Một trong những “lỗ hổng tư duy” lớn nhất trên thị trường nhà ở Việt Nam là: mua nhà nhưng không tính chi phí bảo trì. Ngôi nhà được coi như tài sản sẽ tự tăng giá theo thời gian, trong khi thực tế phần xây dựng của nó lại đang âm thầm hao mòn từng năm. Khi không được bảo trì đúng mức, giá trị không những không tăng mà còn giảm nhanh hơn nhiều người tưởng. Đã đến lúc cần nhìn nhận lại: nhà ở là tài sản phải trích lập chi phí bảo trì hàng năm, giống như bất kỳ loại tài sản sản xuất nào khác.
Với nhà ở riêng lẻ, mức trích lập hợp lý nên là khoảng 1-2% giá trị xây dựng mỗi năm. Đây không phải khoản chi bắt buộc phải sử dụng ngay, mà là quỹ để xử lý các chu kỳ xuống cấp: sơn sửa, chống thấm, hệ thống điện nước, mái, thiết bị. Nếu không trích lập đều đặn, chi phí sẽ dồn lại thành những khoản lớn sau 5-10 năm. Khi đó, nhiều gia đình buộc phải trì hoãn sửa chữa hoặc làm chắp vá. Hệ quả là ngôi nhà xuống cấp nhanh, chi phí sửa chữa tăng cao và giá trị tài sản giảm mạnh.
Một nghịch lý đang tồn tại: rất nhiều người để căn nhà mình đang ở dần cũ nát, nhưng lại tích cực đi tìm mua nhà đất mới với kỳ vọng “đầu tư”. Điều này phản ánh một sai lệch trong cách nhìn nhận tài sản: chú trọng tăng giá trên giấy, bỏ qua giá trị thực tế.
Trong điều kiện khí hậu nóng ẩm, nhà không sử dụng xuống cấp rất nhanh: ẩm mốc, nứt tường, thấm nước, hư hỏng hệ thống kỹ thuật. Phần xây dựng – vốn chiếm tỷ trọng lớn trong giá trị tài sản – bị hao mòn theo thời gian, thường ở mức khoảng 2% mỗi năm nếu không được bảo trì đúng cách. Vì vậy, việc “ôm nhà chờ tăng giá” thực chất là một phép tính thiếu đầy đủ. Giá trị hợp lý của một ngôi nhà cần được xác định dựa trên: Giá trị xây dựng ban đầu – hao mòn hàng năm + chi phí bảo trì thực chi
Nếu không bảo trì, phần hao mòn sẽ tích lũy, và khi giao dịch, người mua có kinh nghiệm sẽ đánh giá kỹ tình trạng công trình để ép giá. Những kỳ vọng tăng giá dựa trên tin đồn hoặc tâm lý đám đông vì thế dễ bị triệt tiêu.
>> Dĩnh bẫy ‘cò’ đất bán cắt lỗ chung cư 80 triệu một m2
Để thị trường vận hành lành mạnh, tôi cho rằng cần bổ sung các công cụ chính sách phù hợp:
Thứ nhất, cần có hướng dẫn rõ ràng về trích lập chi phí bảo trì nhà ở như một chuẩn mực tài chính. Khi người dân ý thức được đây là nghĩa vụ định kỳ, việc duy trì chất lượng nhà ở sẽ trở thành thông lệ.
Thứ hai, cần cho phép khấu trừ chi phí bảo trì hợp lý khi tính thuế đối với hoạt động kinh doanh bất động sản hoặc cho thuê. Khi đó, người sở hữu nhiều nhà sẽ có động lực đưa tài sản vào khai thác để tạo dòng tiền và hợp thức hóa chi phí, thay vì để trống.
Thứ ba, cần xem xét đánh thuế đối với nhà bỏ hoang hoặc sử dụng kém hiệu quả. Mục tiêu không phải là tăng gánh nặng thuế, mà là tạo áp lực để tài sản phải được đưa vào sử dụng. Khi chi phí nắm giữ tăng lên, việc để nhà trống sẽ trở nên không còn hấp dẫn.
Khi chi phí bảo trì và hao mòn được tính toán đầy đủ, cả người mua lẫn cơ quan quản lý sẽ có căn cứ rõ ràng hơn để định giá bất động sản. Giá trị nhà không còn bị dẫn dắt bởi tin đồn, mà phản ánh sát hơn tình trạng thực tế của công trình. Điều này cũng giúp phân biệt rõ giữa hai thành phần: giá trị đất và giá trị xây dựng. Trong khi đất có thể tăng giá do vị trí và quy hoạch, phần xây dựng lại có xu hướng giảm giá theo thời gian nếu không được duy tu.
Việc tính đúng và đủ chi phí bảo trì không chỉ là câu chuyện của từng hộ gia đình, mà còn ảnh hưởng tới cấu trúc nền kinh tế. Khi tổng chi phí bảo trì nhà ở được đưa vào tính toán, có thể ước lượng được lượng thu nhập thực tế mà người dân còn lại để mua nhà mới. Nếu phần lớn nguồn lực tài chính bị “chôn” vào việc tích trữ nhà đất mà không sử dụng, nền kinh tế sẽ kém năng động.
Ngược lại, khi tài sản được đưa vào khai thác và bảo trì đều đặn, nhu cầu sửa chữa, nâng cấp, cải tạo sẽ tạo ra một thị trường xây dựng lành mạnh và bền vững. Ngành xây dựng khi đó phát triển dựa trên nhu cầu thực, thay vì phụ thuộc quá nhiều vào các chu kỳ tăng nóng của bất động sản.
Tóm lại, nhà ở không phải tài sản “để đó sẽ tăng giá”, mà là tài sản cần được bảo trì và sử dụng hiệu quả. Trích lập chi phí bảo trì hàng năm, đánh thuế nhà bỏ hoang và minh bạch hóa giá trị xây dựng là những bước cần thiết để điều chỉnh hành vi trên thị trường. Khi mỗi ngôi nhà được chăm sóc đúng mức và được đưa vào sử dụng, không chỉ giá trị tài sản của từng cá nhân được bảo vệ, mà nguồn lực của cả nền kinh tế cũng được phân bổ hiệu quả hơn.
Hôm nay tôi đọc được bài viết sẽ thí điểm chính sách về 'doanh nghiệp một người' tôi xin chia sẻ khó khăn của người chủ "doanh nghiệp một người" mà bản thân tôi đã trải qua dưới đây:
Cách đây một thời gian, tôi xin được giấy phép đăng ký kinh doanh đi khai báo với cơ quan thuế thì mẫu khai báo với thuế công ty phải có kế toán trưởng, mà tôi lập công ty chỉ có một mình (công ty một người) nên đành phải tuyển thêm một kế toán trưởng, đã có kế toán trưởng thì phải có kế toán viên nên đành phải tuyển thêm một kế toán viên vậy là công ty có ba người (cả tôi).
Vì điều kiện tài chính, hoạt động được ba tháng thì kế toán nghỉ việc và công ty chỉ còn một mình tôi (công ty một người).
Nhưng tôi không biết về kế toán, các tên gọi về chương, khoản, mã kế toán thực sự là ngoài sức của tôi để mình có thể tự kê khai thuế vì vậy "công ty một người" rơi vào bờ vực khủng hoảng không thể hoạt động bình thường.
Tôi đành gác doanh nghiệp một người lại và không quan tâm đến nó nữa. Sau đó, tôi có ý định vực dậy công ty trước kia mà tôi từng mở nhưng đi chạy vạy hỏi han nhiều đơn vị tư vấn luật và kê khai thuế họ đều khuyên nên lập doanh nghiệp mới dễ hơn.
Nếu vực dậy doanh nghiệp cũ sẽ có nguy cơ bị phạt số tiền lớn. 10 năm sau tôi tiếp tục xin giấy phép mở một công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, thời điểm này quy định thuế có mở hơn, khuyến khích doanh nghiệp thuê đơn vị khai báo thuế ngoài.
Do vậy sau khi có giấy phép kinh doanh tôi thuê dịch vụ khai báo kế toán. Do vậy công ty tôi là "doanh nghiệp một người" đúng nghĩa (chỉ có một mình tôi). Tuy nhiên vấn đề phát sinh ở chỗ đơn vị khai báo kế toán của tôi thu tiền trên phần trăm tổng giá trị của từng tờ hóa đơn giao dịch. Cụ thể thu 20% tổng giá trị trên từng tờ hóa đơn.
Cứ nghĩ đến điều này là tôi lại run bần bật, buộc tôi phải nâng giá sản phẩm của công ty nên biên độ lợi nhuận 30% trở nên công ty mới có lãi. Là giám đốc tôi tính biên độ lợi nhuận của công ty là 20% là phổ biến, thậm chí nhiều sản phẩm biên độ lợi nhuận chỉ 5% thôi. Thị trường có phải riêng một mình đâu, cạnh tranh với nhau từng phần trăm lợi nhuận.
Mặt khác mình làm được bao nhiêu thì lợi nhuận đổ vào cho đơn vị dịch vụ kế toán hết. Công ty hoạt động không hiệu quả nên đành gác "doanh nghiệp một người" lại.
Vậy là cả hai lần lập "doanh nghiệp một người" đều không thành công. Giờ tôi nghe tin thí điểm chính sách về "doanh nghiệp một người" tôi nghĩ phải có sự chung tay của cơ quan chức năng và các đơn vị công nghệ thông tin giải quyết sao được bài toán thực tế một cách kỹ lưỡng và cẩn thận nhất, làm sao "doanh nghiệp một người" cạnh tranh được với "doanh nghiệp nhiều người".
Doanh nghiệp một người không phải là không có mà thực tế có rất nhiều nhưng đa phần ngưng hoạt động hoặc chuyển khỏi địa chỉ đăng ký kinh doanh hoặc dỡ biển hiệu, ngưng hoạt động. Do vậy cần lắm có chính sách miễn phạt thuế để tạo điều kiện các doanh nghiệp này quay trở lại hoạt động. Khi đó hàng ngàn doanh nghiệp sẽ tái xuất hoạt động trở lại là tất yếu.
Một người bạn của tôi đã quyết định dọn về quê, gom góp số tiền vài tỷ đồng tích góp trong hơn chục năm làm việc ở thành phố để làm một homestay nhỏ. Lý do rất đơn giản: Không chịu nổi giá nhà và nhịp sống ngột ngạt nơi đô thị.
Lý do khác quan trọng và có vẻ lo xa hơn: Về quê đầu tư để có đồng ra đồng vào, chứ gom hết tiền và đi vay thêm để mua nhà thành phố, sau này về già vẫn phải kiếm gì đó làm thêm để có thu nhập.
Sau mấy chục năm sống ở thành phố, hành lý của anh vẫn gọn gàng đến lạ vì cái gì cho được đã cho, cái gì bán được đã bán, nhà thuê thì trả chủ. Nhưng sâu xa hơn, đó là cảm giác không thuộc về nơi này, dù đã ở hơn chục năm, có nhiều kỷ niệm vui buồn.
Từ câu chuyện đó, tôi cho rằng việc ở thuê, ít nhất trong bối cảnh Việt Nam hiện nay không phải là một lựa chọn bền vững. Không chỉ là vấn đề tâm lý an cư lạc nghiệp vốn ăn sâu trong văn hóa, mà còn bởi thị trường cho thuê của chúng ta chưa thực sự phát triển đúng nghĩa, thiếu ổn định, thiếu bảo vệ người thuê, và thiếu cả những sản phẩm phù hợp với đại đa số người lao động.
Trong khi đó, giá nhà thì vẫn tiếp tục leo thang. Dữ liệu gần đây cho thấy giá căn hộ tại TP.HCM đã lên đến trung bình hơn 97 triệu đồng một m2, riêng khu trung tâm vượt 100 triệu đồng m2. Ở thị trường thứ cấp, con số trung bình cũng đã chạm ngưỡng khoảng 69 triệu đồng một m2, trong khi nhu cầu tìm mua lại tăng mạnh.
Tôi thấy có một lập luận thường được đưa ra: Nếu không mua được nhà thì thuê cũng không sao. Lập luận này nghe qua có vẻ hợp lý, nhưng thực chất chỉ đúng với một nhóm nhỏ. Người có thu nhập cao, tài chính dư dả, có thể thuê để linh hoạt cho công việc. Sinh viên hay người lao động ngắn hạn cũng vậy, thuê nhà là lựa chọn phù hợp.
Nhưng còn đại đa số người lao động làm việc lâu dài tại thành phố thì sao?
Họ không thể sống mãi trong trạng thái tạm bợ. Một gia đình không thể xây dựng cuộc sống ổn định nếu cứ vài năm lại chuyển nhà, đối mặt với nguy cơ tăng giá thuê hoặc bị chấm dứt hợp đồng bất cứ lúc nào. Nói cách khác, thuê nhà không phải là một giải pháp thay thế, mà chỉ là một giải pháp tình thế.
Vấn đề nằm ở chỗ phân khúc nhà ở phù hợp với họ gần như biến mất. Những căn hộ thương mại giá 2-3 tỷ đồng từng là mục tiêu có thể với tới của tầng lớp trung lưu giờ gần như tuyệt chủng. Thị trường bị lấp đầy bởi các dự án cao cấp, giá 4-5 tỷ đồng trở lên. Với mức thu nhập phổ biến hiện nay, đó là khoảng cách gần như không thể vượt qua.
Vậy chúng ta đang kỳ vọng gì? Rằng một bộ phận lớn người lao động sẽ chấp nhận đi thuê suốt đời? Và khi về già, với thu nhập giảm sút, họ sẽ tiếp tục xoay xở thế nào với chi phí nhà ở ngày càng cao?
Đó không chỉ là câu chuyện kinh tế, mà là một vấn đề an sinh xã hội.
Nếu không thể kiểm soát giá nhà trong ngắn hạn, thì một hướng đi rõ ràng hơn là phát triển mạnh nhà ở xã hội. Nhà ở xã hội không nên bị xem là một giải pháp mang tính "cứu trợ", mà phải được nhìn nhận như một phần thiết yếu của cấu trúc thị trường.
Một đô thị bền vững cần có chỗ cho những người lao động bình thường. Câu chuyện của người bạn tôi rời thành phố không phải là cá biệt. Nếu không có những thay đổi rất có thể sẽ còn nhiều người khác đưa ra lựa chọn rời đi.
Huỳnh Thắng
Tôi năm nay 57 tuổi, và chưa từng có ý định nghỉ hưu sớm. Nhiều người quen nghe vậy thường ngạc nhiên, vì họ biết tôi đã có hai căn nhà để dành cho hai con trai và một khoản tiền đủ để đảm bảo cuộc sống tuổi già. Với họ, như thế là đủ để có thể dừng lại và cho bản thân được tận hưởng. Nhưng với tôi, mọi thứ lại không đơn giản như vậy.
Tôi không làm việc vì ham tiền. Nếu chỉ để sống cho bản thân, có lẽ tôi đã có thể nghỉ từ lâu. Điều khiến tôi tiếp tục đi làm mỗi ngày là cảm giác mình vẫn còn lý do để cố gắng. Khi còn sức khỏe, còn làm được việc, tôi không thấy có lý do gì để dừng lại.
Tôi vào đời bằng hai bàn tay trắng. Bố mẹ tôi không để lại tài sản gì vì gia cảnh nghèo khó, nên mọi thứ tôi có hôm nay đều phải tự mình gây dựng. Chính vì thế, tôi hiểu rất rõ cảm giác chật vật khi khởi đầu mà không có điểm tựa. Tôi đã từng nhìn những người bạn cùng trang lứa - những người được gia đình cho nhà cửa, đất đai - và nhận ra một điều: họ không hề ỷ lại hay hư hỏng như nhiều người vẫn nghĩ. Ngược lại, chính nền tảng sẵn có giúp họ có thêm cơ hội để phát triển, để thử sức, và đi xa hơn. Giờ đây, phần lớn họ đều rất thành đạt.
Tôi cũng tự hỏi, nếu không có một chút may mắn trong cuộc đời, liệu mình có được như hôm nay không? Có lẽ là không. Và chính suy nghĩ đó khiến tôi càng tin rằng, việc tạo ra một nền tảng tốt hơn cho con cái không phải là làm hại chúng, mà là cho chúng một điểm khởi đầu thuận lợi hơn.
>> Tháng vẫn có 50 triệu nếu nghỉ hưu sớm nhưng tôi sợ trống rỗng
Vì thế, tôi chọn cách hy sinh đời mình để đời con cháu đỡ vất vả. Nghe có vẻ lớn lao, nhưng với tôi, đó chỉ là một lựa chọn rất tự nhiên. Tôi không thấy thiệt thòi khi vẫn tiếp tục làm việc ở tuổi này. Ngược lại, tôi còn thấy đó là một dạng hạnh phúc, khi biết rằng những nỗ lực của mình hôm nay có thể giúp con cái ngày mai bớt đi vài phần khó khăn.
Nhiều người, trong đó có cả vợ, khuyên tôi nên nghỉ hưu sớm để tận hưởng cuộc sống khi còn sức khỏe. Tôi hiểu ý tốt đó. Nhưng tôi cũng tự hỏi: nếu mình ngồi chơi, đi du lịch, tận hưởng, trong khi con cái phải chật vật gây dựng sự nghiệp, thì liệu mình có thực sự thấy thoải mái? Và nếu không có thêm sự hỗ trợ, đến bao giờ các con tôi mới có thể đổi đời?
Tôi nghĩ khác, khi còn sức khỏe, còn khả năng làm việc thì phải tranh thủ để tích lũy thêm, để hỗ trợ con cái khi cần. Với tôi, đó mới là sự kế thừa đúng nghĩa. Ở đây, không chỉ là để lại tài sản, mà còn là tạo ra điều kiện để thế hệ sau có thể bước tiếp dễ dàng hơn. Có thể mỗi người sẽ có một lựa chọn riêng cho tuổi già của mình. Riêng tôi vẫn chọn tiếp tục làm việc, không phải vì thiếu thốn, mà vì muốn cuộc sống của mình còn ý nghĩa, vẫn đóng góp được cho gia đình theo cách thiết thực nhất.
Có lẽ đến một lúc nào đó, tôi cũng sẽ phải dừng lại. Nhưng tôi muốn đó là khi mình thực sự không còn làm việc được nữa, chứ không phải vì nghĩ rằng "đã đủ nên nghỉ sớm". Bởi với tôi, "đủ" không nằm ở con số tài sản, mà nằm ở việc nhìn thấy con cái mình có một điểm tựa vững vàng hơn mình ngày trước. Khi ấy, nếu có nghỉ ngơi, tôi tin mình cũng sẽ nhẹ lòng hơn, vì biết rằng những năm tháng còn sức lực, tôi đã không chọn an nhàn cho riêng mình, mà chọn vun đắp cho cả một chặng đường dài phía sau.