Khi ấy, những đứa trẻ lần đầu tiên biết cảm giác ngủ trên đất liền sau gần chục năm lớn lên trên những căn bè chòng chành giữa lòng hồ thủy điện Sê San.
Tết Kỷ Hợi 2019 là cái tết đầu tiên trên bờ của 29 hộ dân với gần 100 nhân khẩu từng sống kiếp du ngư lênh đênh khắp sông hồ Tây nguyên. Cũng là cái kết có hậu cho một hành trình thấm nước mắt trên trang viết mà tôi đã mang theo suốt từ mùa mưa năm 2013.
Tôi đến Sê San vào tháng 7.2013. Mùa mưa Tây nguyên phủ xuống vùng hồ màu trắng bạc của sương khói biên thùy. Dòng nước mênh mang hun hút, lạnh và buồn. Những chiếc bè nổi ghép bằng ván cũ nằm co ro dưới chân núi. Trên đó là những phận người tha hương từ An Giang, Huế, Quảng Trị, Bình Định cũ, Bình Phước cũ… bỏ quê lên vùng biên kiếm kế sinh nhai bằng nghề chài lưới. Họ sống như những cánh bèo không hộ khẩu, không giấy tờ tạm trú, không đất cắm dùi.
Tối ấy, trên chiếc “bo bo” của lực lượng kiểm soát đường sông, tôi ghé những nhà bè ở lòng hồ này. Ánh đèn dầu leo lét soi những gương mặt khắc khổ, sạm màu gió nước. Có nhà chỉ rộng chừng hơn 20 m², vừa là chỗ ngủ, chỗ nấu ăn, vừa là nơi vá lưới. Ông Đặng Văn Thân, người đầu tiên đưa bà con miền Tây lên đây, kể ngày mới tới hồ Sê San, dân làng chài từng bị đuổi đi vì “ở trên bè ai quản lý được?”. Mỗi lần có đoàn kiểm tra, cả xóm phải kéo bè chạy vào một gò nổi um tùm cỏ dại để trốn vài ngày.
Đêm đó, xóm miền Tây đãi khách bằng rượu Bàu Đá, cá sông nướng và một tô ba khía mang từ An Giang lên. Rượu vào, nỗi lòng người tha hương cứ thế tuôn ra theo sóng nước. Tư Sơn, khi ấy mới ngoài 30 tuổi, gửi 4 đứa con cho ông bà nội ở quê vì không đủ sức nuôi. Đứa nhỏ nhất mới 2 tuổi phải theo cha mẹ lên bè tập quen đời sông nước. “Hổng ai muốn đi xa quê hết. Nhưng ở quê không có đất ruộng. Mùa nước nổi còn kiếm được chút đỉnh, mùa khô thì trắng tay. Nghe người quen gọi lên Sê San dễ sống hơn nên tụi em đi”, anh nói, rồi bưng ly rượu uống cạn.
Đêm ấy, trên hồ Sê San, tiếng bìm bịp vọng từ bìa rừng ra giữa khoảng nước mênh mông. Những căn bè lắc lư trong gió lạnh. Người lớn say rượu để quên nỗi nhớ quê. Còn trẻ con ngủ vật vờ trên ghe cá…
Một buổi sáng khác, tôi gặp bé Phạm Thị Tiên mới 2 tuổi đang ngủ mê giữa chiếc ghe đầy cá. Bà nội em nói đứa nhỏ theo cha mẹ lên hồ từ lúc chưa đầy 1 tuổi và “chưa từng biết mũi thuốc của ngành y tế”. Tôi hỏi thẻ bảo hiểm y tế đâu, người bà ngơ ngác: “Ủa, cái đó là gì?”.
Sau chuyến đi ấy, tôi trở về viết nhiều bài về làng chài Sê San trên Báo Thanh Niên. Những bài báo kể về kiếp người không hộ khẩu, trẻ em thất học, người bệnh không giấy tờ, những gia đình quanh năm ngủ trên bè nổi giữa lòng hồ biên giới… Tôi vẫn nhớ cảm giác day dứt khi gõ từng dòng chữ. Bởi phía sau mỗi câu chuyện là những phận người quá mong manh. Họ không xin gì lớn lao, chỉ mong được sống ổn định, được công nhận là cư dân hợp pháp để con cái có thể đến trường.
Sau khi các bài viết được đăng tải, nhiều cán bộ tỉnh Kon Tum cũ đã tìm đến tận nơi. Những chuyến ghe của chính quyền bắt đầu cập bến làng bè. Cán bộ xã, huyện, bộ đội biên phòng xuống tận nhà bè hỏi han từng hộ dân, ghi chép nhân khẩu, nguyện vọng. Đầu năm 2015, anh Hai Triều, người được bà con gọi là “trưởng xóm chài”, đánh liều lên UBND xã Ia Tơi xin tạm trú. Sau cuộc gặp, chính quyền địa phương báo cáo cấp trên. Bộ đội biên phòng sau đó mời toàn bộ bà con lên làm thủ tục đăng ký tạm trú. Đó là bước ngoặt đầu tiên.
Rồi cuối năm 2017, Bí thư Tỉnh ủy Kon Tum khi ấy là ông Nguyễn Văn Hùng trực tiếp đi ghe ra làng bè. Ông hỏi chuyện từng gia đình, tận mắt nhìn cảnh trẻ con lớn lên trên mặt nước và chỉ đạo các ngành chức năng tạo điều kiện cấp hộ khẩu, bố trí đất ở cho bà con lên bờ ổn định cuộc sống. Một năm sau, 29 hộ dân được cấp đất ở, mỗi hộ 400 m² cùng 50 triệu đồng hỗ trợ làm nhà. Ngày nghe tin được nhập hộ khẩu, nhiều người không tin nổi. Anh Nguyễn Tuấn Vũ kể lần đầu được chính quyền đưa xe chở đi bầu cử, tay anh run lên khi cầm lá phiếu. “Lâu lắm rồi tụi tui mới biết cảm giác mình là công dân thật sự”, anh nói.
Cuối năm 2018, tôi quay lại Sê San. Con đường đất đỏ ngày nào giờ dẫn vào khu dân cư nhỏ nằm nép bên hồ thủy điện. Những căn nhà xây còn thơm mùi vôi mới. Anh Hai Triều đứng trước căn nhà trị giá gần 300 triệu đồng vừa hoàn thiện, mắt đỏ hoe. “Gần 10 năm rồi mới được ăn tết trên bờ”, giọng anh nghèn nghẹn.
Trước kia, tết của dân làng chài chỉ là vài két bia, ít thịt cá gửi thương lái mua giúp ngoài chợ. Họ tụ tập nhậu suốt mấy ngày trên bè để quên nỗi nhớ quê. Đêm giao thừa, ông Sáu Đoi mang đờn ra ca tài tử. Người say nằm vật trên sàn gỗ. Người ngồi khóc vì nhớ cha mẹ, nhớ xóm làng miền Tây. Nỗi buồn của dân du mục sông hồ cứ tan vào mặt nước đêm đen thẫm.
Thế nhưng cái tết năm 2019 đã khác. Phụ nữ trong làng rủ nhau gói bánh chưng, bánh tét. Người đi mua sữa, mua mứt. Người dọn sân chuẩn bị đón họ hàng dưới quê lên chơi nhà mới. Lần đầu tiên sau gần chục năm, những đứa trẻ làng bè biết thế nào là ngủ trên nền nhà không chòng chành theo sóng nước. Cuộc đời của những thân phận nổi trôi giờ đã sang trang…
Hiện nay, phần lớn các hộ dân không còn ngủ trên bè nữa. Ban ngày họ ra hồ đánh cá, nuôi cá lồng, tối lại trở về nhà trên bờ. Những căn bè cũ chỉ còn là nơi neo đậu cho cuộc mưu sinh.
Cuộc sống cũng đổi thay nhiều. Ngoài nghề đánh bắt cá tự nhiên, bà con chuyển sang nuôi cá diêu hồng, cá trắm, cá thác lác… Một số hộ làm dịch vụ du lịch chở khách trên hồ. Phụ nữ làng chài còn làm món bánh tráng cá cơm Sê San nổi tiếng khắp vùng. Mừng nhất là những đứa trẻ từng ngủ trên ghe cá giờ tung tăng cắp sách đến trường…
Chính quyền địa phương cũng đầu tư hơn 3 tỉ đồng kéo điện về khu tái định cư. Tết năm ấy, ánh điện đầu tiên sáng lên giữa vùng dân cư mới ven hồ khiến cả làng chài thức gần như suốt đêm.
Nhiều năm làm báo, tôi từng đi qua không ít phận đời cơ cực nhưng làng chài Sê San luôn để lại trong tôi một ký ức đặc biệt. Bởi ở đó, tôi thấy sức mạnh của nghĩa tình. Nghĩa tình của những người dân tha hương cưu mang nhau giữa sóng nước. Nghĩa tình của những cán bộ địa phương tận tụy lắng nghe và nhanh chóng vào cuộc. Và cả nghĩa tình của nghề báo, khi những dòng chữ không chỉ dừng lại trên mặt giấy mà có thể góp phần làm đổi thay số phận con người.
Mười mấy năm sau, hầu như đêm trừ tịch nào anh em làng chài Sê San tụ tập bên chén rượu nồng cũng gọi cho “anh Út” – là tôi. Khi khoe làm ăn được, có năm nói khó khăn, nhưng được cái con cháu biết chữ, học hành đàng hoàng và luôn nhớ đến tôi. Và, chiều nay cũng vậy, khi gọi nhau về, Tư Sơn bảo: “Làng chài vẫn giữ nguyên cái võng cho anh Út”. Bởi mỗi bận lên hồ, khi say tôi đều ngủ trên chiếc võng ấy…
Khoảng 6h, xe đầu kéo chở container 40 feet chạy trên đường Võ Chí Công, hướng từ vòng xoay Phú Hữu về Khu công nghệ cao. Khi đến cầu Phú Hữu, xe va vào ôtô 7 chỗ chạy cùng chiều phía trước, đẩy phương tiện này ép sát lan can cầu. Vụ việc không gây thương vong, nhưng một phần thùng container đè lên khiến đầu ôtô 7 chỗ hư hỏng nặng.
Sau tai nạn, hai xe nằm chắn ngang một làn đường trên tuyến vành đai 2, đoạn kết nối Khu công nghệ cao, đường Võ Nguyên Giáp và cầu Phú Mỹ, khiến giao thông ùn ứ kéo dài. Nhiều xe đầu kéo, xe tải nối đuôi nhau di chuyển chậm.
Đến 9h, CSGT hoàn tất xử lý hiện trường, di dời các xe gặp nạn, giao thông qua khu vực dần ổn định.
Đường Võ Chí Công dài hơn 13 km, nối từ cầu Phú Mỹ đến khu vực cầu Rạch Chiếc - Xa lộ Hà Nội, là trục kết nối cảng Cát Lái, trung tâm Thủ Thiêm với các tỉnh miền Đông. Tuyến có mật độ xe tải, container lớn nên thường xuyên ùn tắc.
Nơi con nước hòa mình với cửa đại, dòng sông Trà không chỉ là cảnh quan thiên nhiên mà còn là mạch sống nuôi dưỡng những phận người lam lũ, giúp họ dựng xây cuộc sống ấm no.
Gần 40 năm qua, vợ chồng ông Huỳnh Thống (60 tuổi) và bà Phạm Thị Lượm (57 tuổi, ở xã Tịnh Khê) vẫn đều đặn mưu sinh bằng nghề đánh bắt cá ở đoạn cuối sông Trà. Với họ, con sông không chỉ là nơi kiếm sống mà còn là một phần ký ức, gắn bó từ những ngày đầu lập gia đình.
Ông Thống nhớ lại, thuở mới cưới, hai vợ chồng bắt đầu bằng chiếc lưới đơn sơ, ngày ngày thả lưới trên dòng nước đục phù sa. "Nghề này nuôi sống cả gia đình tôi, lo cho con cái ăn học nên người", ông Thống nói, giọng trầm ấm.
Theo lời những bậc cao niên, trước đây vùng cửa đại là nơi hội tụ của nhiều loài cá. Mỗi buổi chiều, cá đối từ biển theo dòng nước ngược lên, gặp dòng sông Trà chảy ra, từng đàn cá dày đặc nhảy lên mặt nước trắng xóa cả khúc sông. Khung cảnh ấy giờ chỉ còn trong ký ức.
"Khi trước cá nhiều lắm, chỉ cần thả lưới chưa tới 2 tiếng là đủ cá mang ra chợ bán", bà Lượm kể. Cá ngạnh, cá úc, cá đối… từng là những loài quen thuộc, mang lại nguồn thu nhập ổn định cho người dân. Nay nguồn lợi thủy sản giảm dần nhưng ông bà vẫn gắn bó với nghề, bởi đó là kế sinh nhai duy nhất.
Mỗi ngày từ 5 giờ, ông bà đã ra sông, đến khoảng 8 giờ thì quay về mang cá ra chợ. Những mẻ cá hôm nay không còn dày như trước nhưng vẫn đủ để duy trì cuộc sống. "Cá hanh, cá dối, cá móm, cá hồng… còn gì bán nấy, miễn có đồng ra đồng vào", bà Lượm nói.
Không chỉ có nghề đánh bắt, những bãi bồi giữa dòng sông Trà còn mở ra hướng sinh kế khác cho người dân. Ông Nguyễn Bé (59 tuổi, ở xã Tịnh Khê) là một trong những người gắn bó lâu năm với nghề nuôi vịt và trồng trọt trên bãi bồi.
Hiện ông nuôi hơn 2.500 con vịt cỏ lấy trứng, đồng thời canh tác hơn 1 ha bí đỏ. Mỗi sáng, ông chèo ghe ra trại vịt thu trứng, cho vịt ăn xong quay về nhà; đến chiều lại tiếp tục chèo ghe từ đất liền ra bãi bồi chăm sóc đàn vịt và cây trồng.
Theo ông Bé, điều kiện tự nhiên ở bãi bồi rất thuận lợi: nguồn thức ăn dồi dào, không gian yên tĩnh, giúp đàn vịt phát triển tốt và đẻ trứng đều. "Trứng vịt bán cho thương lái khoảng 40.000 đồng/chục, cũng đủ trang trải cuộc sống", ông Bé chia sẻ.
Sinh ra trong gia đình có truyền thống chăn nuôi, ông Bé theo cha ra đồng từ nhỏ. Học hết lớp 9, ông nghỉ học, gắn bó với nghề nuôi vịt suốt hơn 40 năm qua. Những kinh nghiệm tích lũy từ thực tế giúp ông duy trì đàn vịt ổn định, dù phải đối mặt với nhiều biến động thời tiết, dịch bệnh.
"Mùa mưa lũ, tôi phải đưa vịt lên đồng cao để tránh nước dâng. Còn cây trồng thì chỉ làm từ tháng 1 - 9, tới mùa lũ thì để đất trống", ông Bé nói.
Cách đó không xa, ông Nguyễn Thanh (66 tuổi, cũng ở xã Tịnh Khê) đang tận dụng gần 3 ha đất bãi bồi để phát triển mô hình nông nghiệp tổng hợp. Trên mảnh đất giữa sông, gia đình ông trồng bí đỏ, cà tím, hành, đậu đen, chuối, cỏ voi và nuôi bò, trong đó bí đỏ là cây trồng chủ lực.
Cuối tháng 11.2025, ông Thanh bắt đầu xuống giống vụ bí mới. Đến nay, cây đã cho trái, hứa hẹn một mùa thu hoạch thuận lợi. Mỗi ngày, hai vợ chồng ông Thanh và bà Huỳnh Thị Mến (63 tuổi) chèo ghe ra bãi bồi từ sáng sớm, chăm sóc cây trồng, chăn nuôi, đến chiều tối lại quay về đất liền.
Gắn bó với bãi bồi gần 30 năm, ông Thanh hiểu rõ từng đặc tính của đất và con nước. "Đất phù sa nên cây trồng phát triển tốt, năng suất cao. Mỗi năm gia đình thu khoảng 5 tấn bí, thu nhập ổn định", ông Thanh cho biết.
Không chỉ mang lại kinh tế, bãi bồi còn giúp gia đình ông xây dựng cuộc sống ổn định, nuôi con ăn học đến nơi đến chốn. "Nhờ đất này mà con cái có điều kiện học hành, giờ đều có việc làm", ông Thanh nói với niềm tự hào.
Trước đây ông Thanh từng nuôi vịt trên bãi bồi. Hai vợ chồng ông từng có thời gian dài sống hẳn ngoài bãi để trông coi đàn vịt và chăn bò. Cuộc sống tuy vất vả nhưng thanh bình. Sau này, do dịch bệnh khiến đàn vịt thiệt hại, gia đình ông chuyển sang tập trung làm nông nghiệp và chăn nuôi bò.
Dòng sông Trà, đoạn cuối trước khi đổ ra biển, không chỉ mang phù sa mà còn mang theo hy vọng của người dân. Từ nghề đánh bắt cá, nuôi vịt đến trồng trọt trên bãi bồi, tất cả đều dựa vào sự ưu đãi của thiên nhiên.
Những bãi bồi giữa sông giống như "cánh đồng vàng" nổi giữa dòng nước, mỗi năm lại được bồi đắp thêm lớp phù sa mới. Nhờ đó, cây trồng phát triển xanh tốt, cho năng suất cao mà không cần quá nhiều phân bón.
Tuy nhiên, cuộc sống nơi đây cũng đối mặt không ít thách thức. Nguồn lợi thủy sản suy giảm, thời tiết thất thường, dịch bệnh trong chăn nuôi… tất cả đều ảnh hưởng trực tiếp đến sinh kế của người dân. Dù vậy, họ vẫn kiên trì bám sông, bám đất.
Với những người như ông Thống, bà Lượm, ông Bé hay ông Thanh, bà Mến, dòng sông Trà không chỉ là nơi mưu sinh mà còn là một phần cuộc đời. Ở nơi cuối dòng sông ấy, cuộc sống vẫn tiếp diễn, lặng lẽ mà kiên cường, như chính dòng sông Trà bao đời nay vẫn âm thầm chảy, mang theo phù sa và nuôi dưỡng những ước mơ giản dị của bao người.
Sáng 15.5, Công an Hà Nội cho biết, cơ quan này đang điều tra nguyên nhân vụ cháy nhà dân, xảy ra tại xóm 10, thôn Phượng Cách 3 (xã Quốc Oai, Hà Nội) khiến 1 người tử vong.
Trước đó, khoảng 1 giờ 40 ngày 15.5, Trung tâm Thông tin chỉ huy 114 Công an Hà Nội nhận tin báo cháy xảy ra tại nhà dân có địa chỉ kể trên, đã điều động Đội chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ khu vực số 23 và 29 (thuộc Phòng Cảnh sát PCCC và CNCH Công an Hà Nội) xuất 3 xe chữa cháy cùng gần 20 cán bộ, chiến sĩ đến hiện trường tổ chức dập lửa, cứu nạn.
Chỉ huy Phòng Cảnh sát PCCC và CNCH Công an Hà Nội trong ca trực trung tâm cũng xuất 2 xe chỉ huy tới hiện trường chỉ đạo công tác chữa cháy.
Theo Công an Hà Nội, ngôi nhà xảy ra cháy được xây dựng 2 tầng, có diện tích khoảng 120 m2/sàn. Khu vực xảy ra cháy tại tầng lửng của ngôi nhà có diện tích khoảng 20 m2.
Khi lực lượng chức năng đến hiện trường, đám cháy đã phát triển lớn. Đồng thời, qua trinh sát nắm tình hình, xác định bên trong ngôi nhà còn người mắc kẹt, chỉ huy chữa cháy khẩn trương chỉ đạo cán bộ, chiến sĩ sử dụng bình thở và các thiết bị chuyên dụng tiếp cận tìm kiếm, cứu người bị nạn.
Cạnh đó, lực lượng chữa cháy được chỉ đạo triển khai đội hình chữa cháy từ nhiều hướng tiếp giáp của công trình, ngăn chặn cháy lan sang nhà dân lân cận.
Khoảng 2 giờ 5 ngày 15.5, đám cháy được dập tắt hoàn toàn, không để cháy lan sang nhà lân cận.
Công an Hà Nội cho hay, quá trình chữa cháy, cứu nạn, lực lượng chức năng phát hiện một nạn nhân đã tử vong bên trong.