PGS.TS.BS Nguyễn Thị Kim Liên, Trưởng khoa Phục hồi chức năng, Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức cho biết, số lượng người trẻ đến khám vì đau lưng đang gia tăng rõ rệt trong những năm gần đây.
Mới đây, khoa tiếp nhận bệnh nhân nam làm công việc IT, thường xuyên ngồi văn phòng 8-10 giờ mỗi ngày. Những ngày gần đây, anh liên tục bị đau vùng thắt lưng, cơn đau lan xuống chân khiến sinh hoạt khó khăn.
Theo lời kể, người đàn ông này luôn trong tình trạng lưng cứng đờ, khó cúi gập hay xoay người. Lo sợ bị thoát vị đĩa đệm, anh đến bệnh viện kiểm tra. Kết quả thăm khám cho thấy bệnh nhân bị thoái hóa cột sống thắt lưng, đồng thời mất đáng kể đường cong sinh lý của cột sống dù chưa đến 40 tuổi.
“Bình thường cột sống thắt lưng có độ cong sinh lý tự nhiên. Tuy nhiên, ở bệnh nhân này, phần lưng gần như thẳng đứng như cây tre, một dấu hiệu của thoái hóa cột sống dù hiện vẫn ở mức độ nhẹ”, PGS Liên cho hay.
Nam giới 30-40 tuổi dễ gặp tình trạng đau lưng
Theo PGS Liên, nhiều người vẫn nghĩ phải lớn tuổi mới đau lưng, nhưng thực tế không ít bệnh nhân chưa đến 50 tuổi đã có dấu hiệu thoái hóa cột sống. Đáng chú ý, nhóm mắc nhiều nhất hiện nay là nam giới trong độ tuổi 30-40. Nguyên nhân chủ yếu đến từ lối sống ít vận động, ngồi lâu liên tục để làm việc, xem điện thoại, chơi game hoặc sử dụng máy tính nhiều giờ mà không thay đổi tư thế.
“Một trong những nguyên nhân gây đau lưng là người bệnh ít vận động, ít tập thể dục kèm theo thói quen ngồi lì một chỗ trong thời gian dài. Đây là tình trạng rất phổ biến ở nam giới trẻ hiện nay”, chuyên gia nhận định.
Ngoài việc dùng thuốc, điều quan trọng trong điều trị đau lưng là tập luyện đúng cách nhằm cân bằng nhóm cơ lưng và cơ bụng. Người bệnh cần được hướng dẫn các bài tập phù hợp với cột sống, thắt lưng dưới sự hỗ trợ của chuyên gia phục hồi chức năng và vật lý trị liệu.
Bên cạnh đó, nhiều người làm việc trong môi trường kín, ít tiếp xúc ánh nắng nên thiếu vitamin D, yếu tố quan trọng đối với sức khỏe xương khớp.
Những dấu hiệu đau lưng không nên chủ quan
Theo PGS Liên, một trong những yếu tố quan trọng khi đánh giá đau lưng là phân biệt đau cơ học và đau không cơ học. Đau cơ học thường tăng khi vận động, giảm khi nghỉ ngơi và liên quan rõ rệt đến tư thế. Trong khi đó, đau không cơ học thường kéo dài dai dẳng, không phụ thuộc vận động, thậm chí tăng về đêm và có thể đi kèm các triệu chứng toàn thân.
“Có những dấu hiệu cảnh báo người bệnh tuyệt đối không nên bỏ qua”, PGS Liên nhấn mạnh.
Cụ thể, nếu đau lưng kéo dài trên 2- 4 tuần dù đã nghỉ ngơi và thay đổi sinh hoạt hoặc cơn đau tái phát nhiều lần với xu hướng nặng dần, người bệnh cần đi khám sớm. Đặc biệt, các cơn đau không liên quan tư thế, đau ngay cả khi nằm nghỉ hoặc đau tăng về đêm là những dấu hiệu bất thường cần được đánh giá kỹ.
Ngoài ra, đau lưng kèm sụt cân không rõ nguyên nhân, sốt kéo dài, mệt mỏi, chán ăn có thể liên quan đến các bệnh lý toàn thân, trong đó có nguy cơ ung thư.
Những dấu hiệu thần kinh như tê yếu chân, đi lại khó khăn, mất thăng bằng hoặc rối loạn tiểu tiện cũng là tình trạng nguy hiểm vì có thể liên quan đến chèn ép thần kinh.
Theo chuyên gia, nếu đau lưng đi kèm tiểu buốt, tiểu máu hoặc rối loạn kinh nguyệt, cần nghĩ đến nguyên nhân từ hệ tiết niệu hoặc phụ khoa, bởi khi đó đau lưng chỉ là biểu hiện thứ phát.
“Đau lưng là một triệu chứng, chứ không phải một chẩn đoán. Điều trị hiệu quả phải dựa trên việc xác định đúng nguyên nhân thay vì chỉ tập trung giảm đau”, PGS Liên khuyến cáo.
Chuyên gia cho rằng, trong nhiều trường hợp, việc điều chỉnh lối sống, tăng cường vận động và phục hồi chức năng đúng cách có thể cải thiện đáng kể tình trạng bệnh. Tuy nhiên, khi xuất hiện các dấu hiệu cảnh báo, người bệnh cần thăm khám sớm để tránh những biến chứng đáng tiếc.
Ngày 23.6, Bệnh viện Phụ sản - Nhi Đà Nẵng cho biết vừa điều trị thành công 1 trường hợp trẻ sinh non tháng, cực nhẹ cân là con của một gia đình du khách đến từ Singapore. Sau 87 ngày điều trị tích cực, bé gái từ cân nặng 720 gram khi chào đời đã đủ điều kiện xuất viện, trở về nhà trong vòng tay hạnh phúc của gia đình.
Đối với gia đình trẻ người Singapore, chuyến du lịch đến Đà Nẵng hồi cuối tháng 3 vừa qua đã trở thành ký ức không thể nào quên. Khi thai kỳ mới 25 tuần tuổi, người mẹ M.C (38 tuổi) bất ngờ xuất hiện các dấu hiệu bất thường và được đưa vào Bệnh viện Phụ sản - Nhi Đà Nẵng cấp cứu.
Qua thăm khám, các bác sĩ xác định sản phụ bị tiền sản giật nặng - một biến chứng sản khoa nguy hiểm có thể đe dọa tính mạng của cả mẹ lẫn thai nhi. Ngay sau đó, ê kíp liên chuyên khoa Sản và Nhi sơ sinh được huy động để theo dõi, điều trị tích cực và tìm mọi cách kéo dài thai kỳ nhằm tăng cơ hội sống cho em bé.
Tuy nhiên, sau 2 tuần nỗ lực điều trị, thai nhi xuất hiện dấu hiệu suy thai nặng. Trước nguy cơ ảnh hưởng đến tính mạng của cả mẹ và con, các bác sĩ buộc phải quyết định chấm dứt thai kỳ.
Bé gái chào đời bằng phương pháp mổ lấy thai ở tuổi thai 27 tuần 1 ngày, nặng 720 gram.
Ngay từ những phút đầu tiên của cuộc sống, em bé đã phải bước vào cuộc chiến sinh tồn đầy khốc liệt. Sau hồi sức tại phòng mổ, trẻ được chuyển đến Đơn vị Hồi sức sơ sinh (NICU) để tiếp tục điều trị chuyên sâu.
Do các cơ quan còn non nớt, bé liên tiếp đối mặt với nhiều bệnh lý nguy hiểm như: suy hô hấp sơ sinh, tăng áp phổi, còn ống động mạch, rối loạn đường máu, nhiễm khuẩn sơ sinh… Có thời điểm trẻ phải thở máy, sử dụng thuốc vận mạch để duy trì tuần hoàn và được theo dõi liên tục trong môi trường hồi sức tích cực.
Suốt 87 ngày nằm viện, từng gram cân nặng tăng thêm, từng cữ sữa được dung nạp hay từng lần giảm hỗ trợ hô hấp đều trở thành những cột mốc đáng nhớ.
Đồng hành cùng hành trình ấy là cha mẹ của bé. Gần như ngày nào họ cũng có mặt tại khoa để thực hiện chăm sóc Kangaroo, da kề da, tập cho con bú và theo dõi sát sao quá trình hồi phục.
Điều khiến các nhân viên y tế xúc động là hình ảnh người cha thường xuyên sử dụng Google dịch để trao đổi với bác sĩ, điều dưỡng, cố gắng tìm hiểu từng diễn biến sức khỏe của con trong điều kiện khác biệt về ngôn ngữ và văn hóa.
Sau gần 3 tháng điều trị, em bé từng chỉ nặng 720 gram đã có thể tự thở, bú tốt và tăng trưởng ổn định. Ngày xuất viện, bé đạt tuổi thai hiệu chỉnh 39 tuần, cân nặng 2.655 gram, đủ điều kiện trở về nhà cùng gia đình.
Theo thạc sĩ - bác sĩ Huỳnh Thị Lệ, Trưởng khoa Sơ sinh - cấp cứu - hồi sức tích cực và bệnh lý Bệnh viện Phụ sản - Nhi Đà Nẵng, trường hợp vừa nêu mang nhiều ý nghĩa đặc biệt bởi đây là bệnh nhi nước ngoài, sinh ra trong hoàn cảnh hết sức đặc biệt và phải trải qua hành trình điều trị kéo dài với nhiều nguy cơ biến chứng.
Bác sĩ Lệ cho biết, khi sản phụ nhập viện ở tuổi thai 25 tuần, mục tiêu quan trọng nhất của ê kíp là kéo dài thai kỳ lâu nhất có thể trong điều kiện an toàn.
"Đối với thai nhi cực non tháng, mỗi ngày tiếp tục được nuôi dưỡng trong bụng mẹ đều vô cùng quý giá. Điều đó giúp phổi, não bộ và các cơ quan khác có thêm thời gian phát triển, từ đó cải thiện đáng kể cơ hội sống còn cũng như giảm nguy cơ biến chứng sau sinh", bác sĩ Lệ chia sẻ.
Theo bác sĩ, khó khăn lớn nhất trong chăm sóc trẻ sinh cực non không nằm ở một thời điểm cụ thể mà kéo dài xuyên suốt quá trình điều trị. Trẻ không chỉ đối mặt với suy hô hấp mà còn có nguy cơ xuất huyết não thất, tổn thương não, viêm ruột hoại tử và nhiều biến chứng nặng khác.
"Có những thời điểm trẻ phải thở máy, dùng thuốc vận mạch để duy trì tuần hoàn. Mỗi ngày điều trị đều là một cuộc chiến thực sự đối với bệnh nhi và đội ngũ y tế", bác sĩ Lệ nói.
Dấu mốc khiến ê kíp cảm nhận em bé thực sự vượt qua giai đoạn nguy hiểm nhất là thời điểm trẻ được rút ống nội khí quản, chuyển sang hỗ trợ hô hấp không xâm lấn và thích nghi tốt. Sau đó là những ngày trẻ bú được sữa mẹ, tăng cân đều đặn và các kết quả tầm soát biến chứng cho thấy tín hiệu khả quan.
Theo bác sĩ Huỳnh Thị Lệ, thành công của ca bệnh là kết quả của sự phối hợp chặt chẽ giữa các chuyên khoa, sự tiến bộ của y học sơ sinh hiện đại và đặc biệt là sự đồng hành bền bỉ của gia đình.
Thành công của trường hợp này tiếp tục khẳng định năng lực hồi sức, chăm sóc và theo dõi lâu dài đối với trẻ sinh cực non của bệnh viện. Nhưng hơn hết, đó còn là câu chuyện về niềm tin, tình yêu thương và những nỗ lực không ngừng nghỉ để giữ lại sự sống cho một sinh linh bé nhỏ giữa lúc mong manh nhất.
Những ngày hè, lượng người đến các hồ bơi tăng đáng kể. Trong đó, không ít nhân viên văn phòng cho biết họ chọn bơi lội để cải thiện tình trạng đau mỏi cổ vai gáy sau nhiều giờ ngồi làm việc.
Tiến sĩ, bác sĩ Trần Bá Thoại - cố vấn chuyên môn Bệnh viện 199 (Bộ Công an, Đà Nẵng) - cho biết bơi lội từ lâu được xem là một dạng "thủy liệu pháp", kết hợp vận động và tác động của môi trường nước để hỗ trợ sức khỏe.
Theo ông, khi bơi, hầu hết các nhóm cơ trên cơ thể đều tham gia vận động, giúp thúc đẩy tuần hoàn máu, tăng cường chức năng tim mạch, hô hấp và hệ cơ xương khớp.
Đặc biệt, môi trường nước giúp giảm áp lực lên các khớp và cột sống so với nhiều hình thức vận động trên cạn. Nhờ đó người tập có thể vận động toàn thân nhưng vẫn hạn chế được tình trạng quá tải lên hệ vận động.
"Bơi lội hỗ trợ xương khớp hoạt động linh hoạt hơn, giúp giảm đau cơ, đau lưng và các biểu hiện khó chịu liên quan đến tình trạng ít vận động hoặc ngồi lâu một chỗ", bác sĩ Thoại cho biết.
Ngoài ra, việc vận động dưới nước còn góp phần thư giãn tinh thần, giảm căng thẳng và cải thiện chất lượng giấc ngủ. Đây cũng là những yếu tố giúp người làm việc văn phòng giảm cảm giác mệt mỏi sau ngày dài làm việc.
Theo thạc sĩ Lê Chí Hùng - Phó trưởng khoa giáo dục thể chất, Trường đại học Thể dục thể thao Đà Nẵng, bơi lội là môn vận động toàn thân rất tốt nhưng chưa có nhiều người tham gia do môi trường tập luyện đặc thù và tâm lý sợ nước.
Ông Hùng cho biết đối với các vấn đề cơ xương khớp, đặc biệt là người đau cổ vai gáy do ngồi lâu hoặc sai tư thế, bơi lội có lợi thế nhờ lực nâng của nước giúp giảm tải trọng lên các khớp nhưng vẫn duy trì được vận động toàn thân. Tuy nhiên, hiệu quả phụ thuộc nhiều vào kỹ thuật bơi.
Theo ông Hùng, người đau cổ vai gáy nên ưu tiên bơi ngửa hoặc bơi trườn sấp. Với hai kiểu bơi này, cơ thể nằm ngang trong nước, đầu nghiêng thở theo trục dọc cơ thể, hạn chế tạo áp lực lên vùng cổ.
Hiện nay, nhiều người mới học bơi thường được hướng dẫn bơi ếch đầu tiên vì dễ học, dễ thở và có khả năng sinh tồn cao hơn các kiểu bơi khác. Tuy nhiên, người đang gặp vấn đề cổ vai gáy cần đặc biệt chú ý đến tư thế đầu và cổ khi tập luyện.
Bơi ếch hoặc bơi bướm, thường xuyên ngẩng đầu quá cao khỏi mặt nước có thể ảnh hưởng đến vùng cổ vai gáy.
"Điều đặc biệt lưu ý là trước khi xuống nước cần khởi động trên cạn bằng các động tác kéo giãn phù hợp, để cơ thể thích nghi với vận động.
Trong quá trình tập luyện, người bơi nên duy trì cường độ vừa sức, không bơi quá nhiều thời gian ở một tư thế và có thể luân phiên giữa bơi ngửa với bơi trườn sấp. Người tập nên bơi nhẹ nhàng, phù hợp với thể trạng và thả lỏng cơ thể sau khi kết thúc buổi tập", ông Hùng khuyến nghị.
Chiều 10-7, Bệnh viện Từ Dũ (TP.HCM) cho biết vừa mổ lấy thai thành công cho sản phụ N.T.N.V. (31 tuổi, ngụ TP.HCM) mắc bệnh loạn sản sụn do đột biến gene FGFR3, chỉ cao 1,2m.
Chị V. mang song thai nhưng một thai không qua khỏi ở tuần 28. Thai nhi còn lại bị thiếu máu nặng, được các bác sĩ hai lần truyền máu bào thai, giúp kéo dài thai kỳ thêm hơn 5 tuần.
Ngày 29-6, bé gái nặng 1,85kg chào đời an toàn ở tuần thai 33 trong niềm vỡ òa của cả ê kíp.
Với các bác sĩ Bệnh viện Từ Dũ, đây không chỉ là tiếng khóc chào đời của một em bé, mà còn là kết thúc trọn vẹn cho hành trình hơn tám tháng mà người mẹ, gia đình và các bác sĩ đã cùng nhau đi qua với rất nhiều lần đứng trước ranh giới mong manh giữa hy vọng và mất mát.
Vì mang đột biến gene FGFR3 - nguyên nhân phổ biến nhất gây bệnh loạn sản sụn (Achondroplasia), một rối loạn di truyền ảnh hưởng đến sự phát triển của các xương dài, khiến người bệnh có tay chân ngắn, trán dô và chiều cao hạn chế, vóc dáng của chị V. rất nhỏ bé. Trước khi mang thai, chị chỉ cao 1,2m, nặng 28kg.
Chị V. đã cố gắng sống làm việc, lập gia đình như bao phụ nữ khác và mang song thai tự nhiên sau hai năm kết hôn.
Những tháng đầu thai kỳ khá thuận lợi. Tuy nhiên, vì chị V. mang đột biến gene FGFR3, các bác sĩ tư vấn thực hiện chọc ối để đánh giá tình trạng di truyền của thai nhi. Kết quả cho thấy cả hai em bé đều mang cùng đột biến gene FGFR3 giống mẹ.
Đến tuần thai thứ 24, biến chứng của song thai một bánh nhau hai túi ối bất ngờ xuất hiện và diễn tiến nhanh. Khi thai được 28 tuần, một em bé đã không qua khỏi.
Em bé còn lại rơi vào tình trạng thiếu máu nặng, chậm tăng trưởng trong tử cung. Nếu không được can thiệp kịp thời, nguy cơ mất tim thai có thể xảy ra bất cứ lúc nào.
Dù hy vọng mong manh, các chuyên gia của Trung tâm Can thiệp bào thai - khoa chăm sóc trước sinh, Bệnh viện Từ Dũ không từ bỏ, tiến hành hai lần truyền máu bào thai thành công, giúp thai nhi tiếp tục ở lại trong bụng mẹ thêm hơn 5 tuần.
Trong y học bào thai, mỗi ngày em bé còn được nuôi dưỡng trong tử cung đều mang ý nghĩa đặc biệt, giúp phổi trưởng thành hơn, các cơ quan hoàn thiện và tăng thêm cơ hội sống sau sinh.
Đến ngày 29-6, khi thai được 33 tuần 3 ngày, siêu âm ghi nhận thai nhi giới hạn tăng trưởng kèm tăng vận tốc đỉnh tâm thu động mạch não giữa.
Đây là dấu hiệu cảnh báo tình trạng thiếu máu nặng cần được chấm dứt thai kỳ khẩn cấp.
Ca mổ lấy thai được tiến hành ngay trong ngày. Khoảnh khắc tiếng khóc đầu đời của bé gái vang lên trong phòng mổ, không chỉ người mẹ bật khóc mà cả ê kíp cũng thở phào sau hành trình dài nhiều áp lực.
Em bé nặng 1,85kg, khóc to, hồng hào. Vì bé cũng mang đột biến gene FGFR3 giống mẹ nên có những đặc điểm như trán dô và tay chân ngắn hơn bình thường.
Nhờ được chăm sóc tích cực ngay sau sinh, sức khỏe của bé nhanh chóng ổn định. Năm ngày sau, hai mẹ con được da kề da theo phương pháp Kangaroo.
Dưới sự hướng dẫn tận tình của các nữ hộ sinh, người mẹ nhỏ bé từng bước học cách chăm con, cho con ăn và tự tin hơn trong vai trò làm mẹ. Mười ngày sau sinh, hai mẹ con cùng xuất viện.