Mấy chục năm trước, thế hệ chúng tôi từng cùng nhau trải qua cảm giác hồi hộp chờ điểm thi đại học. Khi ấy, điện thoại thông minh chưa có, mạng xã hội càng không. Muốn biết điểm thi, chúng tôi phải chờ báo giấy hoặc dò danh sách niêm yết ở trường. Thời gian chờ đợi dài đằng đẵng nhưng lại thoải mái hơn bây giờ rất nhiều.
Còn giờ, chỉ vài phút sau khi Bộ Giáo dục và Đào tạo công bố điểm thi tốt nghiệp THPT năm 2026, điện thoại của tôi liên tục báo tin nhắn từ nhóm bạn thân. “Các con được bao nhiêu điểm rồi?”, một người bạn trong nhóm hỏi. Ngay lập tức, cả nhóm bắt đầu chia sẻ kết quả của con mình. Một người bạn thân của tôi chia sẻ con gái thi khối D14 được 26,65 điểm, hiện đang không biết con có đỗ Trường Đại học Luật Hà Nội hay Học viện Ngoại giao như đúng nguyện vọng hay không? Một người bạn khác cho biết con đạt 26,5 điểm khối D01, gia đình đang thấp thỏm nuôi hy vọng vào Trường Đại học Ngoại thương.
Nếu nhìn những con số ấy cách đây khoảng 10 năm, nhiều người sẽ nghĩ cơ hội trúng tuyển đại học của các con rất rộng mở. Nhưng không ai trong số họ thực sự yên tâm mà có chung một tâm trạng lo lắng. Họ lo vì không biết điểm chuẩn năm nay sẽ tăng hay giảm, lo vì chỉ cần chênh vài phần mười điểm là cánh cửa vào ngành học mơ ước có thể khép lại, lo vì những năm gần đây tuyển sinh đại học ngày càng trở thành một cuộc cạnh tranh khốc liệt mà ngay cả những thí sinh có thành tích rất cao cũng không dám chắc chiến thắng. Nhìn những tin nhắn ấy, tôi chợt nhớ đến câu chuyện xôn xao mấy ngày gần đây khi một thí sinh đạt 9 điểm Toán, 8 điểm Tiếng Anh vẫn nơm nớp sợ trượt đại học.
Mùa tuyển sinh đại học những năm gần đây đang cho thấy một thực tế nhiều thí sinh đạt tổng điểm 26-27, thậm chí 28 điểm vẫn thấp thỏm, không dám chắc mình có thể bước chân vào ngành học hoặc ngôi trường đại học đã theo đuổi suốt nhiều năm hay không? Nghe có vẻ nghịch lý, nhưng đó lại là thực trạng của giáo dục hiện nay.
>> Vỡ mộng lớp 10 trường top dù con năm nào cũng đạt học sinh giỏi
Điều thay đổi không phải ở năng lực của học sinh, mà ở cách thức tuyển sinh và mức độ cạnh tranh của hệ thống. Nếu như trước đây, kết quả của một kỳ thi gần như quyết định toàn bộ cơ hội vào đại học, thì nay bức tranh tuyển sinh đã trở nên phức tạp hơn rất nhiều. Các trường đại học đồng thời sử dụng nhiều phương thức xét tuyển như học bạ, đánh giá năng lực, đánh giá tư duy, xét tuyển kết hợp với chứng chỉ ngoại ngữ quốc tế, tuyển thẳng và xét điểm thi tốt nghiệp THPT. Mỗi phương thức đều có những ưu điểm riêng, nhưng đi kèm với đó là một thực tế: số lượng chỉ tiêu dành riêng cho thí sinh xét bằng điểm thi tốt nghiệp không còn lớn như trước.
Nói một cách dễ hiểu, cuộc đua không còn diễn ra trên một đường chạy duy nhất. Khi cánh cửa được mở theo nhiều hướng khác nhau, áp lực cạnh tranh ở từng hướng cũng tăng lên. Điều đó lý giải vì sao có những em đạt mức điểm mà trước đây gần như chắc chắn đỗ đại học, nay vẫn phải cân nhắc từng nguyện vọng, từng khả năng rủi ro. Đặc biệt ở những ngành học được xã hội đánh giá cao về cơ hội nghề nghiệp như Kinh tế, Luật, Ngoại thương, Công nghệ thông tin, hay Y khoa, khoảng cách giữa người đỗ và người trượt đôi khi chỉ là 0,25 điểm.
Tôi vẫn nhớ câu nói của một phụ huynh trong một lần trò chuyện về mùa tuyển sinh: “Ngày chúng tôi thi đại học, được 24 điểm là cả nhà mở tiệc ăn mừng. Còn bây giờ, con tôi đạt 27 điểm mà vẫn ngồi phân tích điểm chuẩn mỗi tối”. Đó là bức tranh thu nhỏ của giáo dục đại học hiện nay. Điểm số vẫn quan trọng, nhưng không còn là tấm vé bảo đảm cho sự yên tâm tuyệt đối.
Khi những dòng tin nhắn cuối cùng trong nhóm chat sáng nay tạm lắng xuống, tôi ngồi nhìn lại cuộc trò chuyện của những người bạn đã gắn bó với nhau từ thời sinh viên. Chúng tôi từng là những cô cậu học trò háo hức chờ kết quả thi đại học, rồi trở thành những người cha, người mẹ hồi hộp chờ điểm thi của con. Tôi luôn cho rằng trong giáo dục, sự phù hợp đôi khi quan trọng hơn danh tiếng. Một ngôi trường nổi tiếng có thể mang lại niềm tự hào nhất thời, nhưng một môi trường phù hợp mới là nơi giúp người trẻ phát triển bền vững.
Có những học sinh bước vào trường top đầu nhưng chật vật suốt những năm đại học vì chọn sai ngành. Ngược lại, có những em học ở một ngôi trường ít được nhắc đến hơn, nhưng lại tìm thấy niềm yêu thích, cơ hội phát triển và cuối cùng xây dựng được sự nghiệp đáng mơ ước. Thành công của một con người chưa bao giờ được quyết định hoàn toàn bởi tên trường ghi trên tấm bằng, mà được tạo nên bởi cách họ học tập, làm việc và không ngừng hoàn thiện bản thân sau khi rời giảng đường.
Làm việc trong lĩnh vực giáo dục nhiều năm, tôi càng tin rằng đại học chỉ là một cột mốc, không phải đích đến cuối cùng. Cuộc đời mỗi người dài hơn rất nhiều so với một mùa tuyển sinh. Những người thành công nhất mà tôi từng gặp không phải ai cũng khởi đầu bằng một hành trình hoàn hảo. Họ không để một thất bại hay một sự chệch hướng tạm thời định nghĩa cả cuộc đời mình. Họ tiếp tục học hỏi, tiếp tục thích nghi và tiếp tục tiến về phía trước.
Điều quan trọng là chúng ta đừng để một kết quả tuyển sinh trở thành thước đo duy nhất cho giá trị của một con người. Một nguyện vọng không đạt được có thể khiến các em thất vọng trong một thời gian, nhưng không thể quyết định toàn bộ tương lai của các em.
Tôi rất đồng tình với quan điểm của tác giả bài viết "'Bắt đáy' căn hộ 5,5 tỷ Hà Nội". Tôi từng chứng kiến nhiều người tiếc nuối vì bỏ lỡ cơ hội mua nhà khi chờ giá giảm, nhưng cũng có không ít người mắc kẹt nhiều năm vì xuống tiền quá sớm trong lúc thị trường vẫn đang lao dốc. Vì vậy, tôi không bao giờ mua bất động sản theo kiểu "bắt dao rơi".
Nguyên tắc này không chỉ áp dụng với nhà đất mà với hầu hết các loại tài sản tài chính như cổ phiếu, vàng hay bất kỳ thị trường nào chịu tác động của cung cầu và tâm lý đám đông. Khi giá đang trong xu hướng giảm, không ai biết đâu là đáy thực sự. Thứ hôm nay được cho là "rẻ" có thể vài tháng sau còn rẻ hơn nữa.
Tôi biết nhiều người vẫn tin rằng lịch sử đã chứng minh giá nhà đất chỉ có tăng. Mỗi khi thị trường trầm lắng, lại xuất hiện những lời khuyên rằng "không mua bây giờ thì sau này sẽ không bao giờ mua được". Nhưng tôi cũng hiểu rằng trong số những người đưa ra quan điểm đó có không ít môi giới bất động sản, nhà đầu tư đang ôm hàng hoặc những người đang cần thị trường sôi động trở lại để thoát hàng.
Tất nhiên, điều đó không có nghĩa mọi nhận định của họ đều sai. Tuy nhiên, với người mua ở thực hoặc nhà đầu tư cá nhân, tôi cho rằng cần nhìn thị trường bằng sự tỉnh táo thay vì chỉ dựa vào niềm tin rằng giá bất động sản sẽ tăng mãi.
Bản thân tôi nghĩ rằng thay vì cố đoán đáy, người mua nên chờ tín hiệu đảo chiều rõ ràng hơn. Đó là khi giá bắt đầu nhích lên trở lại sau một giai đoạn điều chỉnh, giao dịch dần sôi động hơn và thanh khoản được cải thiện. Khi đó, dù mua với giá cao hơn một chút so với đáy, người mua lại có cơ sở để tin rằng thị trường đang vận động theo hướng lành mạnh hơn.
>> Dư 300 triệu đồng mỗi năm nhưng tôi không có nổi mảnh đất
Một căn hộ mới bàn giao hôm nay chắc chắn phải phản ánh mặt bằng chi phí hiện tại. Nhưng tại sao nhiều căn hộ đã sử dụng 5-10 năm vẫn tăng giá mạnh như căn hộ mới, thậm chí tăng gấp đôi hoặc gấp ba chỉ trong vài năm? Nếu nhìn dưới góc độ tài sản, căn hộ cũng phải có khấu hao theo thời gian. Không ai định giá một chiếc xe đã chạy 10 năm bằng giá xe mới chỉ vì giá thép hay giá nhân công tăng. Vậy tại sao nhiều người lại mặc nhiên cho rằng một căn hộ cũ phải tăng giá liên tục bất chấp tuổi đời công trình ngày càng lớn?
Tôi không phủ nhận yếu tố vị trí, hạ tầng hay sự phát triển của khu vực có thể làm gia tăng giá trị bất động sản. Nhưng nếu lấy lý do giá đầu vào tăng để giải thích cho việc nhiều căn hộ tăng gấp hai, gấp ba lần chỉ trong 4-5 năm thì có lẽ chưa đủ thuyết phục.
Trong giai đoạn vừa qua, theo tôi, giá bất động sản tăng không chỉ vì chi phí xây dựng mà còn vì dòng tiền đầu cơ, tâm lý sợ bỏ lỡ cơ hội và kỳ vọng giá sẽ tiếp tục leo thang. Khi nhiều người cùng tin rằng giá chỉ có tăng, giá thường đi xa hơn giá trị thực. Bối cảnh hiện nay đã khác trước, Nhà nước đang đẩy mạnh phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho công nhân và các mô hình nhà cho thuê. Nếu nguồn cung được cải thiện đáng kể trong những năm tới, áp lực thiếu nhà ở có thể giảm bớt.
Theo quy luật thị trường, khi cung tăng nhanh hơn cầu, giá nhà khó có thể tiếp tục tăng nóng như giai đoạn trước. Ít nhất, tốc độ tăng cũng sẽ phải chậm lại để phản ánh đúng hơn giá trị sử dụng thực tế của bất động sản. Tôi cho rằng việc mặc định bất động sản luôn tăng giá là một niềm tin khá rủi ro.
Với tôi, mua nhà để ở hay đầu tư đều cần dựa trên giá trị thực, khả năng tài chính và diễn biến thực tế của thị trường. Chờ đợi một tín hiệu xác nhận xu hướng có thể khiến mình mua đắt hơn một chút, nhưng đổi lại sẽ tránh được nguy cơ mắc kẹt trong một thị trường còn đang trên đà điều chỉnh.
Một người bạn của tôi đã quyết định dọn về quê, gom góp số tiền vài tỷ đồng tích góp trong hơn chục năm làm việc ở thành phố để làm một homestay nhỏ. Lý do rất đơn giản: Không chịu nổi giá nhà và nhịp sống ngột ngạt nơi đô thị.
Lý do khác quan trọng và có vẻ lo xa hơn: Về quê đầu tư để có đồng ra đồng vào, chứ gom hết tiền và đi vay thêm để mua nhà thành phố, sau này về già vẫn phải kiếm gì đó làm thêm để có thu nhập.
Sau mấy chục năm sống ở thành phố, hành lý của anh vẫn gọn gàng đến lạ vì cái gì cho được đã cho, cái gì bán được đã bán, nhà thuê thì trả chủ. Nhưng sâu xa hơn, đó là cảm giác không thuộc về nơi này, dù đã ở hơn chục năm, có nhiều kỷ niệm vui buồn.
Từ câu chuyện đó, tôi cho rằng việc ở thuê, ít nhất trong bối cảnh Việt Nam hiện nay không phải là một lựa chọn bền vững. Không chỉ là vấn đề tâm lý an cư lạc nghiệp vốn ăn sâu trong văn hóa, mà còn bởi thị trường cho thuê của chúng ta chưa thực sự phát triển đúng nghĩa, thiếu ổn định, thiếu bảo vệ người thuê, và thiếu cả những sản phẩm phù hợp với đại đa số người lao động.
Trong khi đó, giá nhà thì vẫn tiếp tục leo thang. Dữ liệu gần đây cho thấy giá căn hộ tại TP.HCM đã lên đến trung bình hơn 97 triệu đồng một m2, riêng khu trung tâm vượt 100 triệu đồng m2. Ở thị trường thứ cấp, con số trung bình cũng đã chạm ngưỡng khoảng 69 triệu đồng một m2, trong khi nhu cầu tìm mua lại tăng mạnh.
Tôi thấy có một lập luận thường được đưa ra: Nếu không mua được nhà thì thuê cũng không sao. Lập luận này nghe qua có vẻ hợp lý, nhưng thực chất chỉ đúng với một nhóm nhỏ. Người có thu nhập cao, tài chính dư dả, có thể thuê để linh hoạt cho công việc. Sinh viên hay người lao động ngắn hạn cũng vậy, thuê nhà là lựa chọn phù hợp.
Nhưng còn đại đa số người lao động làm việc lâu dài tại thành phố thì sao?
Họ không thể sống mãi trong trạng thái tạm bợ. Một gia đình không thể xây dựng cuộc sống ổn định nếu cứ vài năm lại chuyển nhà, đối mặt với nguy cơ tăng giá thuê hoặc bị chấm dứt hợp đồng bất cứ lúc nào. Nói cách khác, thuê nhà không phải là một giải pháp thay thế, mà chỉ là một giải pháp tình thế.
Vấn đề nằm ở chỗ phân khúc nhà ở phù hợp với họ gần như biến mất. Những căn hộ thương mại giá 2-3 tỷ đồng từng là mục tiêu có thể với tới của tầng lớp trung lưu giờ gần như tuyệt chủng. Thị trường bị lấp đầy bởi các dự án cao cấp, giá 4-5 tỷ đồng trở lên. Với mức thu nhập phổ biến hiện nay, đó là khoảng cách gần như không thể vượt qua.
Vậy chúng ta đang kỳ vọng gì? Rằng một bộ phận lớn người lao động sẽ chấp nhận đi thuê suốt đời? Và khi về già, với thu nhập giảm sút, họ sẽ tiếp tục xoay xở thế nào với chi phí nhà ở ngày càng cao?
Đó không chỉ là câu chuyện kinh tế, mà là một vấn đề an sinh xã hội.
Nếu không thể kiểm soát giá nhà trong ngắn hạn, thì một hướng đi rõ ràng hơn là phát triển mạnh nhà ở xã hội. Nhà ở xã hội không nên bị xem là một giải pháp mang tính "cứu trợ", mà phải được nhìn nhận như một phần thiết yếu của cấu trúc thị trường.
Một đô thị bền vững cần có chỗ cho những người lao động bình thường. Câu chuyện của người bạn tôi rời thành phố không phải là cá biệt. Nếu không có những thay đổi rất có thể sẽ còn nhiều người khác đưa ra lựa chọn rời đi.
Huỳnh Thắng
Mỗi khi bàn về cải tạo đô thị, nhiều người thường nghĩ đến việc thay thế chợ truyền thống bằng trung tâm thương mại, siêu thị hoặc các tổ hợp cao tầng hiện đại.
Tuy nhiên, cách tiếp cận này có thể bỏ qua giá trị lớn nhất của chợ: Đây không chỉ là nơi mua bán, mà còn là một hạ tầng dân sinh đặc biệt đã hình thành và phát triển cùng quá trình đô thị hóa của Việt Nam.
Rất nhiều khu dân cư hình thành xung quanh chợ chứ không phải ngược lại. Những nơi có bến sông, ngã ba đường hay tuyến giao thông đông đúc thường xuất hiện người bán hàng trước.
Khi hoạt động mua bán ngày càng nhộn nhịp, người dân mới đến sinh sống, hình thành làng xóm, thị tứ rồi phát triển thành đô thị. Có thể nói, chợ chính là một trong những "điểm vàng" đã được thị trường và cộng đồng lựa chọn qua nhiều thế hệ.
Khác với siêu thị, chợ không chỉ có những hộ kinh doanh cố định mà còn có người bán hàng theo ngày, theo mùa vụ, nông dân mang nông sản đến tiêu thụ trực tiếp hoặc những hộ kinh doanh nhỏ lẻ mới khởi nghiệp. Chính sự linh hoạt này giúp chợ tạo ra nhiều việc làm và cơ hội mưu sinh hơn rất nhiều so với các mô hình bán lẻ hiện đại.
Thực tế cho thấy một số dự án cải tạo chợ thất bại vì vô tình làm mất đi bản chất tồn tại dựa vào người lưu thông của chợ. Khi chợ bị đưa vào một khu vực khác lưu lượng người đi qua giảm mạnh. Người bán mất khách vãng lai, trong khi mô hình mua sắm lại không hiện đại bằng siêu thị. Kết quả là tiểu thương không muốn vào kinh doanh, còn người dân cũng không còn mặn mà mua sắm.
Theo tôi, thay vì xóa bỏ chợ truyền thống, chúng ta nên nâng cấp nó thành một tổ hợp đô thị đa chức năng lấy chợ làm hạt nhân phát triển. Đây sẽ là mô hình phát triển đô thị đa chức năng lấy chợ làm hạt nhân, tích hợp thương mại, nhà ở, dịch vụ công, không gian làm việc và tiện ích cộng đồng nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất và tạo động lực phát triển kinh tế địa phương.
Đối tượng phù hợp nhất để thí điểm là các chợ quy mô khoảng 3.000 - 5.000 m2 tại các xã, phường vùng ven thành phố lớn hoặc các khu vực nông thôn đang chuẩn bị đô thị hóa. Đây thường là những khu đất công nằm ở vị trí trung tâm, có lưu lượng người qua lại lớn nhưng hiện mới chỉ khai thác một tầng trong vài giờ hàng ngày.
Trong mô hình này, tầng hầm được sử dụng làm bãi xe và kho vận.
Tầng trệt vẫn là chợ dân sinh với các quầy thực phẩm tươi sống, chợ phiên cho nông dân và khu vực kinh doanh linh hoạt. Không gian được thiết kế thông thoáng như một khu phố thương mại có mái che, cho phép xe máy lưu thông chậm nhằm tạo thuận lợi cho việc tiếp cận mua bán nhanh và vận chuyển hàng hóa. Hoạt động cả sáng, chiều và đêm không nghỉ.
Tầng một có thể bố trí siêu thị, ngân hàng, dịch vụ kế toán, tư vấn pháp lý và điểm giao dịch hành chính công. Các tầng tiếp theo là văn phòng nhỏ, không gian làm việc chung, lớp học kỹ năng hoặc đào tạo nghề.
Phía trên là các căn hộ cho thuê với nhiều diện tích khác nhau, từ 25 m2 đến 75 m2. Người thu nhập thấp có thể thuê căn nhỏ, người có điều kiện hơn có thể thuê căn lớn. Bên cạnh hình thức thuê hàng năm, có thể nghiên cứu hợp đồng thuê dài hạn 50 năm với quyền chuyển nhượng đơn giản thông qua văn phòng giao dịch ngay trong tòa nhà.
Điều quan trọng là khu nhà ở này không chỉ dành cho người thu nhập thấp. Một cộng đồng cư dân đa dạng sẽ tạo ra nhu cầu tiêu dùng đa dạng. Người có thu nhập cao hơn sử dụng nhiều dịch vụ hơn, từ đó tạo thêm việc làm cho những người có thu nhập thấp. Đây là cách để hình thành một hệ sinh thái kinh tế bền vững ngay trong lòng khu dân cư.
Tầng mái có thể được khai thác thành không gian cộng đồng với sân sinh hoạt chung, khu vui chơi, nhà hàng, quán cà phê hoặc các hoạt động dịch vụ. Nhờ đó, một khu đất chợ chỉ khoảng 3.000 m2 có thể vận hành như một thị trấn thu nhỏ theo chiều đứng.
Mô hình này không chỉ là thay thế chợ bằng một công trình hiện đại hơn. Đó là sự tiến hóa của chợ truyền thống, giúp nâng cấp chức năng ban đầu của nó. Chợ vẫn là nơi tạo việc làm, tạo cơ hội kinh doanh và kết nối cộng đồng, nhưng đồng thời còn cung cấp nhà ở, dịch vụ công, văn phòng và các tiện ích đô thị khác.
Trong bối cảnh quỹ đất ngày càng hạn chế, việc tận dụng các khu chợ hiện hữu để phát triển mô hình này có thể là một hướng đi đáng cân nhắc. Thay vì xây dựng các trung tâm mới từ con số không, chúng ta có thể phát triển đô thị dựa trên những hạt nhân kinh tế - xã hội đã tồn tại và được cộng đồng lựa chọn qua nhiều thế hệ.