Những ngày này, TP HCM bước vào cao điểm nắng nóng. Từ sáng đến tối, đường phố lúc nào cũng đặc quánh người và xe. Những dòng phương tiện nối đuôi nhau dưới cái nóng oi bức, tiếng còi xe, khói bụi và khí thải vốn đã đủ khiến người tham gia giao thông mệt mỏi.
Nhưng giữa khung cảnh ngột ngạt ấy, nhiều người còn phải chịu thêm một điều khó chịu khác là hít khói thuốc lá từ những người xung quanh.
Đó là cảm giác không dễ chịu ngay cả với người khỏe mạnh, chứ chưa nói đến người già, trẻ nhỏ, phụ nữ mang thai hay những người có vấn đề về hô hấp. Trong lúc đang kẹt cứng giữa dòng xe, không ai có thể né tránh làn khói thuốc đang phả thẳng vào mặt mình.
Hiện nay, Điều 11 của Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá 2012 quy định nhiều địa điểm cấm hút thuốc hoàn toàn, nhưng lại không bao gồm việc hút thuốc khi tham gia giao thông. Theo tôi, đây là một thiếu sót, đặc biệt tại các đô thị lớn như Sài Gòn hay Hà Nội, nơi thường xuyên xảy ra ùn tắc kéo dài và mật độ phương tiện luôn ở mức rất cao.
Đã đến lúc cần nghiêm túc xem xét việc cấm hút thuốc khi tham gia giao thông, không chỉ để bảo vệ sức khỏe cộng đồng mà còn để xây dựng hình ảnh đô thị văn minh trong bối cảnh Việt Nam muốn nâng cao chất lượng sống và vị thế quốc gia.
Có ít nhất ba lý do cho thấy việc này là cần thiết và nên được thực hiện càng sớm càng tốt:
Thứ nhất, hút thuốc khi tham gia giao thông gây ảnh hưởng trực tiếp đến những người xung quanh. Chỉ một người hút nhưng hàng chục người khác phải hít khói thuốc thụ động. Điều này diễn ra phổ biến nhất khi dừng đèn đỏ hoặc kẹt xe.
Ở những không gian công cộng khác, người hút thuốc đôi khi vẫn có thể chủ động tránh xa trẻ em, phụ nữ mang thai hoặc người có vấn đề sức khỏe. Những người xung quanh cũng có thể rời khỏi khu vực có khói thuốc nếu cảm thấy khó chịu. Nhưng giữa một dòng xe đang ùn ứ thì hoàn toàn khác.
Người hút thuốc không thể biết xung quanh mình là ai, có trẻ nhỏ hay người mắc bệnh hô hấp hay không. Họ vô tư châm thuốc giữa đám đông, còn những người xung quanh thì không có bất kỳ lựa chọn nào ngoài việc “chịu trận”. Khi xe cộ chen kín mặt đường, không ai có thể tránh đi đâu được.
Dưới cái nắng gay gắt của Sài Gòn, giữa khói bụi và khí thải dày đặc, việc phải hít thêm khói thuốc lá từ những người thiếu ý thức là điều rất khó chấp nhận.
Thứ hai, hút thuốc khi tham gia giao thông còn tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn. Nhiều người có thói quen gạt tàn thuốc xuống đường mà không nghĩ đến hậu quả. Tàn thuốc đang cháy rất nhẹ, dễ bị gió thổi ngược vào người đi phía sau, đặc biệt là người đi xe máy. Chỉ một khoảnh khắc giật mình vì tàn thuốc bay vào mặt cũng có thể dẫn đến va chạm hoặc tai nạn.
Thứ ba, hút thuốc khi chạy xe gần như đồng nghĩa với việc xả rác ra môi trường. Không ai đang chạy xe lại giữ đầu lọc thuốc còn cháy để mang về bỏ đúng nơi quy định. Phần lớn đều tiện tay vứt xuống đường.
Có thể đầu lọc thuốc không phải loại rác quá lớn nhưng hành vi ấy phản ánh một thói quen thiếu văn minh và góp phần làm xấu hình ảnh đô thị. Khi chuyện xả đầu thuốc lá xuống đường diễn ra hằng ngày và trở nên bình thường, nó cũng tạo ra tâm lý coi nhẹ ý thức giữ gìn môi trường công cộng.
Vì những lý do đó, tôi cho rằng đặc biệt tại các đô thị lớn có mật độ giao thông cao, cần sớm ban hành quy định cấm hút thuốc khi tham gia giao thông, đồng thời áp dụng chế tài xử phạt đủ nghiêm để tạo tính răn đe.
Nhiều quốc gia như Singapore hay Nhật Bản đã có những quy định rất nghiêm khắc nhằm kiểm soát hành vi hút thuốc nơi công cộng để bảo vệ sức khỏe cộng đồng và xây dựng môi trường sống văn minh. Việt Nam hoàn toàn có thể học hỏi những mô hình đó.
Đi bộ qua các con đường ở TP HCM những ngày hè oi ả, tôi cảm nhận rất rõ cái nắng đổ thẳng xuống mặt đường, không khí hầm hập bốc lên từ lớp nhựa nóng, và những ánh mắt của người đi đường khi cố tìm kiếm một khoảng bóng râm. Càng ngày, những bóng mát cây xanh ấy càng khó tìm.
Nhiều hàng cây đã bị cắt tỉa đến mức chỉ còn trơ ra những thân cây gầy guộc với vài nhánh nhỏ lưa thưa trên ngọn.
Lý do cắt trụi cây xanh là vì an toàn trong mùa mưa bão, tránh nguy cơ gãy cành, và cây già có thể đổ xuống lòng đường. Mục tiêu đúng đắn, nhưng cách cắt trụi tán cây và lặp đi lặp lại đang cần những giải pháp toàn diện hơn.
Nhiều đô thị châu Á khác cũng phải đối mặt với bão và gió mạnh, nhưng họ đã tìm được hướng đi cân bằng hơn việc cắt ngọn cây xanh. Tại Đài Bắc (Đài Loan), bộ phận quản lý cây xanh áp dụng phương pháp tỉa chọn lọc (chỉ loại bỏ những nhánh yếu hoặc chéo nhau, đồng thời giữ lại tổng thể tán cây). Cây xanh được các chuyên gia chăm sóc cây đô thị kiểm tra định kỳ, chứ không bị cắt tỉa theo lịch cứng nhắc.
>> Tại sao cắt trụi hàng loạt cây xanh ở TP HCM?
Tokyo (Nhật Bản) thậm chí còn đi xa hơn khi các đội lâm nghiệp đô thị sử dụng kỹ thuật tỉa thưa tán và giằng dây để giảm lực gió mà vẫn giữ được bóng mát, đồng thời thay thế cây hư hại bằng những loại được chọn lọc kỹ cho khí hậu và điều kiện đường phố địa phương.
Trong khi đó, Singapore đã xây dựng cả triết lý quy hoạch đô thị dựa trên nguyên tắc rằng tán cây trưởng thành là một dạng hạ tầng, chứ không chỉ là vật trang trí.
Tôi nghĩ, TP HCM hoàn toàn có thể áp dụng những phương pháp tương tự với nguồn lực sẵn có. Điều chúng ta cần là đào tạo thêm chuyên gia chăm sóc cây đô thị có chứng chỉ, lên lịch tỉa cây dựa trên tình trạng của từng cây. Ngoài ra, nên lựa chọn các loài cây có khả năng chống chịu bão tốt khi trồng mới, và xem mảng cây xanh đô thị là tài sản thích ứng khí hậu lâu dài.
Những đại lộ rợp bóng cây của Sài Gòn vốn là một phần bản sắc thành phố. Bảo vệ chúng một cách bài bản và khoa học là một trong những cách tiết kiệm nhất để giữ cho thành phố này còn đáng sống trong một thế giới ngày càng nóng lên. Bóng mát đánh mất hôm nay sẽ phải mất hàng chục năm mới có thể mọc lại.
Lại một lần nữa, điểm thi tốt nghiệp cao ngất lại diễn ra. Lần này, biện pháp gian lận là khác nhưng kết quả thì vẫn như trước: Rất nhiều học sinh đã nhận được điểm cao bất thường, không phải do mình làm bài mà có được.
Những thông tin hiện tại cho thấy có giáo viên giải đề thi và đưa vào phòng thi cho các em học sinh chép lại. Kết quả là điểm Toán cao bất thường ở một trường chuyên.
Vụ việc này đã diễn ra chỉ tám năm sau vụ việc sửa điểm thi khi vào sổ báo cáo. Cách làm này khiến các bài thi đều có đáp án đúng, và chấm thi lại không phải là biện pháp nữa. Để biết em nào học thật em nào chép bài giải của giáo viên đã xông vào phòng thi chỉ có cách đem các em ra thi lại.
Câu hỏi được đặt ra là, vì sao các giáo viên lại liều mình như vậy? Đây là việc có sự tham gia của rất nhiều giáo viên, và toàn bộ quy định gác thi đã bị gạt bỏ sang một bên, nên mới có sự việc như vậy.
Lần trước, cũng là một vụ gian lận gây chấn động dư luận cả nước, các cán bộ giáo dục làm điểm thi đã nâng điểm cho thí sinh đã bị bắt, bị xử lý, nhưng chỉ mấy năm sau lại xảy ra một vụ khác, táo tợn hơn, và có sự tham gia của một loạt các giáo viên, hiệu trưởng?
Tôi lần giở lại vụ việc lần trước và nhận ra rằng sau khi những người có liên quan bị xử lý thì các em học sinh trong vùng nghi vấn vẫn được nộp điểm thi mà ai cũng biết là có vấn đề đó để xét tuyển vào trường đại học. Lần này cũng vậy, các em học sinh trong vùng nghi vấn vẫn được nộp điểm thi xét tuyển.
Ai cũng biết rằng trong số 147 điểm mười đấy, có một số là thật. Có một số là nhiều hơn sức học thật, nhưng cũng không chênh nhau là mấy. Ngày nay lại cấm không cho các em này nộp điểm xét đại học thì thật sự sẽ có một số em phải nhận lãnh hậu quả cho sự sai trái của người khác.
Cái khe hở "nhân văn" này đã được những người bán điểm tận dụng theo một cách sáng tạo. Sự lúng túng của các cơ quan quản lý khi đối mặt với việc này xuất phát từ việc thiếu khung pháp lý để xử lý người mua điểm hay cả những người không mua điểm cũng bị nhét thêm điểm vào người.
Các giáo viên vào phòng thi giải bài thi cho học sinh chép lại giống như thực hiện một pha "hy sinh bản thân để cứu chủ" đầy kịch tính trong phim cổ trang. Chưa rõ đằng sau là gì, nhưng với tinh thần quyết tâm, các giáo viên có làm sai nhưng thí sinh vẫn được lợi thì họ đâu có sợ.
Nói tóm lại, cơ quan chức năng cần phải xây dựng cơ sở pháp lý để xử lý các vấn đề này. Dù lỗi của ai ,học sinh vẫn phải lãnh nhận hậu quả của việc gian dối, tức là bị cho điểm liệt, thì mới có thể răn đe. Trường hợp khó biết ai thật ai giả như ở Tuyên Quang thì cứ đem ra thi lại. Bộ giáo dục cũng có thể làm sẵn đề thi dự phòng, nếu rơi vào trường hợp như này thì thi lại.
Khi những vụ gian lận thi cử vẫn được kết thúc bằng phương pháp "nhân văn" với các em học sinh, những người được hưởng lợi, thì cho dù "người lớn" có bị như nào thì động cơ gian lận vẫn còn đó. Còn cái gọi là nhân văn thì không phải chỉ là việc ai được vào đại học, ai thì không.
Hậu quả của việc những điểm mười gian lận vào đại học là những bệnh nhân khổ đau dưới tay các bác sĩ kém cỏi, những công trình, sản phẩm kém chất lượng được làm ra từ những kỹ sư học dốt, và cả những giáo viên vào trường sư phạm bằng gian lận, và ra trường để tiếp tục dạy học sinh gian dối.
Năm 2019, khi vụ bê bối tuyển sinh đại học ở Mỹ bị phanh phui, các bậc cha mẹ bỏ tiền mua suất cho con đều bị xử lý hình sự. Những người là thí sinh thì đều bị đuổi học.
Trong đó có một người là con gái của một tỷ phú ở Trung Quốc, học rất giỏi và thật sự là có đủ khả năng vào trường top trên đôi chân của mình. Tỷ phú đó muốn chắc ăn nên nhờ một cố vấn tuyển sinh giúp đỡ và đã trả 1,5 triệu đô mà tỷ phú tưởng là tiền công cho cố vấn.
Thật ra thì ông cố vấn đó đã dùng tiền đi mua chuộc một huấn luyện viên thể thao ở Havard rồi lấy suất cho thí sinh đó. Mặc dù thí sinh đó đã chứng minh được tất cả các điều trên, nhưng Havard vẫn đuổi học cô gái đó.
Không đuổi học thì món lợi do gian dối vẫn còn, và sẽ vẫn có người tiếp tục gian dối.
Tôi vẫn nhớ ngày ba mẹ quyết định bán căn nhà nhỏ ở quê. Giá lúc đó 1,5 tỷ đồng. Với gia đình tôi, đó là tài sản lớn nhất tích góp cả đời ba mẹ. Ba mẹ nói: "Bán nhà cho hai anh em ăn học, sau này có nghề nghiệp ổn định là được". Ai cũng nói học đại học là con đường đổi đời, là cách chắc chắn nhất để có tương lai tốt hơn.
Hai anh em tôi lên thành phố, học những ngành được cho là "có triển vọng". Những năm đại học trôi qua với học phí, tiền trọ, sinh hoạt... tất cả đều từ số tiền bán nhà đó. Tôi chưa từng nghĩ sâu về chi phí, vì trong đầu luôn mặc định: học xong rồi sẽ kiếm lại được.
Nhưng cuộc sống sau khi ra trường không diễn ra như cách tôi từng hình dung. Tôi đi làm với mức lương khởi điểm 6 triệu, rồi tăng dần lên 8 triệu, 10 triệu một tháng. Sau vài năm, thu nhập có nhích lên, nhưng không đáng kể so với chi phí sống ở thành phố. Tiền thuê nhà, ăn uống, đi lại... mỗi tháng gần như tiêu hết phần lớn thu nhập của tôi. Tiết kiệm được một khoản nhỏ đã là cả một sự cố gắng.
Vừa rồi, tôi về quê cũ, đi ngang qua khu đất ngày xưa là nhà mình, mới biết căn nhà đó giờ đã được bán lại với giá gần 5 tỷ đồng. Nếu ngày đó ba mẹ không bán, tài sản gia đình giờ đã tăng gấp ba lần. Còn hiện tại, sau nhiều năm học đại học và đi làm, thu nhập của tôi vẫn chỉ ở mức đủ sống. Tôi bắt đầu tự hỏi: liệu "khoản đầu tư" năm xưa có thực sự hiệu quả?
Tôi không phủ nhận giá trị của việc học. Đại học cho tôi kiến thức, trải nghiệm, các mối quan hệ. Nhưng nếu nhìn thuần túy dưới góc độ tài chính, bài toán lại không đơn giản. Thu nhập của tôi, sau tất cả thời gian và chi phí bỏ ra, vẫn chưa tạo ra được một giá trị tương đương, chứ chưa nói đến việc "gỡ vốn".
>> 'Đầu tư 1,2 tỷ học đại học nhưng ra trường lương 8 triệu đồng'
Tôi thử làm một phép tính đơn giản. Với mức tiết kiệm lạc quan khoảng 3 triệu mỗi tháng, một năm tôi dành dụm được 36 triệu. Để tích lũy được 1,5 tỷ, tôi cần hơn 40 năm, chưa kể lạm phát hay biến động cuộc sống. Còn khoảng chênh lệch do giá nhà tăng thêm, gần như là một khoảng cách quá xa.
Cảm giác này trong tôi không phải là hối hận, mà là một sự chênh vênh. Chúng ta luôn được dạy rằng học đại học là con đường an toàn. Nhưng ít khi ai đặt câu hỏi: cái giá phải trả là gì, và lợi ích thu về có tương xứng hay không? Đặc biệt trong bối cảnh giá bất động sản tăng nhanh, còn thu nhập của người lao động trẻ lại tăng chậm.
Rất nhiều gia đình sẵn sàng bán tài sản lớn để đầu tư cho con cái học hành, với kỳ vọng "đổi đời". Nhưng thực tế thị trường lao động hiện nay không còn đảm bảo một tấm bằng sẽ mang lại thu nhập cao như trước. Nếu coi việc học là một khoản đầu tư, thì nó cũng cần được cân nhắc như bất kỳ khoản đầu tư nào khác: chi phí, lợi ích, rủi ro, và thời gian hoàn vốn.
Đến giờ, tôi vẫn đang đi làm, vẫn cố gắng tiết kiệm, vẫn tin rằng mình có thể xây dựng lại từ đầu. Nhưng mỗi lần nghĩ đến căn nhà năm xưa, tôi lại tự hỏi: nếu được lựa chọn lại, liệu gia đình tôi có quyết định khác đi không? Tôi không có câu trả lời chắc chắn. Nhưng tôi nghĩ, đó là câu hỏi mà nhiều người nên tự đặt ra trước khi đánh đổi một tài sản lớn cho một kỳ vọng chưa rõ ràng.