Mới đây, dư luận lại một lần nữa xôn xao trước câu chuyện một số cư dân sống tại các khu nhà ở xã hội (NOXH) sở hữu ôtô. Lập tức, một làn sóng chỉ trích xuất hiện: “Đã giàu thế sao còn ở khu người nghèo?”. Nghịch lý này vô tình phơi bày một tư duy cố hữu trong quy hoạch bấy lâu nay: chúng ta đang dán nhãn và cô lập các tầng lớp xã hội bằng những bức tường gạch của các dự án bất động sản.
Sự phân chia rạch ròi giữa “dự án cao cấp cho người giàu” và “khu nhà ở cho người thu nhập thấp” đang bộc lộ những bất cập lớn, có nguy cơ trở thành lực cản cho sự phát triển đô thị bền vững trong tương lai. Đã đến lúc chúng ta cần tiến tới xóa bỏ ranh giới hành chính này, thay thế bằng một mô hình quy hoạch hỗn hợp tiến bộ hơn.
Hãy nhìn vào thực trạng thị trường hiện tại. Không khó để bắt gặp những khu đô thị được gắn mác “siêu cao cấp”, “biệt thự triệu đô” nhưng quanh năm vắng bóng người, rơi vào cảnh bỏ hoang lạnh lẽo suốt nhiều năm trời. Để rồi, một số chủ đầu tư phải chua chát “sửa tạm” những căn biệt thự thô thành phòng trọ giá rẻ cho người lao động thuê để giữ đất, giữ nhà. Ở một góc khác, có những đại gia xuống tiền mua căn hộ hạng sang, biệt thư chỉ như một dạng tích lũy tài sản chết.
Trong khi đó, hàng triệu người lao động thực sự – những “mạch máu” vận hành nền kinh tế đô thị – lại phải chen chúc trong các khu nhà trọ chật hẹp, hoặc xếp hàng nộp hồ sơ, chen lấn đến nghẹt thở để tranh một suất mua NOXH ở những khu vực vùng ven xa xôi. Bản chất của một đô thị văn minh là sự đa dạng và tích hợp. Thay vì xây dựng những “ốc đảo” biệt lập cho từng tầng lớp, giải pháp căn cơ và bền vững nhất là luật hóa tỷ lệ hỗn hợp (mua – thuê) ngay trong từng dự án, không phân biệt nhà thương mại hay nhà xã hội.
>> Mua nhà vì thuê 20 năm cũng mất 4 tỷ đồng
Cụ thể, chủ đầu tư khi lập dự án sẽ được yêu cầu dành ra một tỷ lệ cố định (ví dụ 10-20%) quỹ căn hộ cho thuê giá rẻ. Đổi lại, Nhà nước sẽ bù đắp bằng các cơ chế như tăng hệ số sử dụng đất hoặc ưu đãi thuế. Trong tòa nhà đó, những căn hộ diện tích lớn, view đẹp sẽ được bán thương mại cho người có thu nhập cao để lấy dòng tiền chi trả chi phí xây dựng và tạo lợi nhuận. Ngược lại, những căn hộ diện tích nhỏ, vị trí ít ưu thế hơn sẽ được dùng làm quỹ nhà cho thuê giá mềm, với mức phí chỉ cần vừa đủ bù đắp chi phí vận hành, bảo trì tòa nhà.
Mô hình “lấy sở hữu trợ giá cho thuê” này không chỉ giải quyết bài toán tài chính cho doanh nghiệp mà không tốn một đồng ngân sách, mà quan trọng hơn, nó tạo ra một hệ sinh thái cộng sinh tuyệt vời về mặt xã hội: Người lao động thu nhập thấp (lao công, bảo vệ, nhân viên dịch vụ, shipper…) được sống ngay gần trung tâm, gần nơi làm việc. Họ cung cấp sức lao động tại chỗ và tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ ở khối đế tòa nhà, giúp giảm chi phí logistics và chi phí sinh hoạt cho toàn khu vực.
Trong khi đó, sống chung dưới một mái nhà, sử dụng chung một sân chơi, một thang máy, con cái của họ học chung một ngôi trường công, ranh giới kỳ thị sẽ bị xóa nhòa. Người thu nhập thấp khi ở gần tầng lớp trí thức, thượng lưu sẽ có cơ hội tiếp xúc, học hỏi được nhiều kiến thức, tư duy và kinh nghiệm sống quý báu để thay đổi cuộc đời. Ở chiều ngược lại, người giàu khi không còn sống xa cách, biệt lập trong những “vương quốc” riêng, họ sẽ có cơ hội thấu hiểu, nuôi dưỡng sự bao dung và nâng cao ý thức trách nhiệm với cộng đồng.
Mô hình quy hoạch bao hàm này hoàn toàn không phải là lý thuyết viển vông. Đó chính là cách mà các siêu đô thị như New York (Mỹ), Paris (Pháp) hay Singapore đã và đang vận hành cực kỳ thành công để ngăn chặn tình trạng “ghetto hóa” (khu ổ chuột hóa) và giảm áp lực giá nhà.
Đại gia đình tôi có 19 người, tính cả ông bà nội, cô chú, bố mẹ, anh chị em và các cháu thì đó là một gia đình khá đông đúc.
Tôi là con út của ba mẹ, vợ chồng tôi có hai con. Mùa tựu trường tới, đứa út sẽ vào lớp 6. Đứa cháu gọi tôi bằng chú là con của anh trai tôi kết hôn nhiều năm nhưng hiếm muộn, vẫn chưa có con. Những người cháu khác cũng đã lập gia đình, nhưng con của họ đều xấp xỉ tuổi con út tôi.
Nhìn lại cả đại gia đình, tôi chợt nhận ra đã rất lâu rồi chúng tôi không có một em bé mới sinh. Không còn cảnh mọi người chuyền tay nhau bế bồng, không còn tiếng khóc oe oe trong những dịp họp mặt. Đại gia đình thiếu em bé.
Tôi từng nghe một vài cháu nói rằng rất thích trẻ con, nhưng là con của người khác. Thấy em bé thì bế bồng, nựng nịu, chơi đùa rất vui. Nhưng khi hỏi bao giờ sinh con thì câu trả lời thường là: "Để từ từ đã". Thế nên thích trẻ con không đồng nghĩa với việc muốn sinh con.
Ngày trước, chuyện sinh con dường như là một phần rất tự nhiên của hôn nhân. Còn bây giờ, nhiều người trẻ nhìn việc có con như một quyết định cần cân nhắc rất kỹ. Vì có nhiều nỗi sợ: Sợ không đủ tiền, sợ không đủ thời gian...
Nhưng tôi nghĩ còn một nguyên nhân khác ít được nhắc tới hơn. Đó là môi trường xã hội ngày càng kém thân thiện với trẻ em.
Chỉ cần đưa một đứa trẻ ra ngoài là cha mẹ có thể nhận về vô số ánh nhìn khó chịu. Trẻ chạy nhảy trong quán cà phê bị cho là làm phiền người khác. Trẻ khóc trên máy bay bị xem như một sự quấy rầy. Trẻ hiếu động ở nơi công cộng dễ trở thành đối tượng bị phàn nàn.
Nhiều không gian được thiết kế cho người lớn nhưng lại thiếu sự bao dung với trẻ nhỏ. Dần dần, trẻ em trở thành những "vị khách không được chào đón" trong chính cộng đồng mà các em đang lớn lên.
Người lớn ngày nay cũng quen với cuộc sống gọn gàng, tiện lợi và ít ràng buộc hơn. Một đứa trẻ đồng nghĩa với việc phải thức đêm, phải hy sinh thời gian cá nhân, phải thay đổi nhiều kế hoạch. Trong mắt không ít người, trẻ con trở thành một "gánh nặng" nhiều hơn là một niềm vui. Đó là điều khiến tôi trăn trở vì nếu nhìn xa hơn, đó là câu chuyện của một xã hội đang già đi.
Chúng ta học hành, tìm việc, phấn đấu, kiếm tiền - sẽ có ý nghĩa gì nếu vắng thế hệ kế tiếp?
Bấy lâu nay tôi vẫn không cho rằng giải pháp nằm ở những lời kêu gọi sinh nhiều con. Điều cần thiết là tạo ra một môi trường mà ở đó việc có con không trở thành một cuộc đánh đổi quá lớn. Một môi trường có chi phí nuôi con hợp lý hơn, có nhiều hỗ trợ hơn cho các gia đình trẻ và quan trọng nhất là thân thiện hơn với trẻ em.
Đợt rồi thời tiết nóng bức, tôi thấy một đồng nghiệp đăng bán bó rau mát trên trang cá nhân mạng xã hội, tôi đặt mua hai bó giá 50 nghìn đồng định đem về nói vợ nấu nước để trong tủ lạnh uống dần.
Mát đâu chưa thấy, vừa đem về vợ tôi nói ngay: "Một bó y chang vầy ngoài chợ bán có 12 nghìn mà sao anh mua 25 nghìn, mua của người quen không rẻ hơn thì cũng lệch vài ba ngàn thôi chứ".
Rồi tôi nhớ lại có lần cô bạn tôi kể một người bạn cấp ba, bây giờ về quê chồng gần Đà Lạt ở, cứ vài ba ngày lại đăng lên "vườn còn ít dâu ai ăn nhắn mình liền nha", nhưng thật ra nhà cô ấy đâu có vườn, cô ấy mua dâu ở vườn khác rồi bán lại, đương nhiên là với giá cao hơn.
Ở công ty tôi cũng có mấy trường hợp block Facebook, không nhìn mặt nhau, cũng chỉ vì mua bán "hàng nhà làm", "đồ ở quê gửi lên". Thôi thì cứ mua bán sòng phẳng, nói thẳng ra là bớt mua hàng của người quen để khỏi mích lòng.
Từ trước đến giờ, tôi hay mua đồ của người quen, đồng nghiệp bán như một cách ủng hộ họ. Nào là trái cây, rau củ, bánh ngọt, đồ ăn vặt... Mua rồi mới thấy có nhiều thứ lặt vặt nảy sinh trong quá trình "chốt đơn" và nhận hàng.
Là người quen nên họ thường chủ động ship cho tôi hoặc hẹn lên công ty nhận. Một số trường hợp không nói rõ giờ giao, phải chờ đợi hỏi đi hỏi lại mà đâu phải họ xem tin nhắn liền. Đã vậy còn không chịu nhắn số tài khoản đểtôi chuyển tiền trả.
Đã buôn bán thì nên chuyên nghiệp, không nên trì hoãn chuyện tiền nong, cộng dồn...
Tôi thích kiểu buôn bán nhanh gọn, họ tính luôn tiền ship tôi càng thấy khỏe vì đỡ cảm giác áy náy vì họ nói "Chỗ quen nên không tính ship" hoặc "Tôi sẽ đi giao cho bạn".
Quan trọng nhất, chất lượng món đồ họ bán không tương xứng nên dần dần tôi không mua nữa. Mà không mua thì họ lại không vui.
Ngày càng có nhiều người kiếm thêm thu nhập bằng cách bán hàng trên mạng, mà tệp khách hàng mà họ nhắm đến là người quen, bạn bè, đồng nghiệp.
Việc buôn bán thêm này cũng tốt, khi họ dành thời gian rảnh rỗi để kinh doanh, hoặc tìm đầu ra cho hàng hóa ở quê. Tôi nghĩ đây là việc tốt cho đôi bên, tuy nhiên, như những trường hợp đã kể ở trên cũng gây rắc rối không ít. Chính vì vậy tôi chia sẻ bài viết này với hy vọng như những lời góp ý, đôi bên cùng tránh để giữ hòa khí và vui vẻ.
Trong thời đại chuyển đổi số, việc thanh toán không tiền mặt đã trở nên phổ biến và được khuyến khích rộng rãi.
Tuy nhiên, thực tế trải nghiệm của tôi tại một số cây xăng hiện nay lại cho thấy một câu chuyện khác nơi mà khách hàng vẫn phải linh hoạt theo cách vận hành riêng của từng điểm bán.
Trong những lần đổ xăng gần đây, tôi nhận thấy mỗi cây xăng lại có một cách thu tiền khác nhau. Có nơi chấp nhận cả tiền mặt lẫn chuyển khoản một cách nhanh chóng và thuận tiện nhưng có nơi thì không.
Một số trường hợp khác còn gây cảm giác thiếu thiện chí: Ban đầu nhân viên thông báo không nhận chuyển khoản, nhưng sau khi khách hàng trao đổi thì mới đưa mã QR để thanh toán kèm theo thái độ không mấy vui vẻ.
Những trải nghiệm này khiến không ít khách hàng cảm thấy khó chịu. Việc thanh toán, lẽ ra phải là bước nhanh gọn và thuận tiện nhất lại trở thành một rào cản không đáng có.
Hiện nay, cơ quan chức năng đang khuyến khích đa dạng phương thức thanh toán, đặc biệt là thanh toán không dùng tiền mặt. Về nguyên tắc, các hình thức thanh toán hợp pháp đều được phép áp dụng. Tuy nhiên, việc triển khai trên thực tế dường như vẫn chưa đồng bộ, dẫn đến mỗi nơi làm một kiểu, gây ra sự thiếu nhất quán trong trải nghiệm khách hàng.
Điều tôi mong muốn rất đơn giản: Minh bạch, rõ ràng và thuận tiện. Nếu có quy định cụ thể về hình thức thanh toán tại cây xăng, cần được niêm yết công khai. Nếu chấp nhận chuyển khoản, hãy thực hiện một cách nhất quán và chuyên nghiệp. Ngược lại, nếu chưa áp dụng, cũng cần thông báo rõ ràng từ đầu, tránh tình trạng linh hoạt tùy hứng.