Luật được Quốc hội thông qua tháng 12/2025 và có hiệu lực từ ngày 1/7. Với 6 chương, 27 điều, luật thiết kế lại theo hướng bao quát toàn bộ chuỗi phát triển công nghệ, từ xác lập chính sách và tiêu chí đối với công nghệ cao, công nghệ chiến lược; nghiên cứu, phát triển công nghệ; phát triển sản phẩm; và xây dựng hệ sinh thái công nghệ cao.
Tiêu chí xác định công nghệ cao được ưu tiên, công nghệ chiến lược
Khái niệm “công nghệ chiến lược” lần đầu được đưa vào luật cùng công nghệ cao. Hai loại công nghệ này đều cần đáp ứng các điều kiện gồm: giữ vai trò quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu phát triển quốc gia, nâng cao năng suất nhân tố tổng hợp, chuyển đổi mô hình tăng trưởng; bảo đảm quốc phòng, an ninh; phù hợp với định hướng phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia và phù hợp với thực tiễn Việt Nam.
Riêng công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển cần đạt thêm tiêu chí về khả năng nghiên cứu, làm chủ, cải tiến hoặc nội địa hóa; hoặc giữ vai trò nền tảng hình thành ngành sản xuất mới, chuỗi giá trị mới, dịch vụ mới có tiềm năng cạnh tranh quốc tế; hoặc có khả năng thu hút đầu tư kèm chuyển giao công nghệ hoặc góp phần phát triển kinh tế – xã hội các vùng đặc biệt khó khăn.
Trong khi đó, công nghệ chiến lược cần đạt một trong các tiêu chí như có tác động đột phá đến phát triển kinh tế – xã hội; tạo lợi thế cạnh tranh quốc gia lâu dài; có khả năng hình thành phương thức sản xuất mới, ngành công nghiệp mới, chuỗi giá trị mới; có khả năng hình thành từ công nghệ lõi do tổ chức, cá nhân trong nước nghiên cứu, làm chủ nhằm tạo ra sản phẩm công nghệ chiến lược.
Bộ Khoa học và Công nghệ là đơn vị chủ trì trong việc rà soát, đánh giá định kỳ, trình Thủ tướng ban hành, cập nhật danh mục công nghệ này phù hợp với tình hình phát triển kinh tế – xã hội từng giai đoạn.
Ưu đãi cao nhất cho công nghệ cao và công nghệ chiến lược
Luật xác định phát triển công nghệ cao và công nghệ chiến lược là “đột phá chiến lược” của quốc gia, để phát triển nhanh, bền vững, bảo đảm quốc phòng, an ninh và nâng cao năng lực tự chủ công nghệ quốc gia.
“Áp dụng các mức ưu đãi cao nhất theo quy định của pháp luật về đầu tư, thuế, đất đai và các chính sách có liên quan đối với hoạt động công nghệ cao, công nghệ chiến lược”, điều 4 của Luật Công nghệ cao sửa đổi nêu.
Một số ưu đãi được nhắc đến như các trung tâm nghiên cứu và phát triển công nghệ chiến lược được hưởng chính sách ưu đãi, hỗ trợ cao nhất theo quy định của pháp luật về đầu tư, thuế, đất đai.
Các tổ chức, cá nhân có thể được ưu tiên xem xét tài trợ, hỗ trợ kinh phí từ chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo về công nghệ cao và từ các quỹ theo pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; được hưởng ưu đãi cao nhất về thuế theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; được hỗ trợ đào tạo nâng cao năng lực nghiên cứu và phát triển công nghệ cao. Họ cũng có thể được hỗ trợ kinh phí đầu tư, vận hành, thuê sử dụng phòng thí nghiệm dùng chung, cơ sở nghiên cứu công nghệ cao theo quy định của pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Ưu đãi cho cả doanh nghiệp sản xuất
Một trong những điểm mới trong luật là đưa ra chính sách ưu đãi cho các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm công nghệ cao nhằm thúc đẩy việc đưa vào thực tế. Đây là một phần trong nội dung về viêc phát triển công nghệ cao, công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược.
Theo đó, dự án đầu tư sản xuất sản phẩm công nghệ chiến lược sẽ được hưởng chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư đặc biệt theo quy định của pháp luật về đầu tư. Doanh nghiệp sản xuất sản phẩm công nghệ cao được hưởng chính sách ưu đãi, hỗ trợ theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp.
Ngoài ra, Luật cũng chia các doanh nghiệp công nghệ cao thành hai nhóm dựa trên mức độ nội địa hóa của sản phẩm được sản xuất, mức chi cho nghiên cứu và phát triển để đưa ra các ưu đãi riêng.
Luật lần đầu đưa ra quy định về hệ sinh thái công nghệ cao. Đây là nơi tập hợp các chủ thể có tương tác lẫn nhau phục vụ phát triển công nghệ cao, trong đó doanh nghiệp công nghệ cao giữ vai trò trung tâm. Các thành phần chính là cơ quan quản lý, tổ chức khoa học và công nghệ, cơ sở giáo dục đại học, tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo, tổ chức hỗ trợ, người sử dụng và một số thành phần thiết yếu liên quan.
Theo đó, Nhà nước thúc đẩy hình thành và phát triển bền vững hệ sinh thái công nghệ cao, bảo đảm liên kết giữa các chủ thể trong hệ sinh thái; đồng thời khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để tổ chức, cá nhân đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ nghiên cứu, phát triển, thử nghiệm, ươm tạo và thương mại hóa công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển và công nghệ chiến lược.
Một trong những khái niệm cũng lần đầu được đưa vào luật là “đô thị công nghệ cao”. Đô thị sẽ phải có hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng số, hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và cơ chế thuận lợi cho phát triển, thử nghiệm, ứng dụng công nghệ cao và công nghệ chiến lược mới.
Bổ sung cơ chế thúc đẩy thương mại hóa công nghệ
Luật dành riêng các điều khoản về chuyển giao và thương mại hóa công nghệ. Nhà nước khuyến khích phát triển trung tâm xúc tiến, tư vấn, môi giới công nghệ; sàn giao dịch công nghệ, nền tảng số kết nối cung – cầu, cơ sở ươm tạo và trung tâm đổi mới sáng tạo.
Các tổ chức, cá nhân tham gia thương mại hóa được hỗ trợ thử nghiệm, chứng nhận, giám định công nghệ, đồng thời hỗ trợ kết nối thị trường và xúc tiến thương mại trong nước, quốc tế. Đối với công nghệ chiến lược còn có thêm cơ chế hỗ trợ chi phí thử nghiệm, kết nối cung – cầu công nghệ và ưu tiên bố trí trong các chương trình đầu tư công.
Vào cuối những năm 90 của thế kỷ trước, TV Plasma được coi là một khoản đầu tư lớn, với giá lên tới hơn 10.000 USD, tương đương hơn 20.000 USD hiện nay nếu tính cả lạm phát. Chính vì vậy, người dùng thường giữ lại những chiếc TV này trong nhiều thập kỷ cho đến khi không còn sử dụng được nữa. Tuy nhiên, tình hình đã thay đổi đáng kể trong những năm gần đây.
Giá TV đã giảm mạnh nhờ vào sự phát triển của công nghệ sản xuất tiết kiệm chi phí. Hiện nay, việc mua một chiếc TV mới không còn là gánh nặng tài chính như trước. TV LED hiện nay có tuổi thọ khoảng 40.000 đến 60.000 giờ, tương đương với 4 đến 7 năm sử dụng cho người dùng thường xuyên. Trong khi đó, TV OLED và Smart TV có thể hoạt động lên đến 100.000 giờ, tức khoảng 12 năm. Tuy nhiên, tuổi thọ của TV còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như thương hiệu, cách sử dụng, vị trí đặt và bảo trì.
Người dùng nên tránh mua những thương hiệu TV không đáng tin cậy để tiết kiệm chi phí. Thời gian sử dụng màn hình cũng ảnh hưởng lớn đến tuổi thọ của sản phẩm. Một số vấn đề về TV có thể dễ dàng sửa chữa, tuy nhiên cũng có những dấu hiệu cho thấy cần phải thay thế, trong đó các vấn đề lớn thường liên quan đến chất lượng màn hình và phần mềm. Những dấu hiệu như điểm ảnh chết, hình ảnh bị lưu lại hay ánh sáng mờ thường cho thấy màn hình đã đến lúc cần thay thế.
Bên cạnh đó, các vấn đề phần mềm cũng là nguyên nhân chính dẫn đến việc người dùng phải thay TV mới. Các công ty thường ngừng cung cấp bản cập nhật phần mềm sau một thời gian, dẫn đến trải nghiệm người dùng kém hơn.
Để kéo dài tuổi thọ của TV, người dùng có thể thực hiện một số biện pháp đơn giản như tắt màn hình khi không sử dụng, tránh để màn hình ở một khung hình quá lâu để ngăn ngừa hiện tượng lưu ảnh, đồng thời nhớ thường xuyên lau bụi, tránh độ ẩm cao cũng như ánh nắng trực tiếp. Mặc dù việc thay thế TV là điều không thể tránh khỏi, nhưng những bước bảo trì này có thể giúp người dùng tận dụng tối đa sản phẩm của mình.
Sau khi làm thay đổi cách con người tương tác với công nghệ, OpenAI được cho là chuẩn bị bước vào cuộc chơi mới: smartphone. Thiết bị này có thể loại bỏ hoàn toàn ứng dụng, thay bằng một AI trung tâm điều khiển mọi tác vụ.
Theo tìm hiểu của Tuổi Trẻ Online, OpenAI đang xây dựng một hệ sinh thái phần cứng riêng thay vì tiếp tục phụ thuộc vào nền tảng của Apple hay Google.
Mục tiêu không đơn thuần là tạo ra một chiếc smartphone mới, mà là sở hữu một thiết bị đầu cuối nơi trí tuệ nhân tạo có thể hoạt động sâu nhất, mạnh nhất và ít bị giới hạn nhất. Trong mô hình hiện tại, các hệ điều hành như iOS và Android kiểm soát chặt chẽ quyền truy cập của ứng dụng, khiến AI khó có thể can thiệp toàn diện vào mọi tác vụ của người dùng.
Các nhà phân tích cho rằng chỉ khi kiểm soát cả phần cứng lẫn hệ điều hành, OpenAI mới có thể triển khai một hệ thống tác nhân AI toàn diện. Smartphone là thiết bị duy nhất có thể nắm bắt trạng thái thời gian thực của người dùng, từ vị trí, thói quen, lịch trình cho đến hành vi sử dụng hằng ngày. Đây chính là nguồn dữ liệu quan trọng nhất để AI Agent hoạt động hiệu quả.
Việc sở hữu điện thoại riêng cũng giúp OpenAI tiếp cận nguồn dữ liệu ngữ cảnh phong phú hơn rất nhiều so với một ứng dụng cài thêm trên thiết bị của hãng khác.
Điểm khác biệt lớn nhất của chiếc điện thoại này là khả năng loại bỏ mô hình ứng dụng truyền thống.
Thay vì mở từng ứng dụng riêng biệt để gọi xe, đặt đồ ăn, kiểm tra email hay quản lý công việc, người dùng chỉ cần tương tác với một tác nhân AI duy nhất. AI sẽ hiểu yêu cầu, bối cảnh sử dụng và tự động thực hiện các tác vụ cần thiết.
Ví dụ, thay vì mở ứng dụng đặt xe rồi nhập địa chỉ, người dùng chỉ cần nói "đặt xe đến cuộc họp lúc 8h sáng mai", AI sẽ tự xử lý toàn bộ quy trình. Đây là cách tiếp cận hoàn toàn khác với smartphone hiện nay.
OpenAI được cho là sẽ kết hợp giữa mô hình AI nhỏ chạy trực tiếp trên thiết bị để đảm bảo tốc độ xử lý và quyền riêng tư, cùng với mô hình AI lớn trên nền tảng đám mây để xử lý những tác vụ phức tạp hơn.
Để hiện thực hóa tham vọng này, OpenAI được cho là đang thiết lập liên minh với những tên tuổi lớn trong ngành bán dẫn và sản xuất thiết bị điện tử.
Trong đó, Qualcomm và MediaTek sẽ tham gia phát triển bộ vi xử lý chuyên dụng cho smartphone AI của OpenAI. Những con chip này được tối ưu hóa để xử lý mô hình ngôn ngữ lớn ngay trên thiết bị, thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào kết nối đám mây.
Trong khi đó, Luxshare, đối tác lắp ráp quan trọng của Apple tại Trung Quốc, dự kiến sẽ đảm nhiệm vai trò sản xuất chính và hoàn thiện phần cứng.
Trước đó, giám đốc đối ngoại toàn cầu của OpenAI cũng tiết lộ công ty đang đi đúng hướng để công bố sản phẩm phần cứng đầu tiên vào nửa cuối năm 2026. Một số nguồn tin cho rằng thiết bị đầu tiên có thể là tai nghe không dây tích hợp AI trước khi chiếc smartphone hoàn chỉnh được ra mắt.
Thông tin về dự án điện thoại AI của OpenAI nhanh chóng tạo ra phản ứng trên thị trường.
Nếu OpenAI thực sự bước chân vào thị trường smartphone, đây sẽ là thách thức lớn với Apple và Samsung, hai hãng đang nắm khoảng 40% thị phần smartphone toàn cầu.
Với lượng người dùng ChatGPT hằng tuần đang tiến gần mốc 1 tỉ, OpenAI đã sở hữu một lợi thế hiếm có là tệp người dùng trung thành và thói quen tương tác với AI đã hình thành rõ rệt. Điều này tạo nền tảng thuận lợi để công ty mở rộng sang phần cứng tiêu dùng.
Song song đó, việc Amazon cũng được cho là đang lên kế hoạch tái gia nhập thị trường điện thoại cho thấy smartphone vẫn sẽ tiếp tục giữ vai trò trung tâm trong đời sống con người. Tuy nhiên, hình thái của thiết bị này có thể sẽ thay đổi mạnh mẽ, từ nơi chứa đầy ứng dụng sang một trung tâm trí tuệ nhân tạo cá nhân hóa toàn diện.
Nếu điều đó trở thành hiện thực, chiếc điện thoại tương lai có thể sẽ không còn được định nghĩa bằng số lượng ứng dụng cài đặt, mà bằng mức độ thông minh của AI đang đồng hành cùng người dùng mỗi ngày.
Mối quan hệ giữa Microsoft và OpenAI đã kéo dài một thập kỷ, bắt đầu từ năm 2016, khi OpenAI tiến hành các thí nghiệm trí tuệ nhân tạo quy mô lớn trên Microsoft Azure. Ba năm sau, Microsoft đầu tư 1 tỉ USD trong vòng gọi vốn đầu tiên. Đến nay, tổng số vốn đầu tư lên đến 13 tỉ USD.
Tuy nhiên, năm 2024, Microsoft lần đầu tiên liệt kê OpenAI là đối thủ cạnh tranh trong báo cáo tài chính. Đầu năm 2025, Microsoft mất vị thế nhà cung cấp đám mây độc quyền cho OpenAI. Đến cuối tháng 10.2025, khi OpenAI hoàn tất quá trình tái cấu trúc vốn, Microsoft mua lại 27% cổ phần. Theo thỏa thuận, OpenAI cam kết mua thêm 250 tỉ USD dịch vụ điện toán đám mây Microsoft Azure.
Sau đó, OpenAI bắt đầu liên kết với Amazon - đối thủ lớn nhất của Microsoft trong lĩnh vực hạ tầng đám mây. Tháng 11.2025, OpenAI cam kết mua sức mạnh tính toán trị giá 38 tỉ USD từ AWS. Cuối tháng 2 năm nay, Amazon công bố khoản đầu tư 50 tỉ USD vào OpenAI.
OpenAI sẽ dùng chip Trainium do Amazon tự phát triển để cung cấp tổng cộng 2 gigawatt sức mạnh tính toán cho việc huấn luyện các mô hình quy mô lớn. Hai bên cùng phát triển các mô hình lớn tùy chỉnh cho nhóm kỹ thuật của Amazon nhằm hỗ trợ sản phẩm tiêu dùng; cam kết của OpenAI với chi tiêu đám mây Amazon được mở rộng lên 100 tỉ USD.
Việc tái cấu trúc tuần này phơi bày ba thay đổi quan trọng. Microsoft không còn nắm giữ giấy phép độc quyền đối với tài sản trí tuệ của OpenAI. Thỏa thuận chia sẻ doanh thu giữa Microsoft và OpenAI chính thức kết thúc. Microsoft cũng không còn là đối tác dịch vụ đám mây duy nhất của OpenAI khi hợp tác với các bên thứ ba phát triển sản phẩm API.
Trong bản ghi nhớ nội bộ đầu tháng này, Giám đốc doanh thu của OpenAI Denise Dresser cho biết hợp tác của Microsoft với OpenAI "là nền tảng cho sự thành công của công ty, nhưng cũng kìm hãm khả năng tương thích với các hệ sinh thái khác nhau của khách hàng.
Trong nhiều năm, các nhà phát triển chỉ có thể sử dụng các mô hình lớn của OpenAI thông qua Microsoft Azure hoặc kết nối trực tiếp với OpenAI. Hôm 27.4, Amazon ra mắt dịch vụ mới cho phép người dùng phát triển các tác nhân AI dựa trên các mô hình OpenAI; các doanh nghiệp đã triển khai Amazon Cloud quy mô lớn nay có thể tiếp cận mô hình OpenAI và hưởng ưu đãi khi mua số lượng lớn.
Microsoft cũng đang giảm phụ thuộc vào OpenAI. Tháng 9.2025, Microsoft tích hợp mô hình của Anthropic vào trợ lý văn phòng Copilot 365 cho khách hàng doanh nghiệp. Hai tháng sau, Microsoft đồng ý đầu tư 5 tỉ USD vào Anthropic. Đổi lại, Anthropic cam kết mua tài nguyên điện toán Azure trị giá 30 tỉ USD của công ty. Tháng 3 năm nay, Microsoft và Anthropic ra mắt công cụ cộng tác văn phòng Copilot Cowork, tận dụng sự phổ biến của Claude Code.
Trong 90 ngày qua, dịch vụ Claude gặp 37 sự cố gián đoạn một phần hoặc trên diện rộng. Anthony Liguri, Phó chủ tịch AWS, cho biết nhóm Bedrock trước đây dựa vào Claude Code và công cụ Kiro do Amazon tự phát triển, hiện đã chuyển sang dùng Codex của OpenAI làm nền tảng phát triển chính.
Nguồn lực tính toán AI toàn cầu khan hiếm khiến OpenAI và Anthropic phải hợp tác với các nhà cung cấp đám mây lớn để bảo đảm năng lực huấn luyện mô hình. Ngược lại, Microsoft và Amazon cũng cần tích hợp với các mô hình quy mô lớn hàng đầu để phục vụ khách hàng của mình. Theo các chuyên gia, dù Microsoft và OpenAI đang ngày càng xa cách, Microsoft vẫn không thể thiếu OpenAI và OpenAI vẫn cần Microsoft.