói.
Dù các vụ việc được ghi nhận đã giảm khi hành vi của tài xế bị giám sát chặt hơn, tình trạng đe dọa vẫn chưa biến mất hoàn toàn.
Trên mạng xã hội, ngày càng xuất hiện nhiều nhóm du khách phàn nàn về luật ngầm taxi tại Bali. Một nhóm khách du lịch kể họ từng bị các tài xế địa phương say xỉn đe dọa vì không đồng ý sử dụng dịch vụ của họ.
Theo giới quan sát, bạo lực chỉ là biểu hiện của nỗi lo sâu xa hơn.
Trong 3 tháng đầu năm nay, lượng khách quốc tế tới Bali đều giảm. Hồi đầu tháng 3, Thống đốc Wayan Koster cho biết, địa phương mất khoảng 800 lượt khách quốc tế mỗi ngày do các chuyến bay bị hủy hoặc gián đoạn không phận, phần lớn do xung đột Trung Đông.
Với những tài xế sống dựa vào dòng khách du lịch, mỗi chuyến xe đặt qua ứng dụng đồng nghĩa với việc tiền bạc bị “chảy” khỏi túi họ. Đối với ngành du lịch Bali, cuộc đối đầu này lại trở thành gánh nặng.
Wayan Kariasa, quản lý khu nghỉ dưỡng The Ariras Resort ở Candidasa, cho biết các ứng dụng gọi xe gần như không hoạt động tại khu vực này vì tài xế địa phương chiếm ưu thế.
Khu nghỉ dưỡng của ông nằm cách bãi biển Virgin khoảng 8km, khiến khách buộc phải cần phương tiện di chuyển. Theo quan sát của vị quản lý này, nhiều du khách không hài lòng với mức giá mà tài xế địa phương đưa ra.
Nếu đặt xe công nghệ, khách từ khu nghỉ dưỡng tới bãi biển Virgin chỉ mất 30.000 rupiah (45.000 đồng), trong khi tài xế lái xe địa phương có thể lấy cao gấp 10 lần.
Dù vậy, Kariasa cũng không dám công khai phản đối quá mạnh. Ông cần duy trì quan hệ tốt với cộng đồng địa phương.
“Từ trước tới nay, chúng tôi vẫn có quan hệ tốt với cộng đồng”, ông nói thận trọng.
Tình trạng tương tự cũng diễn ra tại Sanur, một số khu vực ở Ubud, Uluwatu và Canggu, khiến du khách phải xoay xở giữa giá trên ứng dụng, giá tài xế địa phương và thậm chí phải tự đi bộ trên chính đôi chân của chính mình.
Hiện luật ngầm taxi trên hòn đảo nổi tiếng ở Đông Nam Á vẫn chưa thể giải quyết tận gốc mâu thuẫn. Thậm chí nhiều người nhận định, "cuộc chiến này" còn lâu mới kết thúc.
Tin Gốc: Dân Trí

Tổng thống Hàn Quốc Lee Jae Myung ăn phở vỉa hè, còn phu nhân cầm kem dạo giữa đám đông tại Hà Nội đang trở thành hình ảnh lan truyền mạnh trên truyền thông châu Á những ngày qua.
Đây không phải lần đầu ẩm thực Việt tạo hiệu ứng toàn cầu. Tháng 5.2016, Tổng thống Mỹ Barack Obama cùng đầu bếp Anthony Bourdain ngồi ghế nhựa ăn bún chả tại Hà Nội, tạo nên hình ảnh lan truyền khắp thế giới. Tổng thống Mỹ Bill Clinton từng thưởng thức phở trong chuyến thăm VN năm 2000. Năm 2017, Thủ tướng Canada Justin Trudeau uống cà phê sữa đá tại TP.HCM; cùng năm, Thủ tướng Úc Malcolm Turnbull ghé xe bánh mì ven đường ở Đà Nẵng và năm 2023, Thủ tướng Úc Anthony Albanese tiếp tục gây sốt khi ăn bánh mì, uống bia hơi cùng người dân Hà Nội.
Điểm chung là những nơi được chọn không phải nhà hàng sang trọng mà là phở, bún chả, bánh mì, cà phê sữa hay bia hơi..., những món ăn quá đỗi quen thuộc với người Việt.
Chia sẻ với Thanh Niên chiều 27.4, ông Dương Thanh Đảo, Phó chủ tịch phụ trách truyền thông, Hiệp hội Ẩm thực TP.HCM (FBA), hào hứng nói ẩm thực Việt đang dần phát huy vai trò như một đại sứ văn hóa. Đặc biệt, Tổng thống Hàn Quốc trong chuyến thăm chính thức VN hồi năm 2023 chia sẻ rằng phở đã trở thành "món ăn quốc dân" của cả VN và Hàn Quốc. Đây không chỉ là một phát biểu mang tính ngoại giao mà phản ánh ẩm thực Việt (tiêu biểu là phở) còn góp phần thúc đẩy sự giao thoa và kết nối sâu sắc giữa các nền văn hóa. Hình ảnh các chính khách nước ngoài thưởng thức ẩm thực VN đang lan tỏa hình ảnh một đất nước thân thiện, an toàn và giàu bản sắc đến với thế giới.
Theo TS Dương Đức Minh, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế và du lịch, khác với nhiều quốc gia thiên về thức ăn nhanh, văn hóa Việt vẫn gắn rất chặt với bếp gia đình, sự sẻ chia và kết nối trong mỗi bữa ăn. Đây cũng là lý do hình ảnh các nguyên thủ quốc tế ngồi ăn cùng phu nhân hoặc người thân tại những quán bình dân ở VN dễ tạo thiện cảm mạnh mẽ. "Họ không chỉ thưởng thức món ăn mà đang hòa vào không gian rất đời thường, rất gần gũi của văn hóa VN. Giá trị này rất đặc biệt, không phải quốc gia nào cũng có", ông Minh nhấn mạnh.
Thực tế nhiều năm nay, thông qua các du khách, nhiều món ăn của VN nổi tiếng trên toàn cầu, lọt vào top nhiều cuộc bình chọn uy tín. Trên mạng xã hội, có hẳn một cộng đồng gần 200.000 thành viên người nước ngoài chỉ để bàn về… bánh mì VN. Nhóm này có tên "Vietnam Banh Mi Appreciation Society", mỗi ngày các thành viên sôi nổi chia sẻ từ những xe bánh mì vỉa hè vô danh cho đến các tiệm nổi tiếng. Họ chấm điểm nghiêm túc, tranh luận nơi nào đáng thử, nơi nào nên tránh... Thành viên không chỉ là du khách quốc tế mà còn có cả du học sinh, người nước ngoài đang sinh sống tại VN. Tất cả đều có chung một điểm là sự hào hứng đặc biệt dành cho bánh mì Việt.
Mới đây, bánh mì Việt tiếp tục được CNN xếp vào nhóm những món sandwich ngon nhất thế giới cho thấy sức hút của món ăn này chưa hề hạ nhiệt.
Anh Soo, du khách Hàn Quốc, đã định nghĩa về bánh mì trong suy nghĩ của mình sau khi đến VN: "Tôi từng nghĩ mình đã biết bánh mì là gì, nhưng khi đến VN, tôi nhận ra những chiếc bánh mì trước đây mình từng ăn chỉ còn là cái tên. Ăn bánh mì ở VN thật sự ở một đẳng cấp khác". Theo nam du khách Hàn Quốc, lớp vỏ bánh giòn rụm, phần nhân thịt nướng đậm vị kết hợp cùng đồ chua tạo nên sự cân bằng hoàn hảo. Chia sẻ trên mạng xã hội, nhiều du khách nước ngoài vừa rời VN đã nhớ đồ ăn và phải tìm quán Việt tại chính đất nước họ, điều đó cho thấy ẩm thực Việt tạo ra cảm giác nhớ rất mạnh.
Nghệ nhân văn hóa ẩm thực Hồ Đắc Thiếu Anh nhận định, điểm đặc biệt của ẩm thực Việt nằm ở triết lý cân bằng. Một món ăn Việt thường có sự hài hòa giữa mặn, ngọt, chua, cay và được tạo nên từ nguồn nguyên liệu bản địa phong phú. Nhiều nền ẩm thực châu Á thiên mạnh về một vị, trong khi ẩm thực Việt chú trọng sự hài hòa. Mỗi món ăn không chỉ để ngon mà còn gắn với sức khỏe.
"Mỗi vùng ở VN lại mang một bản sắc ẩm thực riêng, chẳng hạn như phở Hà Nội khác phở TP.HCM, bánh xèo miền Trung khác bánh xèo miền Tây, bún bò ở Huế cũng có hương vị, sợi bún khác phiên bản TP.HCM… Chưa kể các món vùng cao với nguyên liệu đặc trưng, khiến những vị khách phương xa luôn có cảm giác đi từ Bắc vào Nam khám phá mãi không hết", nghệ nhân Thiếu Anh nói.
TS Dương Đức Minh cùng quan điểm khi cho rằng hiện đã có nhiều món ăn nổi tiếng toàn cầu như phở, bánh mì hay bún bò Huế nhưng chưa phản ánh hết kho tàng ẩm thực khổng lồ của VN. Nước ta có 54 dân tộc, mỗi cộng đồng đều có những thực hành văn hóa riêng, trong đó có văn hóa ẩm thực. Chẳng hạn mùa nước nổi ở ĐBSCL có cá linh, bông điên điển hay nhiều đặc sản theo mùa. Nếu được tổ chức bài bản, đây hoàn toàn có thể trở thành trải nghiệm khiến du khách nhớ lâu và quay trở lại. "Hiện nay nhiều tour vẫn chỉ dừng ở việc đưa món đặc sản địa phương vào thực đơn, nhưng như vậy chưa đủ tạo nên ký ức mạnh mẽ. Du khách phải được trải nghiệm những điều mới mẻ, bất ngờ và tạo cảm xúc bùng nổ để họ muốn kể lại ngay sau chuyến đi", ông Minh nói thêm.
Ông Dương Thanh Đảo nhận định đây là thời điểm quan trọng để nâng tầm ẩm thực VN trên bản đồ thế giới. Để đi xa hơn, ẩm thực Việt cần chuyển từ sự lan tỏa tự nhiên sang một chiến lược phát triển bài bản, tập trung vào 3 định hướng trọng tâm, đó là chuẩn hóa chất lượng và trải nghiệm nhưng vẫn giữ bản sắc; xây dựng hệ sinh thái F&B kết nối ẩm thực với du lịch; truyền thông và kinh tế sáng tạo. Từ đó định vị ẩm thực VN như một trụ cột của quyền lực mềm quốc gia, gắn với xu hướng "ngon lành, xanh và bền vững".
Tin Gốc: Thanh Niên

Suốt nhiều thập kỷ, vận động viên leo núi từ khắp nơi trên thế giới đã mạo hiểm mạng sống để chinh phục Everest. Nhiều người thành công chạm đến "nóc nhà thế giới" và trở về an toàn, không ít người mãi mãi nằm lại. Thi thể của họ rải rác trên khắp các triền dốc của ngọn núi cao nhất hành tinh.
Kể từ khi con người lần đầu tiên chinh phục đỉnh Everest vào năm 1953, ngọn núi cao nhất hành tinh đã ghi nhận hàng trăm trường hợp tử vong. Theo dữ liệu từ Himalayan Database, trang web chuyên ghi nhận các chuyến leo núi tại vùng Himalaya thuộc Nepal, tính đến đầu mùa leo núi năm 2026, ít nhất 344 người đã thiệt mạng tại Everest.
Bà Billi Bierling, Giám đốc tổ chức, cho biết có 232 trường hợp tử vong xảy ra ở sườn phía Nepal, số còn lại thuộc phía Tây Tạng. Bà lưu ý những con số này vẫn chưa phải là thống kê đầy đủ nhất. Do đặc thù địa hình và thời tiết, phần lớn thi thể vẫn nằm lại tại các triền dốc ở độ cao hơn 8.000 m.
Hầu hết thi thể trên Everest không thể đưa về do các chiến dịch tìm kiếm nguy hiểm và tốn kém. Giới chuyên gia cho rằng quy trình hồi hương thi thể gian khổ không kém gì hành trình chinh phục đỉnh, khó hơn cứu sống một người gặp nạn. Nhiều nạn nhân nằm lại ở "vùng tử thần" trên độ cao 8.000 m, nơi lượng oxy thấp đến mức ngay cả việc di chuyển cơ bản cũng gây kiệt sức. Qua năm tháng, các thi thể đều bị chôn vùi dưới các lớp tuyết và băng cứng.
Ông Alan Arnette, nhà leo núi đồng thời là người ghi chép lịch sử về Everest, cho biết một ca đưa thi thể xuống cần đội ngũ tối thiểu 6-10 người và quy trình hậu cần cực kỳ phức tạp. Các nhân viên cứu hộ phải di chuyển qua những đoạn dốc kỹ thuật hiểm trở trong khi vác theo một thi thể, tất cả diễn ra trong môi trường giới hạn tối đa thể lực của con người.
Tháng 6, Lực lượng Cảnh sát Biên phòng Ấn Độ - Tây Tạng (ITBP) triển khai chiến dịch đưa thi thể "Green Boots" (Giày xanh) trở về sau 30 năm nằm lại trên đỉnh núi phủ tuyết. Chiến dịch được lên kế hoạch thực hiện trong mùa leo núi tháng 6-9. ITBP đang tìm kiếm một đội ngũ cứu hộ có kinh nghiệm tham gia chiến dịch, phối hợp với chính quyền Trung Quốc để di chuyển thi thể từ Tây Tạng sang Nepal rồi về Ấn Độ.
Chiến dịch hồi hương "Giày xanh" được đánh giá khó khăn vì thi thể nằm ở phía bắc Everest, gần tuyến đường giữa bậc thang thứ nhất và thứ hai (First Step and Second Step), hai vách đá nằm trong "vùng tử thần" trên Everest. Sau 30 năm, thi thể của Green Boots đã "hóa thạch" và dính chặt vào núi.
"Đội cứu hộ sẽ phải dùng rìu phá băng để tách thi thể ra khỏi sườn núi đóng băng, quá trình này sẽ rất khắc nghiệt", ông Arnette nói thêm.
Đội cứu hộ phải tiếp tục đưa thi thể qua bậc vách thứ hai, một vách đá cao 30 m gắn thang nhôm. Việc leo vách đá thẳng đứng ở độ cao trên 8.500 m, trong trang phục bảo hộ cồng kềnh, găng tay dày và bình dưỡng khí là một thử thách cực hạn.
Rào cản thủ tục và vận chuyển tại khu vực thuộc bên Trung Quốc kiểm soát cũng là bài toán khó. Khác với Nepal, việc dùng trực thăng cứu hộ tại vùng Tây Tạng bị hạn chế nghiêm ngặt về mặt cấp phép, trực thăng cũng không thể bay đến độ cao của vách đá này.
Chiến dịch đòi hỏi nguồn lực lớn về nhân sự, oxy, dây thừng chuyên dụng với chi phí ước tính dao động từ 100.000 đến 150.000 USD.
Việc tác động vào thi thể còn chạm đến đức tin tôn giáo. Nhiều người tham gia hỗ trợ chiến dịch là người dân Tây Tạng theo đạo Phật. Ông Arnette chỉ ra rằng việc dùng rìu phá băng tác động lên thi thể có thể bị coi là phạm vào điều cấm kỵ của Phật giáo địa phương về việc tôn trọng người chết, vô tình xung đột với mục tiêu nhân văn ban đầu của ITBP.
Trong quá khứ, nhiều kế hoạch đưa thi thể trở về từng phải hủy bỏ. Năm 2010, một dự án đưa các thi thể ở sườn phía nam xuống núi đã bị dừng lại theo nguyện vọng của gia đình các nạn nhân, những người muốn người thân của mình được yên nghỉ nơi họ đã ngã xuống.
Everest còn có những "người ở lại" nổi tiếng khác. Thi thể của nữ vận động viên người Mỹ Francys Arsentiev, được mệnh danh là "Người đẹp ngủ trong rừng", từng nằm nhiều năm gần sườn đông bắc trước khi được chuyển đi. Di cốt của nhà leo núi người Anh George Mallory được tìm thấy vào năm 1999, 75 năm sau khi ông mất tích vào năm 1924. Dù xác định được danh tính nhờ bảng tên trên quần áo, người ta vẫn quyết định để ông yên nghỉ tại ngọn núi này.
Tin Gốc: Vnexpress

