AP ngày 4.5 đưa tin Mỹ vừa khởi động nỗ lực “hướng dẫn” các tàu bị mắc kẹt rời eo biển Hormuz, một ngày sau khi Tổng thống Donald Trump công bố “Dự án Tự do” (Project Freedom) trên tuyến hàng hải quan trọng này. Trung tâm Thông tin hàng hải liên hợp (JMIC) cho biết Mỹ đã lập một khu vực tăng cường an ninh phía nam tuyến hàng hải thông thường và kêu gọi tàu thuyền phối hợp chặt chẽ với chính quyền Oman “do lưu lượng giao thông dự kiến tăng cao”.
Eo biển Hormuz nằm giữa lãnh thổ Iran và Oman. JMIC cảnh báo rằng việc di chuyển gần các tuyến thông thường là “cực kỳ nguy hiểm do sự hiện diện của các bãi mìn chưa được khảo sát và xử lý triệt để”. Chưa rõ có tàu nào đi theo tuyến mới do Mỹ hướng dẫn hay chưa.
Công bố “Dự án Tự do” trên mạng xã hội Truth Social ngày 3.5, Tổng thống Trump cho biết nhiều nước đã nhờ Mỹ đưa các tàu đang bị mắc kẹt của họ rời khỏi eo biển Hormuz. “Họ đơn thuần là các bên ngoài cuộc, trung lập và vô tội. Vì điều tốt đẹp cho Iran, Trung Đông và Mỹ, chúng tôi đã nói với các nước này rằng chúng tôi sẽ hướng dẫn tàu của họ an toàn rời khỏi các tuyến hàng hải bị hạn chế, để họ có thể tự do và thuận lợi tiếp tục công việc của mình”, ông viết. Ông Trump cảnh báo Mỹ sẽ có biện pháp xử lý mạnh mẽ nếu các tàu bị can thiệp dưới bất kỳ hình thức nào.
Sau phát biểu của ông Trump, Tư lệnh Bộ Tư lệnh Trung tâm Mỹ (CENTCOM) Brad Cooper cho biết Mỹ sẽ điều các tàu khu trục mang tên lửa dẫn đường, hơn 100 máy bay cùng 15.000 binh sĩ tham gia nhiệm vụ. Trong khi đó, một quan chức Mỹ nói với CNN rằng “Dự án Tự do” không phải là nhiệm vụ hộ tống. Theo tờ The Guardian, hiện có hơn 850 tàu đang mắc kẹt ở vùng Vịnh do chiến sự Trung Đông, bao gồm các biện pháp phong tỏa của Mỹ và Iran.
Viết trên X, cựu Phó tổng thống Mỹ Mike Pence ca ngợi “động thái mạnh mẽ” của ông Trump và cầu chúc điều tốt lành cho các binh sĩ liên quan. Đại sứ Mỹ tại LHQ Mike Waltz cho biết Mỹ và các đối tác vùng Vịnh sẽ dẫn đầu nỗ lực bảo vệ quyền tự do hàng hải toàn cầu. “Sẽ có những xung đột trong tương lai và dù đó là eo biển Malacca, Gibraltar hay Hormuz, thế giới không thể cho phép tiền lệ này tồn tại, theo đó một bên có thể cố gắng trừng phạt nền kinh tế thế giới nhằm giành lợi thế trước bên kia”, theo ông Waltz.
Phản ứng với thông báo của ông Trump, quân đội Iran tuyên bố rằng an ninh ở eo biển Hormuz “nằm trong tay Lực lượng Vũ trang Cộng hòa Hồi giáo Iran”, đồng thời cảnh báo rằng “mọi hoạt động di chuyển an toàn trong tất cả các tình huống” đều phải được thực hiện phối hợp với lực lượng này. “Chúng tôi sẽ duy trì và quản lý an ninh eo biển Hormuz bằng toàn bộ sức mạnh của mình. Chúng tôi thông báo rằng tất cả các tàu thương mại, tàu chở dầu không được phép di chuyển qua eo biển Hormuz mà không có sự phối hợp của lực lượng vũ trang Iran đóng tại eo biển để đảm bảo an ninh của họ không bị đe dọa”, theo Đài Al Jazeera dẫn thông cáo của quân đội Iran. Thông cáo nhấn mạnh rằng Iran sẽ tấn công bất kỳ lực lượng vũ trang nước ngoài nào, nhất là quân đội Mỹ, nếu họ cố gắng tiến vào eo biển Hormuz.
Trong động thái liên quan, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Iran Esmail Baghaei ngày 4.5 cho hay nước này và Oman đang đối thoại về phương thức đảm bảo các tàu di chuyển an toàn qua eo biển Hormuz. Theo Reuters, Hải quân Iran ngày 4.5 công bố một bản đồ mới về khu vực eo biển Hormuz đặt dưới sự kiểm soát của lực lượng vũ trang nước này. Trước những diễn biến mới, Tổng thống Pháp Emmanuel Macron kêu gọi Mỹ và Iran phối hợp để mở cửa lại eo biển Hormuz.
Tin Gốc: Thanh Niên
Thế Giới
Thủ tướng Nhật Bản ấn tượng với sự phát triển của Việt Nam, ví như 'rồng bay lên'

Ngày 2-5, sau cuộc hội đàm thành công với Thủ tướng Lê Minh Hưng, Thủ tướng Nhật Bản Takaichi Sanae đã cùng nhà lãnh đạo Việt Nam chứng kiến lễ trao 6 văn kiện hợp tác giữa hai nước.
Các văn kiện này gồm:
- Thỏa thuận vay (L/A) cho Dự án Phát triển nông thôn thích ứng với thiên tai giữa Chính phủ Việt Nam và Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA).
- Thỏa thuận vay (L/A) cho Dự án Phát triển cơ sở hạ tầng thích ứng với biến đổi khí hậu để hỗ trợ sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số các tỉnh trung du, miền núi phía Bắc giữa Chính phủ Việt Nam và JICA.
- Bản ghi nhớ hợp tác về tăng trưởng carbon thấp giữa Chính phủ nước Việt Nam và Chính phủ Nhật Bản thực hiện cơ chế tín chỉ chung (JCM).
- Bản ghi nhớ hợp tác giữa Cục Quản lý và Xây dựng công trình thủy lợi, Bộ Nông nghiệp và Môi trường Việt Nam và Tổng cục Phát triển nông thôn, Bộ Nông - Lâm - Ngư nghiệp Nhật Bản về trao đổi công nghệ, kỹ thuật trong lĩnh vực thủy lợi.
- Bản ghi nhớ giữa Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam và Bộ Nội vụ và Truyền thông Nhật Bản về hợp tác trong lĩnh vực công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) và chuyển đổi số.
- Văn bản sửa đổi Thỏa thuận giữa Trung tâm Vũ trụ Việt Nam thuộc Viện hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam và Cơ quan Hàng không Vũ trụ Nhật Bản về trao đổi dữ liệu vệ tinh.
Phát biểu tại cuộc gặp báo chí sau đó, Thủ tướng Nhật Bản Takaichi Sanae bày tỏ vui mừng khi có cơ hội đến thăm và khẳng định Nhật Bản sẽ tiếp tục đẩy mạnh hợp tác với Việt Nam.
"Việt Nam, đúng như tên gọi khác của Hà Nội là Thăng Long - nghĩa là "rồng bay lên", đang phát triển với tốc độ hết sức ấn tượng. Trong những năm gần đây, với vai trò là một mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng, nhiều doanh nghiệp Nhật Bản đã mở rộng đầu tư vào Việt Nam.
Đồng thời trong bối cảnh tình hình quốc tế ngày càng phức tạp, Việt Nam đã đề cao tự chủ chiến lược và triển khai đường lối đối ngoại tích cực, chủ động", Thủ tướng Nhật Bản Takaichi Sanae nhấn mạnh.
Chính vì vậy, theo bà Takaichi Sanae, việc tăng cường hợp tác với Việt Nam có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với việc hiện thực hóa và phát triển sáng kiến "Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương tự do và rộng mở (FOIP)" của Nhật Bản; chia sẻ rằng đó cũng chính là lý do bà thực hiện chuyến thăm Việt Nam lần này.
Nữ Thủ tướng Nhật Bản kế đó cho biết bà sẽ có bài phát biểu chính sách tại Đại học Quốc gia Hà Nội trong chiều 2-5 để chia sẻ về tương lai hợp tác Việt - Nhật, cũng như tầm nhìn của Nhật Bản về FOIP. Qua đó mong muốn truyền tải rõ ràng tầm nhìn của Nhật Bản về trật tự thế giới và định hướng của nền ngoại giao Nhật Bản.
"Cùng với Thủ tướng Lê Minh Hưng, chúng tôi sẽ nỗ lực đưa quan hệ Nhật Bản - Việt Nam lên một tầm cao mới", Thủ tướng Takaichi Sanae nhấn mạnh.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ
Thế Giới
Phát biểu lịch sử của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm trước Quốc hội Sri Lanka

Ngày 8-5, trong khuôn khổ chuyến thăm cấp Nhà nước đầu tiên đến Sri Lanka, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã phát biểu tại Quốc hội Sri Lanka. Sự kiện, theo chia sẻ của Chủ tịch Quốc hội Sri Lanka Jagath Wickramaratne, có ý nghĩa lịch sử, truyền cảm hứng không chỉ cho Quốc hội và các nghị sĩ Sri Lanka mà còn chứa đựng nhiều chia sẻ về kinh nghiệm quý cho đất nước này.
Tuổi Trẻ Online trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Quốc hội Sri Lanka.
Thưa Ngài Chủ tịch Quốc hội, Tiến sĩ Jagath Wickramaratne,
Thưa các vị nghị sĩ Quốc hội Sri Lanka,
Thưa toàn thể quý vị và các bạn,
Hôm nay, tôi rất vinh dự được phát biểu trước Quốc hội Sri Lanka, cơ quan lập pháp tối cao, nơi đại diện cho ý chí, nguyện vọng và lợi ích của Nhân dân Sri Lanka. Thay mặt Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam, tôi xin gửi tới Ngài Chủ tịch Quốc hội, các vị nghị sĩ và toàn thể Nhân dân Sri Lanka lời chào trân trọng, lời chúc sức khỏe và tình hữu nghị chân thành nhất.
Tôi trân trọng cảm ơn Quốc hội, Chính phủ và Nhân dân Sri Lanka đã dành cho Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam sự đón tiếp trọng thị, nồng ấm và thắm tình hữu nghị.
Tôi chúc mừng những nỗ lực và kết quả quan trọng mà Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ và Nhân dân Sri Lanka đã đạt được trong củng cố ổn định, phục hồi và phát triển đất nước. Việt Nam tin tưởng rằng, với truyền thống văn minh lâu đời, vị trí chiến lược tại Ấn Độ Dương, bản lĩnh của Nhân dân và quyết tâm của các nhà lãnh đạo, Sri Lanka sẽ tiếp tục vững bước trên con đường xây dựng một quốc gia hòa bình, ổn định, thịnh vượng và hạnh phúc.
Thưa quý vị và các bạn,
Sri Lanka có vị trí rất đặc biệt trong ký ức lịch sử và tình cảm của Nhân dân Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng ba lần dừng chân tại Sri Lanka trong suốt những năm tháng hoạt động cách mạng. Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Colombo được khánh thành năm 2013 và trở thành biểu tượng xúc động của tình cảm mà Nhân dân Sri Lanka dành cho Việt Nam.
Đối với Nhân dân Việt Nam, đó không chỉ là những dấu chân của một lãnh tụ trên hành trình đi tìm độc lập cho dân tộc mình. Đó còn là sự gặp gỡ tự nhiên giữa các dân tộc yêu chuộng tự do, hòa bình, nhân văn và công lý.
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: "Nếu nước độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì". Tư tưởng ấy có sự đồng điệu sâu sắc với khát vọng của Nhân dân Sri Lanka về một đất nước độc lập, hòa bình, ổn định và đem lại cuộc sống tốt đẹp hơn cho mọi người dân.
Việt Nam và Sri Lanka tuy cách xa về địa lý, nhưng rất gần gũi về lịch sử, văn hóa và khát vọng phát triển. Hai dân tộc chúng ta đều có truyền thống lâu đời, giàu bản sắc, đề cao tinh thần nhân ái, khoan dung và hòa hợp. Phật giáo và các giá trị văn hóa phương Đông đã góp phần nuôi dưỡng trong mỗi dân tộc tình yêu hòa bình, lòng nhân ái và ý thức cộng đồng.
Kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao ngày 21-7-1970, quan hệ Việt Nam - Sri Lanka đã trải qua hơn nửa thế kỷ vun đắp. Năm ngoái, hai nước kỷ niệm 55 năm thiết lập quan hệ ngoại giao; Tổng thống Anura Kumara Dissanayake đã thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam và tham dự Đại lễ Vesak Liên hợp quốc tại TP.HCM.
Những sự kiện đó cho thấy quan hệ hai nước không chỉ được xây dựng bằng văn kiện ngoại giao, mà còn bằng sự hiểu biết, sự tin cậy và tình cảm chân thành giữa Nhân dân hai nước.
Hôm nay, tại Quốc hội Sri Lanka, tôi muốn chia sẻ với quý vị về hành trình phát triển của Việt Nam, đặc biệt là công cuộc Đổi mới gần 40 năm qua.
Gần 40 năm trước, khi bắt đầu công cuộc Đổi mới năm 1986, Việt Nam đứng trước muôn vàn khó khăn. Đất nước vừa trải qua nhiều thập kỷ chiến tranh, cơ sở hạ tầng bị tàn phá, nền kinh tế trì trệ, đời sống Nhân dân thiếu thốn, nguồn lực phát triển rất hạn hẹp. Trong bối cảnh đó, Việt Nam đã lựa chọn Đổi mới.
Đổi mới trước hết là đổi mới tư duy. Chúng tôi nhận thức rằng để phát triển đất nước, phải nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng thực tiễn, mạnh dạn thay đổi những cơ chế không còn phù hợp, khơi dậy sức sáng tạo của Nhân dân, phát huy vai trò của doanh nghiệp, mở cửa hội nhập với thế giới và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân.
Từ một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp, Việt Nam từng bước xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; phát huy các thành phần kinh tế; bảo đảm vai trò quản lý, định hướng và kiến tạo phát triển của Nhà nước; đồng thời tôn trọng quy luật thị trường, khuyến khích cạnh tranh, đổi mới sáng tạo và hội nhập quốc tế.
Trong nông nghiệp, Việt Nam trao quyền nhiều hơn cho người nông dân, khơi thông năng lực sản xuất, bảo đảm an ninh lương thực, từng bước chuyển từ tình trạng thiếu ăn sang tự chủ lương thực và trở thành một trong những quốc gia có vai trò quan trọng trong xuất khẩu nông sản.
Trong công nghiệp và dịch vụ, Việt Nam mở cửa thu hút đầu tư, phát triển cơ sở hạ tầng, hình thành các khu công nghiệp, khu kinh tế, thúc đẩy thương mại và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị khu vực, toàn cầu.
Về đối ngoại, Việt Nam kiên trì đường lối độc lập, tự chủ, tự cường, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế; là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế.
Từ thực tiễn ấy, Việt Nam đã đạt được những kết quả quan trọng, thể hiện qua các con số thống kê về kinh tế, xã hội (từ chỗ thiếu lương thực và nằm trong nhóm 20 nước nghèo nhất thế giới, Việt Nam trở thành nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới, nằm trong số 32 nền kinh tế lớn nhất thế giới với quy mô GDP năm 2025 đạt mức 514 tỉ USD, GDP đầu người trên 5.000 USD/năm; là một trong 15 quốc gia có quy mô thương mại và thu hút đầu tư nước ngoài hàng đầu thế giới, tham gia trên 20 hiệp định thương mại tự do, kết nối với hơn 60 nền kinh tế quan trọng trên thế giới...).
Tuy nhiên chúng tôi cũng nhận thức sâu sắc rằng Việt Nam vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức: Năng suất lao động cần tiếp tục nâng cao; chất lượng tăng trưởng phải được cải thiện; biến đổi khí hậu, già hóa dân số, cạnh tranh chiến lược, chuyển đổi số, chuyển đổi năng lượng và những biến động của thương mại toàn cầu đặt ra nhiều yêu cầu mới. Những kết quả đã đạt được không làm chúng tôi tự mãn; trái lại, càng phát triển, Việt Nam càng hiểu rằng phát triển là hành trình liên tục đổi mới, tự điều chỉnh, tự hoàn thiện và vươn lên.
Từ hành trình đó, Việt Nam rút ra một số kinh nghiệm mà chúng tôi cho rằng có thể có giá trị tham khảo đối với các quốc gia đang phát triển.
Thứ nhất, kiên định độc lập, tự chủ, đồng thời chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; thu hút đầu tư quốc tế, phát triển thương mại phải đi đôi với nâng cao năng lực nội sinh.
Độc lập, tự chủ là nền tảng để mỗi quốc gia bảo vệ lợi ích chính đáng của mình và lựa chọn con đường phát triển phù hợp với điều kiện của mình. Nhưng tự chủ không có nghĩa là khép kín. Tự chủ là có đủ bản lĩnh, năng lực và niềm tin để hợp tác với tất cả các đối tác trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng và cùng có lợi.
Việt Nam luôn coi nội lực là quyết định, nhưng ngoại lực là quan trọng. Nội lực là con người, thể chế, văn hoá, truyền thống, khát vọng và sức sáng tạo của Nhân dân. Ngoại lực là tri thức, thị trường, công nghệ, đầu tư, kinh nghiệm quản trị và hợp tác quốc tế. Sức mạnh của phát triển nằm ở khả năng kết hợp hài hòa giữa hai nguồn lực đó.
Hội nhập quốc tế mở ra cánh cửa rất lớn, nhưng năng lực nội sinh vẫn mang tính quyết định. Thu hút đầu tư nước ngoài là cần thiết, nhưng không đủ. Phát triển bền vững đòi hỏi phải nâng cao năng lực của doanh nghiệp trong nước, chất lượng nguồn nhân lực, công nghiệp hỗ trợ, năng lực quản trị, đổi mới sáng tạo và khả năng tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Việt Nam đang nỗ lực chuyển từ tăng trưởng dựa nhiều vào vốn, lao động và tài nguyên sang tăng trưởng dựa nhiều hơn vào năng suất, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và chất lượng nguồn nhân lực.
Thứ hai, phát huy vai trò của pháp luật, Quốc hội và quản trị quốc gia trong kiến tạo phát triển; đổi mới phải bắt đầu từ đổi mới tư duy và hoàn thiện thể chế.
Phát triển bền vững cần một nền tảng pháp lý ổn định, minh bạch, công bằng và có khả năng thích ứng với thay đổi. Nếu Chính phủ mở đường bằng chính sách, thì Quốc hội bảo đảm con đường ấy được soi sáng bởi pháp luật, trách nhiệm giải trình và ý chí của Nhân dân.
Ở Việt Nam, Quốc hội có vai trò rất quan trọng trong thể chế hóa đường lối phát triển, ban hành pháp luật, quyết định các vấn đề lớn của đất nước, giám sát hoạt động của Nhà nước và phản ánh nguyện vọng của Nhân dân. Hôm nay phát biểu trước Quốc hội Sri Lanka, tôi càng thấy rõ hơn vai trò của các cơ quan lập pháp trong việc tạo dựng niềm tin, thúc đẩy cải cách và bảo đảm phát triển bao trùm.
Một chính sách đúng có thể tạo ra chuyển biến trong một lĩnh vực. Nhưng một tư duy phát triển đúng có thể mở ra con đường cho cả quốc gia. Đổi mới ở Việt Nam không chỉ là thay đổi một số chính sách kinh tế, mà là thay đổi cách nhìn về phát triển, về vai trò của Nhà nước, thị trường, người dân và doanh nghiệp.
Chúng tôi vừa làm vừa tổng kết, vừa thí điểm vừa nhân rộng, không nóng vội, không cực đoan, nhưng kiên trì đổi mới. Bài học của Việt Nam là phải xuất phát từ thực tiễn đất nước mình, tôn trọng quy luật khách quan, đồng thời biết học hỏi kinh nghiệm quốc tế một cách chọn lọc, phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam.
Thứ ba, lấy người dân làm trung tâm, mục tiêu và động lực của phát triển.
Phát triển không chỉ là tăng trưởng GDP. Phát triển phải được đo bằng cuộc sống tốt hơn của người dân, bằng cơ hội học tập của trẻ em, bằng việc làm ổn định của người lao động, bằng sự an toàn của cộng đồng và bằng niềm tin của Nhân dân.
Với quan điểm "dân là gốc", Việt Nam luôn gắn tăng trưởng kinh tế với giảm nghèo, an sinh xã hội, giáo dục, y tế, phát triển nông thôn và nâng cao chất lượng sống. Người dân không chỉ là đối tượng thụ hưởng, mà còn là chủ thể sáng tạo, người tham gia và người làm chủ tiến trình phát triển.
Một nền kinh tế có thể tăng trưởng nhanh trong một giai đoạn, nhưng một quốc gia chỉ phát triển bền vững khi người dân cảm thấy họ là người thụ hưởng, người tham gia và người làm chủ của tiến trình phát triển ấy.
Thứ tư, coi nông nghiệp, nông dân, nông thôn là nền tảng quan trọng của ổn định và phát triển.
Đối với nhiều quốc gia đang phát triển, nông nghiệp không chỉ là một ngành kinh tế. Nông nghiệp còn gắn với an ninh lương thực, sinh kế của hàng triệu người dân, ổn định xã hội, văn hóa cộng đồng và khả năng chống chịu trước khủng hoảng.
Việt Nam bắt đầu nhiều bước đổi mới từ nông nghiệp và nông thôn. Từ kinh nghiệm của mình, chúng tôi nhận thấy rằng bảo đảm sinh kế của nông dân, phát triển hạ tầng nông thôn, hiện đại hóa sản xuất nông nghiệp, chế biến sâu, giảm thất thoát sau thu hoạch, xây dựng thương hiệu và thích ứng với biến đổi khí hậu là những trụ cột rất quan trọng của phát triển bền vững.
Thế giới đang thay đổi rất nhanh. Khoa học - công nghệ, trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi năng lượng, biến đổi khí hậu, dịch chuyển chuỗi cung ứng và cạnh tranh chiến lược đang tạo ra cả cơ hội lẫn thách thức cho mọi quốc gia.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định mục tiêu đến năm 2030 Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao.
Để thực hiện mục tiêu đó, Việt Nam đang thúc đẩy mạnh mẽ cải cách thể chế, phát triển nguồn nhân lực, xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại; phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh; nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia; bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô; chăm lo tốt hơn đời sống Nhân dân; xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Chúng tôi hiểu rõ khát vọng lớn phải được chứng minh bằng hành động cụ thể, cụ thể là cải cách mạnh mẽ hơn, quản trị hiệu quả hơn, phát huy dân chủ rộng rãi hơn, đoàn kết toàn dân tộc sâu sắc hơn và hợp tác quốc tế thực chất hơn.
Những vấn đề đó không chỉ là yêu cầu riêng của Việt Nam. Đó cũng là câu hỏi chung của nhiều quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam và Sri Lanka: làm thế nào để phát triển nhanh hơn nhưng bền vững hơn; hiện đại hơn nhưng bao trùm hơn; hội nhập sâu hơn nhưng vẫn giữ vững độc lập, tự chủ và bản sắc dân tộc.
Mỗi quốc gia có lịch sử, văn hóa, điều kiện, nguồn lực và lựa chọn phát triển riêng. Điều chúng tôi mong muốn chia sẻ là hành trình mà chúng tôi đã đi qua, có cả những thành công và chưa thành công, với tinh thần cầu thị và sẵn sàng cùng học hỏi.
Về quan hệ song phương, chúng tôi mong muốn cùng Sri Lanka mở ra giai đoạn hợp tác mới, sâu sắc hơn, thực chất hơn và hiệu quả hơn.
Tôi vui mừng thông báo với Quốc hội và Nhân dân Sri Lanka rằng trên nền tảng tin cậy chính trị, tình hữu nghị truyền thống và nhu cầu hợp tác ngày càng sâu rộng, Việt Nam và Sri Lanka đã nhất trí nâng cấp quan hệ hai nước lên Đối tác toàn diện. Đây là dấu mốc quan trọng, mở ra không gian hợp tác mới, toàn diện hơn, thực chất hơn và hiệu quả hơn giữa hai nước.
Với khuôn khổ quan hệ mới này, chúng ta có điều kiện thuận lợi hơn để làm sâu sắc hợp tác chính trị, quốc phòng - an ninh, kinh tế, thương mại, đầu tư, nông nghiệp, giáo dục, văn hoá, du lịch, khoa học - công nghệ, chuyển đổi số và phối hợp đa phương.
Trên tinh thần đó, tôi xin đề xuất một số hướng hợp tác lớn.
Thứ nhất, tăng cường tin cậy chính trị và hợp tác nghị viện.
Hai nước cần tiếp tục duy trì trao đổi đoàn cấp cao và các cấp; tăng cường hợp tác giữa các cơ quan của Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội và địa phương hai nước; phát huy vai trò các cơ chế tham vấn, đối thoại, ủy ban hỗn hợp và các kênh hợp tác song phương.
Đặc biệt, Quốc hội hai nước có thể tăng cường trao đổi kinh nghiệm về lập pháp, giám sát, cải cách hành chính, chuyển đổi số trong hoạt động nghị viện, xây dựng pháp luật phục vụ phát triển bền vững, bảo vệ nhóm yếu thế, thúc đẩy bình đẳng giới và tạo cơ hội cho thanh niên. Việt Nam mong muốn hai Quốc hội thúc đẩy hoạt động của các nhóm nghị sĩ hữu nghị, làm cầu nối để quan hệ hai nước ngày càng gần gũi, thực chất.
Thứ hai, tạo chuyển biến mạnh mẽ hơn trong hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư.
Hợp tác kinh tế giữa Việt Nam và Sri Lanka còn nhiều dư địa. Hai nước có thị trường, sản phẩm, vị trí địa lý và năng lực bổ trợ cho nhau. Việt Nam có thể là cầu nối để Sri Lanka tăng cường hợp tác với ASEAN và Đông Nam Á; Sri Lanka có thể là cầu nối quan trọng để Việt Nam mở rộng hợp tác với Nam Á và khu vực Ấn Độ Dương.
Hai bên đã thống nhất mục tiêu đưa kim ngạch thương mại song phương lên 1 tỉ USD trong tương lai gần; đồng thời khuyến khích các biện pháp thiết thực như tạo thuận lợi thương mại, tăng kết nối doanh nghiệp, trao đổi đoàn xúc tiến, triển lãm, hội thảo, kết nối cung - cầu và xem xét các khuôn khổ pháp lý thuận lợi hơn cho đầu tư, thương mại.
Mục tiêu 1 tỉ USD không chỉ là một con số. Đó là biểu tượng cho niềm tin mới, động lực mới và không gian hợp tác mới giữa cộng đồng doanh nghiệp hai nước. Tôi đề nghị các cơ quan hữu quan hai nước phối hợp chặt chẽ, cụ thể hóa các thỏa thuận đã đạt được thành chương trình, dự án và kết quả thiết thực cho người dân, doanh nghiệp hai nước.
Các lĩnh vực có thể ưu tiên gồm nông nghiệp, chế biến thực phẩm, sản xuất, năng lượng tái tạo, linh kiện điện tử và ô tô, dược phẩm, bệnh viện, viễn thông, logistics, hạ tầng, du lịch, dịch vụ và công nghệ thông tin. Đây là những lĩnh vực mà Sri Lanka đã bày tỏ quan tâm thu hút đầu tư và hợp tác với Việt Nam.
Thứ ba, đẩy mạnh hợp tác nông nghiệp, an ninh lương thực và phát triển nông thôn.
Nông nghiệp là lĩnh vực rất gần gũi với cả hai quốc gia. Việt Nam sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm với Sri Lanka như tinh thần Tuyên bố chung năm 2025. Tôi tin rằng hợp tác nông nghiệp giữa hai nước không chỉ tạo thêm giá trị kinh tế, mà còn góp phần bảo đảm an ninh lương thực, sinh kế cho người dân nông thôn, thích ứng biến đổi khí hậu và thúc đẩy phát triển bao trùm.
Thứ tư, phát triển các động lực hợp tác mới: kinh tế biển, logistics, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và tăng trưởng xanh.
Sri Lanka có vị trí chiến lược tại Ấn Độ Dương, là điểm kết nối quan trọng của các tuyến hàng hải quốc tế. Việt Nam là quốc gia ven biển ở Đông Nam Á, đang thúc đẩy chiến lược phát triển kinh tế biển bền vững. Hai nước có thể hợp tác trong logistics, cảng biển, vận tải, thương mại hàng hải, bảo vệ môi trường biển, ứng phó thiên tai và phát triển kinh tế biển xanh.
Hai bên cũng có thể đẩy mạnh hợp tác trong chuyển đổi số, thương mại điện tử, trí tuệ nhân tạo, chính phủ số, dịch vụ công số, giáo dục số, y tế số, năng lượng tái tạo và tài chính xanh. Hai nước đã cam kết hợp tác trong khai thác các công nghệ mới, trong đó có trí tuệ nhân tạo, thương mại điện tử và chuyển đổi số, phục vụ phát triển bền vững và nâng cao chất lượng dịch vụ công. Đây là những lĩnh vực không bị giới hạn bởi khoảng cách địa lý. Trí tuệ, công nghệ, sáng tạo và dữ liệu có thể trở thành những cây cầu mới nối liền Việt Nam và Sri Lanka.
Thứ năm, tăng cường giáo dục, văn hoá, du lịch và giao lưu Nhân dân.
Quan hệ giữa hai quốc gia chỉ thật sự bền chặt khi được nuôi dưỡng không chỉ bằng thỏa thuận và văn kiện, mà bằng sự hiểu biết, giao lưu và tình cảm của người dân hai nước.
Việt Nam và Sri Lanka có nhiều điều kiện để phát triển du lịch văn hóa, du lịch Phật giáo, du lịch di sản, du lịch biển và du lịch sinh thái. Hai bên đã nhất trí tầm quan trọng của kết nối hàng không và khuyến khích các hãng hàng không sớm mở đường bay trực tiếp; đồng thời thúc đẩy các biện pháp tạo thuận lợi cho du lịch, kinh doanh và giao lưu Nhân dân.
Hai nước cũng cần tăng cường trao đổi sinh viên, học giả, nhà nghiên cứu, nghệ sĩ, doanh nghiệp trẻ; mở rộng học bổng; thúc đẩy hợp tác giữa các trường đại học, viện nghiên cứu; tổ chức các tuần lễ văn hóa Việt Nam tại Sri Lanka và Sri Lanka tại Việt Nam. Việt Nam trân trọng việc Sri Lanka sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm về khảo cổ học, bảo tồn di sản văn hóa; đồng thời Việt Nam cũng mong muốn tăng cường hợp tác trong nghiên cứu Phật giáo, văn hóa và lịch sử giữa hai nước.
Tôi cũng mong Quốc hội, Chính phủ và Nhân dân Sri Lanka tiếp tục quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi để cộng đồng người Việt Nam tại Sri Lanka ổn định cuộc sống, hội nhập tốt với xã hội sở tại và đóng góp tích cực cho quan hệ hữu nghị giữa hai dân tộc.
Thứ sáu, phối hợp chặt chẽ tại các diễn đàn khu vực và quốc tế.
Trong một thế giới đầy biến động, các quốc gia đang phát triển cần tăng cường đoàn kết, hợp tác và tiếng nói chung. Việt Nam và Sri Lanka cùng coi trọng chủ nghĩa đa phương, luật pháp quốc tế, vai trò của Liên hợp quốc, Phong trào Không liên kết và các cơ chế hợp tác khu vực.
Hai nước cần tiếp tục phối hợp trong các vấn đề cùng quan tâm như hòa bình, ổn định, an ninh và an toàn hàng hải; chống tội phạm xuyên quốc gia, khủng bố, tội phạm mạng, nhập cư bất hợp pháp; tham gia gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc; ứng phó biến đổi khí hậu; thúc đẩy tài chính khí hậu cho các quốc gia đang phát triển; và thực hiện các Mục tiêu phát triển bền vững. Tuyên bố chung năm 2025 cũng khẳng định tầm quan trọng của hòa bình, ổn định, an ninh, tự do hàng hải và tôn trọng luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982.
Việt Nam hoan nghênh định hướng của Sri Lanka tăng cường hợp tác với Đông Nam Á và ASEAN. Việt Nam sẵn sàng làm cầu nối để Sri Lanka mở rộng hợp tác với ASEAN; đồng thời mong muốn Sri Lanka tiếp tục là cầu nối để Việt Nam tăng cường quan hệ với Nam Á và khu vực Ấn Độ Dương.
Các quốc gia vừa và nhỏ không tìm kiếm sức mạnh bằng đối đầu. Chúng ta tìm kiếm sức mạnh bằng đoàn kết, bằng luật pháp quốc tế, bằng năng lực tự cường, bằng chất lượng quản trị, bằng niềm tin của Nhân dân và bằng sự tin cậy giữa các dân tộc.
Việt Nam hiểu sâu sắc giá trị của hòa bình, bởi chúng tôi đã trải qua chiến tranh. Việt Nam hiểu giá trị của độc lập, bởi chúng tôi đã phải đấu tranh lâu dài để giành và giữ độc lập. Việt Nam hiểu giá trị của phát triển, bởi chúng tôi đã đi lên từ nghèo khó. Và Việt Nam hiểu giá trị của bạn bè, bởi trong những năm tháng khó khăn nhất, chúng tôi đã nhận được sự ủng hộ, đoàn kết và tình cảm quý báu của Nhân dân tiến bộ trên thế giới, trong đó có Nhân dân Sri Lanka.
Ngày nay, Việt Nam mong muốn biến tình hữu nghị truyền thống thành nguồn lực phát triển thực sự; biến sự tin cậy chính trị thành hợp tác kinh tế cụ thể; biến giao lưu văn hóa thành sự hiểu biết sâu sắc; biến khát vọng chung thành những dự án, chương trình và lợi ích thiết thực cho Nhân dân hai nước.
Tôi tin tưởng rằng với nền tảng hơn nửa thế kỷ quan hệ ngoại giao, với sự tương đồng về lịch sử, văn hóa và khát vọng phát triển, với quyết tâm của lãnh đạo và sự ủng hộ của Nhân dân hai nước, quan hệ Việt Nam - Sri Lanka sẽ bước vào một giai đoạn phát triển mới, sâu sắc hơn, thực chất hơn và hiệu quả hơn.
Thưa Ngài Chủ tịch Quốc hội,
Thưa các vị nghị sĩ,
Từ Hà Nội đến Colombo, từ Biển Đông đến Ấn Độ Dương, chúng ta có chung một niềm tin: hòa bình là nền tảng, Nhân dân là trung tâm, phát triển là mục tiêu và hữu nghị là cây cầu bền vững nhất nối liền hai dân tộc.
Chúc Quốc hội Sri Lanka tiếp tục là biểu tượng của ý chí, trí tuệ và khát vọng của Nhân dân Sri Lanka.
Chúc Nhà nước, Chính phủ và Nhân dân Sri Lanka hòa bình, ổn định, phát triển bền vững và thịnh vượng.
Chúc quan hệ hữu nghị và hợp tác Việt Nam - Sri Lanka không ngừng phát triển, vì lợi ích của Nhân dân hai nước, vì hòa bình, ổn định và thịnh vượng của khu vực và thế giới.
Trân trọng cảm ơn.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ
Thế Giới
Trung Quốc xem xét kỷ luật nguyên Phó trưởng Ban Tuyên truyền Trung ương

Ngày 15-7, Ủy ban Kiểm tra Kỷ luật Trung ương và Ủy ban Giám sát Quốc gia Trung Quốc tiến hành xem xét kỷ luật và điều tra giám sát đối với ông Thái Phó Triều (Cai Fuchao), nguyên Phó trưởng Ban Tuyên truyền Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, nguyên Bí thư Đảng ủy, Cục trưởng Tổng cục Báo chí, Xuất bản, Phát thanh, Điện ảnh và Truyền hình quốc gia Trung Quốc.
Theo thông tin trên trang web của Ủy ban Kiểm tra Kỷ luật Trung ương và Ủy ban Giám sát Quốc gia Trung Quốc, ông Thái Phó Triều bị xem xét kỷ luật và điều tra do bị nghi ngờ vi phạm nghiêm trọng kỷ luật Đảng và pháp luật.
Hiện Ủy ban Kiểm tra Kỷ luật Trung ương và Ủy ban Giám sát Quốc gia Trung Quốc chưa công bố thêm thông tin chi tiết, theo báo China Daily.
Ông Thái Phó Triều sinh năm 1951, quê ở Bắc Kinh. Năm 1971, ông bắt đầu sự nghiệp tại một nhà máy đóng gói ở thủ đô. Đến năm 1979, ông gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Ông có bằng tiến sĩ văn học, là nhà báo cao cấp. Ông từng là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa XVIII và Ủy viên Ủy ban Toàn quốc khóa XII Hội nghị Hiệp thương Chính trị Nhân dân Trung Quốc.
Trước đây, ông Thái Phó Triều từng là Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy, Trưởng Ban Tuyên giáo, Phó Thị trưởng thành phố Bắc Kinh.
Trước đó, Hãng tin Reuters ngày 14-7 đưa tin Trung Quốc đã khai trừ Đảng với ông Mã Hưng Thụy (Ma Xingrui), cựu ủy viên Bộ Chính trị Trung Quốc và là cựu bí thư tại Tân Cương, với cáo buộc tham nhũng.
Ông Mã Hưng Thụy bị điều tra từ tháng 4-2026 với cáo buộc "vi phạm nghiêm trọng kỷ luật và pháp luật". Cơ quan điều tra kết luận ông Mã đã lợi dụng công tác bổ nhiệm, đề bạt cán bộ để trục lợi, đồng thời sắp xếp việc làm trái quy định cho nhiều cá nhân, theo Tân Hoa Xã.
Trước ông Mã, ông Hà Vệ Đông (He Weidong), Phó chủ tịch Quân ủy Trung ương Trung Quốc (CMC) và là ủy viên Bộ Chính trị, đã bị điều tra và đã bị khai trừ khỏi Đảng Cộng sản Trung Quốc vào tháng 10-2025.
Ông Trương Hựu Hiệp (Zhang Youxia) - Phó chủ tịch Quân ủy Trung ương Trung Quốc và ủy viên Bộ Chính trị - đã bị điều tra vì nghi ngờ vi phạm nghiêm trọng kỷ luật và pháp luật vào tháng 1-2026, theo thông báo của Bộ Quốc phòng Trung Quốc.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

