Iran ngày 18/4 tuyên bố tái áp đặt kiểm soát ở eo biển Hormuz, đảo ngược thông báo mở cửa hoàn toàn cho tàu thương mại đưa ra một ngày trước đó. Tehran cho hay mọi tàu được phép đi qua đều phải sử dụng các làn đường mới sát bờ biển Iran, đồng thời cảnh báo những tuyến chính trong eo biển có thể đã bị rải thủy lôi.
Tổng thống Mỹ Donald Trump cuối tuần trước tuyên bố tất cả phương tiện rải mìn của Iran đã bị đánh chìm. Tuy nhiên, một số chuyên gia cảnh báo vẫn có khả năng Tehran sẽ triển khai thêm thiết bị mới.
Iran được cho là sở hữu nhiều loại thủy lôi, bao gồm thủy lôi nằm dưới đáy biển, thủy lôi có dây neo nổi gần mặt nước, thủy lôi trôi tự do và mìn dính gắn trực tiếp vào thân tàu, theo Reuters.
“Tác chiến bằng thủy lôi rất hiệu quả, vì vũ khí này rẻ nhưng chi phí rà phá lại đắt đỏ. Ngay cả một bãi mìn cũng đủ để ngăn chặn tàu bè, đặc biệt là tàu thương mại”, Jon Pentreath, chuẩn đô đốc hải quân Anh đã nghỉ hưu và hiện là chuyên gia tư vấn, cho biết.
Wall Street Journal dẫn lời các nhà phân tích quân sự chỉ ra rằng rà phá thủy lôi là điều kiện cần thiết để tàu bè có thể lưu thông trở lại ở eo biển Hormuz, thay vì phải đi theo các tuyến đường dài và chậm hơn do Iran đưa ra.
Quân đội Mỹ đang sử dụng các tàu lặn không người lái để giúp rà phá thủy lôi tại eo biển Hormuz. Những phương tiện này ngày càng trở thành một phần quan trọng trong nỗ lực của hải quân Mỹ khi họ đã loại biên nhiều tàu quét mìn chuyên biệt.
“Bạn sẽ ít phải lo lắng về tổn thất sinh mạng, vì vậy đưa tàu lặn không người lái qua bãi thủy lôi sẽ dễ chấp nhận hơn nhiều. Đó là những mất mát có thể thay thế được”, Scott Savitz, kỹ sư cao cấp tại hãng nghiên cứu RAND, cho biết.
Trước đây, hải quân Mỹ thường dựa vào tàu quét mìn lớp Avenger cho nhiệm vụ rà phá thủy lôi. Chúng được chế tạo bằng gỗ và bọc sợi thủy tinh, có dấu hiệu từ tính rất thấp để tránh kích hoạt thủy lôi dùng ngòi nổ từ trường. Các tàu thường trực tiếp tiến vào khu vực nghi có mìn, dùng hệ thống định vị thủy âm (sonar) để tìm kiếm thủy lôi rồi phá hủy bằng tàu lặn hoặc thiết bị cơ khí kéo phía sau.
Tuy nhiên, phần lớn đội tàu cũ này đã được loại biên. Hải quân Mỹ đã rút toàn bộ 4 tàu quét mìn lớp Avenger khỏi Trung Đông hồi đầu năm, sau hàng chục năm triển khai chúng ở khu vực.
Lực lượng này được thay bằng 3 tàu chiến đấu ven biển (LCS) lớp Independence, mang theo những thiết bị hiện đại như drone và robot điều khiển từ xa, cho phép chiến hạm giữ khoảng cách an toàn với bãi mìn.
Tuy nhiên, hai trong 3 chiếc đã rút về Singapore với lý do “bảo dưỡng” chỉ vài ngày sau khi xung đột bùng phát. Chúng chỉ hướng tới Trung Đông trong những ngày gần đây, khi giới chức Mỹ thể hiện quyết tâm rà phá thủy lôi để mở cửa eo biển Hormuz.
Hải quân Mỹ không phản hồi yêu cầu bình luận về các lực lượng rà phá thủy lôi đang triển khai ở Trung Đông. Bộ tư lệnh Trung tâm (CENTCOM), cơ quan đặc trách hoạt động của quân đội Mỹ ở khu vực, cũng từ chối cung cấp thêm thông tin chi tiết.
Cassell Bryan-Low, nhà bình luận của Reuters, cho hay chiến dịch của Mỹ có khả năng bắt đầu bằng tìm kiếm thủy lôi với xuồng và tàu lặn không người lái trang bị cảm biến. Khi phát hiện vật thể nghi ngờ, dữ liệu sẽ được chuyển về cho đội ngũ vận hành trên tàu chiến ở ngoài bãi mìn để nhận dạng, đưa ra phương án vô hiệu hóa.
Các cựu quan chức hải quân Mỹ nói rằng khả năng tìm kiếm hiện nay sẽ dựa vào các thiết bị không người lái trang bị sonar, cũng như trực thăng quần thảo bên trên để phát hiện thủy lôi gần mặt nước.
Để phá hủy mục tiêu, tàu chiến Mỹ có thể triển khai những hệ thống như Archerfish. Đây là thiết bị có hình dạng giống ngư lôi, dài khoảng 2 m, mang theo thuốc nổ, có khả năng truyền video trực tiếp về người điều khiển qua dây cáp và có giá hàng chục nghìn USD mỗi chiếc.
Bryan Clark, cựu sĩ quan hải quân Mỹ và chuyên gia tại Viện Hudson, cho biết Washington cũng có thể sử dụng xuồng không người lái kéo theo thiết bị rà phá mìn để kích nổ hoặc thu gom thủy lôi. Thợ lặn đôi khi cũng được huy động để thu thập thông tin tình báo.
Mỹ còn có một số thiết bị cho nhiệm vụ này, như tàu mặt nước không người lái phổ thông (CUSV) do tập đoàn RTX chế tạo. Chúng được trang bị hệ thống sonar AN/AQS-20 để rà quét từng dải rộng hơn 30 m dưới đáy biển.
Ngoài ra, họ còn có tàu ngầm không người lái chạy bằng ắc quy MK18 Mod 2 Kingfish và Knifefish do General Dynamics sản xuất. Chúng có thể được thả xuống nước từ một chiếc thuyền nhỏ, sau đó quét tìm thủy lôi theo lộ trình định sẵn.
Giới phân tích cho biết quân đội Mỹ có thể thực hiện quét sơ bộ để tìm thủy lôi khá nhanh trong phạm vi eo biển Hormuz. Sau khi xác định vị trí mìn, một đợt robot thứ hai có thể được triển khai để phá hủy chúng bằng thuốc nổ hoặc kích hoạt từ xa.
“Có thể khảo sát một luồng nhỏ ở khu vực đó trong vài ngày thay vì vài tuần, bằng cách sử dụng phương tiện không người lái. Sau khi giải tỏa được một tuyến di chuyển nhỏ, tàu thuyền có thể bắt đầu lưu thông qua đó, trước khi nó được mở rộng dần theo thời gian”, Kevin Donegan, phó đô đốc hải quân Mỹ về hưu, cho biết.
Quan chức Mỹ cho biết Iran dường như đã triển khai ít thủy lôi hơn dự kiến, do lực lượng tàu và xuồng rải mìn hứng chịu thiệt hại trong xung đột.
Tuy nhiên, cựu sĩ quan Clark nhận định khơi thông eo biển Hormuz vẫn sẽ cần ít nhất 2-3 tuần, trong khi các cuộc tấn công của Iran nhằm vào lực lượng rà phá thủy lôi cũng có thể làm chậm tiến độ và gia tăng rủi ro. Do đó, quân đội Mỹ có thể phải triển khai các biện pháp phòng vệ như tàu chiến và UAV tuần tra.
“Tìm kiếm và phá hủy thủy lôi rất tốn thời gian”, tư lệnh hải quân Mỹ Daryl Caudle phát biểu hồi tháng 3, thêm rằng điều này khiến các lực lượng quét mìn “dễ bị tổn thương”.
Jared Malsin, nhà bình luận của Wall Street Journal, cũng cảnh báo rằng mọi hoạt động nhằm mở cửa eo biển Hormuz cũng sẽ tạo thêm thách thức cho hải quân Mỹ, vốn đã căng thẳng vì những đợt triển khai dài ngày.
Trong bài đăng trên mạng xã hội hôm 17/4, Tổng thống Trump tuyên bố “Iran, với sự giúp đỡ của Mỹ, đã và đang loại bỏ tất cả thủy lôi”.
Tuy nhiên, các nhà lãnh đạo ngành vận tải biển cảnh báo điều này không chính xác. Jakob Larsen, giám đốc về an toàn và an ninh của Hội đồng Hàng hải Baltic và Quốc tế (BIMCO), cho biết những thông tin đáng tin cậy hiện tại cho thấy nguy cơ từ thủy lôi vẫn hiện hữu và “tàu thuyền nên cân nhắc tránh khu vực này”.
Hệ thống đường sắt Trung Quốc vừa lập thêm một kỷ lục mới trong dịp Xuân Vận (2.2 - 13.3) vừa qua, khi phục vụ 538 triệu lượt khách. Theo tờ China Daily, so với cùng kỳ năm ngoái, số lượt khách tăng 4,8%, còn hàng hóa tăng 2,1% (tương đương 424 triệu tấn), cũng là kỷ lục mới.
Theo số liệu của Tập đoàn Đường sắt Trung Quốc, các tuyến đường sắt trên toàn quốc vận hành trung bình 12.861 chuyến tàu chở khách mỗi ngày, với mức cao điểm là 14.037 chuyến/ngày. Đáng chú ý, theo Tân Hoa xã, việc đi lại giữa các thành phố lớn trở nên dễ dàng hơn nhiều, khi 97% các thành phố có hơn nửa triệu dân tại Trung Quốc đều có kết nối đường sắt cao tốc (từ 200 km/giờ).
Quá trình phát triển khoảng 2 thập niên của đường sắt cao tốc Trung Quốc gây nhiều chú ý cả về tốc độ, tổng chiều dài cũng như việc từng bước làm chủ công nghệ. Theo nghiên cứu Công nghiệp đường sắt Trung Quốc đăng trên chuyên san MDPI, Trung Quốc đã bắt kịp công nghệ đường sắt cao tốc nhờ tập trung vào việc mở rộng phạm vi các cơ hội công nghệ, trước khi từng bước tiến sâu hơn. Nghiên cứu do các chuyên gia tại Đại học Công nghệ Hoa Trung (Trung Quốc), Đại học Công nghệ và Kinh doanh Vũ Hán (Trung Quốc) và Trường Quản lý ESSCA (Pháp) thực hiện. Theo đó, do nhu cầu cấp thiết về phát triển kinh tế và xu hướng phát triển công nghệ đường sắt cao tốc, Trung Quốc đã chọn phương án nhập khẩu, tiếp thu và ứng dụng công nghệ tiên tiến nước ngoài, thay vì tự phát triển, để nhanh chóng nâng cao năng lực công nghệ. Năm 2004, chính phủ Trung Quốc đã xây dựng Kế hoạch Mạng lưới đường sắt trung và dài hạn, đề xuất kế hoạch xây dựng 12.000 km đường sắt cao tốc trước năm 2020.
Tổng công ty Toa xe đường sắt Trung Quốc (CRRC) đã nhập khẩu 4 công nghệ tàu điện EMU từ các công ty Alstom (Pháp), Kawasaki Heavy Industries (Nhật Bản), Bombardier (Canada) và Siemens (Đức). Chiến lược của CRRC là trực tiếp mua sản phẩm và công nghệ để thúc đẩy mô hình "thiết kế và sản xuất chung", giúp các doanh nghiệp trong nước nắm vững công nghệ tiên tiến.
Nhờ mô hình trên, các công ty đường sắt Trung Quốc gần như đã hoàn toàn tự chủ về nguồn công nghệ, góp phần vào sự hội nhập và đổi mới dựa trên các sản phẩm nhập khẩu. Năm 2008, các bộ ngành liên quan đưa ra kế hoạch phát triển tàu cao tốc phục vụ tuyến Bắc Kinh - Thượng Hải, trong đó nâng tốc độ EMU từ 250 - 300 km/giờ lên mức 350 km/giờ hoặc cao hơn. Bộ Đường sắt Trung Quốc khi đó điều phối dự án với đội ngũ gồm chuyên gia từ 6 tập đoàn nhà nước, 25 trường đại học, 11 viện nghiên cứu hàng đầu, 51 phòng thí nghiệm và đội ngũ 68 viện sĩ, 500 giáo sư và hơn 10.000 kỹ sư và kỹ thuật viên. Dự án đã sản xuất phiên bản tàu EMU CRH380 với tốc độ lên đến 380 km/giờ, dù một số bộ phận vẫn do Siemens và các công ty nước ngoài khác cung cấp. Quan trọng hơn, các công ty đường sắt trong nước đã đạt được một số đột phá trong các công nghệ then chốt như thân tàu và hệ thống động lực. Họ còn phát triển các phiên bản EMU thích nghi với các yếu tố môi trường khắc nghiệt như đồi núi, cát và nhiệt độ thấp.
Nhiều nguồn công nghệ khác nhau tạo cơ hội phát triển nhanh chóng ngành công nghiệp đường sắt cao tốc Trung Quốc, nhưng cũng dẫn đến sự tồn tại cùng lúc nhiều nền tảng công nghệ và sản phẩm khác nhau. Có đến 17 loại tàu EMU từ 4 nền tảng công nghệ ở Trung Quốc với nhiều mẫu, tiêu chuẩn kỹ thuật, cơ chế điều khiển… khác nhau. Để giải quyết, Bộ Đường sắt Trung Quốc vào năm 2012 liên kết các công ty trong nước, trường đại học, đơn vị nghiên cứu khoa học và các lực lượng có lợi thế khác để phát triển một tàu điện tiêu chuẩn chung, có tốc độ 350 km/giờ. Tháng 6.2013, dự án EMU "Tiêu chuẩn Trung Quốc" chính thức triển khai nhằm phát triển công nghệ nội địa. "Tập đoàn Đường sắt Trung Quốc đã đề xuất tiêu chuẩn đáp ứng nhu cầu trong nước. Năm 2015, chúng tôi đã hoàn thành tàu Phục Hưng, được gọi là tàu tiêu chuẩn Trung Quốc", theo các nhà nghiên cứu.
Năm 2017, tàu điện EMU tiêu chuẩn Trung Quốc chính thức được đặt tên là Phục Hưng CR400 và được đưa vào vận hành thương mại với tốc độ 350 km/giờ trên tuyến đường sắt cao tốc Bắc Kinh - Thượng Hải vào cùng năm. Nâng cao giới hạn hơn nữa, theo China Daily, dự kiến tàu CR450 hoàn tất đánh giá vận hành và hoàn thiện thiết kế trong năm nay, tiến thêm một bước gần hơn đến việc vận hành thương mại sau thử nghiệm trên một đường sắt thực tế đã đạt tốc độ 453 km/giờ.
Đặc phái viên Mỹ tại Greenland Jeff Landry nói với AFP ngày 20/5 rằng Washington cần tái lập sự hiện diện tại vùng lãnh thổ tự trị thuộc Đan Mạch này.
Ở đỉnh điểm Chiến tranh Lạnh, Washington có 17 cơ sở quân sự tại Greenland, nhưng đã dần đóng cửa theo thời gian và hiện chỉ còn một căn cứ duy nhất, căn cứ Pituffik ở phía bắc hòn đảo.
Tổng thống Mỹ Donald Trump nhiều lần lập luận rằng Mỹ cần kiểm soát Greenland vì các lo ngại an ninh quốc gia trước các đối thủ của Washington.
Hòn đảo này được cho là có trữ lượng khoáng sản đất hiếm chưa được khai thác và có thể trở thành tài sản chiến lược quan trọng khi băng ở vùng cực tan chảy và các tuyến hàng hải mới xuất hiện.
“Tôi nghĩ đã đến lúc Mỹ đặt dấu ấn trở lại Greenland”, đặc phái viên Mỹ Jeff Landry nói với AFP khi kết thúc chuyến thăm đầu tiên tới hòn đảo kể từ khi được bổ nhiệm vào tháng 12/2025.
“Tôi nghĩ mọi người đang thấy Tổng thống nói về việc tăng cường các hoạt động an ninh quốc gia và tái triển khai lực lượng tại một số căn cứ ở Greenland”, ông nói.
Theo các thông tin truyền thông gần đây, Mỹ muốn mở 3 căn cứ mới ở phía nam vùng lãnh thổ này. Một hiệp ước quốc phòng năm 1951, được cập nhật vào năm 2004, đã cho phép Washington tăng cường triển khai binh sĩ và cơ sở quân sự trên đảo, miễn là thông báo trước cho Đan Mạch và Greenland.
Ông Trump đã rút lại các lời cảnh báo sẽ kiểm soát Greenland hồi tháng 1, và một nhóm công tác Mỹ - Đan Mạch - Greenland đã được thành lập để giải quyết các lo ngại mà phía Washington nêu ra.
Đặc phái viên Landry, đồng thời là thống đốc bang Louisiana thuộc đảng Cộng hòa, đã tới thủ phủ Nuuk của Greenland ngày 17/5. Tuy nhiên, ông không được mời chính thức trước đó.
Các quan chức Greenland và Đan Mạch nhiều lần khẳng định chỉ Greenland mới có quyền quyết định tương lai của mình.
Ông Landry đã gặp Thủ hiến Greenland Jens-Frederik Nielsen và lãnh đạo cơ quan ngoại giao Greenland Mute Egede ngày 18/5. Ông Nielsen cho biết các cuộc thảo luận mang tính “xây dựng”, nhưng lưu ý rằng “không có dấu hiệu nào cho thấy lập trường của Mỹ đã thay đổi”.
Trong cuộc phỏng vấn đăng trên nhật báo Sermitsiaq của Greenland ngày 20/5, ông Landry đã nói về mong muốn độc lập của Greenland.
Dù các cuộc thăm dò cho thấy đa số người Greenland ủng hộ việc giành độc lập khỏi Đan Mạch vào một thời điểm nào đó, chính quyền hòn đảo hiện nay chưa có kế hoạch như vậy trong tương lai gần do còn nhiều vấn đề chưa được giải quyết, chủ yếu liên quan đến nền kinh tế của hòn đảo vốn phụ thuộc vào Đan Mạch.
“Tôi nghĩ có những cơ hội đáng kinh ngạc có thể thực sự giúp người Greenland chuyển từ phụ thuộc sang độc lập. Tôi nghĩ Tổng thống Mỹ muốn thấy hòn đảo này trở nên độc lập về kinh tế. Và tôi nghĩ điều đó có thể thực hiện được ở đây", ông Landry nói trong cuộc phỏng vấn.
Ngoài ra, ông Landry đã đi cùng một bác sĩ Mỹ, người nói với đài truyền hình Đan Mạch TV2 rằng ông có mặt tại đây “để đánh giá nhu cầu y tế” ở Greenland. Điều này đã gây ra phản ứng trái chiều ở Greenland.
Đan Mạch và Greenland hồi tháng 2 đã bác bỏ đề nghị của ông Trump về việc điều một tàu bệnh viện hải quân tới “chăm sóc nhiều người đang bị bệnh và không được chăm sóc đầy đủ ở đó”.
Tòa án tỉnh Kampot ngày 27/5 kết tội giết người kèm hành vi tra tấn tàn ác, lừa đảo có tổ chức đối với 6 công dân Trung Quốc trong độ tuổi 30 đến 54 gồm Jin Tian Long, Yin Song Wan, Li Guang Hao, Li Xing Peng, Liu Haoxing và Zhu Renzhe.
Nạn nhân bị nhóm người này sát hại là Park Min-ho, sinh viên Hàn Quốc 22 tuổi. Do Campuchia không áp dụng án tử hình, tòa tuyên án chung thân đối với toàn bộ 6 bị cáo.
Tháng 8/2025, giới chức tìm thấy thi thể của Park Min-ho trong một xe bán tải gần núi Bokor, tỉnh Kampot. Khám nghiệm pháp y cho thấy nạn nhân bị tra tấn đến chết sau khi bị đưa vào một khu phức hợp lừa đảo trực tuyến trên núi Bokor.
Cái chết của Park làm dấy lên làn sóng phẫn nộ tại Hàn Quốc, khiến Seoul tăng sức ép ngoại giao, yêu cầu Phnom Penh trấn áp các đường dây lừa đảo liên quan.
Tại Đông Nam Á, tội phạm mạng phát triển mạnh ở Campuchia và Myanmar, nơi nhiều sòng bạc biến tướng thành trung tâm lừa đảo trực tuyến. Các đường dây này thường dụ dỗ người nước ngoài bằng lời mời "việc nhẹ lương cao", sau đó ép họ tham gia lừa đảo tình cảm, tiền số trong điều kiện làm việc gần như nô lệ, thu lợi lớn từ nạn nhân trên khắp thế giới.
Campuchia đã tăng tốc truy quét các trung tâm lừa đảo trực tuyến trong năm nay. Hồi tháng 1, nước này dẫn độ sang Trung Quốc Chen Zhi, nhà sáng lập Prince Holding Group, người bị cáo buộc cầm đầu mạng lưới lừa đảo xuyên quốc gia và rửa tiền. Mỹ trước đó truy tố Chen với cáo buộc tương tự.
Tháng 3, quốc hội Campuchia thông qua luật nhắm vào các đường dây lừa đảo trực tuyến, với mức án cao nhất là tù chung thân. Theo Ủy ban Chống lừa đảo trực tuyến, từ tháng 1/2025 đến tháng 5/2026, Campuchia đã trục xuất 18.864 người thuộc 33 quốc tịch và truy tố 1.458 người.