Tổng thống Mỹ Donald Trump từng tuyên bố sẽ tái lập các mức thuế nhập khẩu, sau khi chính sách này liên tiếp bị Tòa án bác bỏ và gặp nhiều thách thức pháp lý. Ông đang hiện thực hóa cam kết đó, nhưng không còn ồn ào và thông qua các bài đăng trên mạng xã hội lúc nửa đêm như trước.
Cách tiếp cận mới của ông Trump với thuế nhập khẩu được đánh giá thận trọng, có phương pháp và kiên nhẫn hơn. Các công cụ xây dựng lại chính sách lần này mang tính mục tiêu và kỹ thuật hơn, giúp chúng có thể duy trì trong thời gian dài.
Ngày 2/6, Văn phòng Đại diện Thương mại Mỹ (USTR) Jamieson Greer công bố kết quả cuộc điều tra kéo dài nhiều tháng, về chính sách của các đối tác trong việc ngăn lưu thông sản phẩm sản xuất bằng lao động cưỡng bức. Cuộc điều tra được thực hiện theo Điều 301 của Đạo luật Thương mại năm 1974. USTR cho rằng việc này gây bất lợi cho Mỹ trong cạnh tranh.
Cơ quan này đề xuất áp thuế bổ sung 10% lên hàng hóa Canada, Ecuador, EU, Indonesia, Mexico, Pakistan, Argentina, Bangladesh, Campuchia, El Salvador, Guatemala, Malaysia, Đài Loan và Anh. Với 45 nền kinh tế còn lại trong diện điều tra, gồm Việt Nam, mức thuế bổ sung là 12,5%.
Các mức thuế này chưa có hiệu lực ngay. USTR sẽ phải lấy ý kiến công chúng, kéo dài đến 6/7. Sau một ngày, Văn phòng Đại diện Thương mại Mỹ sẽ tổ chức các phiên điều trần về đề xuất này.
Liên quan tới mức thuế đề xuất bổ sung với Việt Nam, trả lời tại họp báo thường kỳ chiều 4/6, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Phạm Thu Hằng cho biết kết luận điều tra của USTR “không phản ánh đúng thực tế và nỗ lực của Việt Nam trong phòng ngừa giảm thiểu lao động cưỡng bức”.
Người phát ngôn Bộ Ngoại giao khẳng định chủ trương nhất quán của Việt Nam là nghiêm cấm mọi hình thức lao động cưỡng bức, tuân thủ quy định của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), các hiệp định thương mại tự do và bảo đảm thực hiện trên thực tế.
Bà Hằng cho biết, Việt Nam đã trao đổi, cung cấp thông tin đầy đủ trong quá trình điều tra và sẽ tiếp tục làm việc với phía Mỹ trên tinh thần xây dựng, hợp tác để giải quyết các bất đồng còn tồn tại, dựa trên hợp tác song phương, đa phương. Việc này nhằm nỗ lực bảo vệ lợi ích hợp pháp của người lao động, doanh nghiệp Việt.
Cuộc điều tra này được USTR công bố từ ngày 11/3. Khi đó, cơ quan này cũng cho biết sẽ mở thêm một cuộc điều tra nữa về tình trạng dư thừa công suất công nghiệp tại 16 đối tác, vẫn dựa trên Điều 301 về các hành vi không công bằng.
Các động thái này nhằm khôi phục sức ép thuế nhập khẩu sau khi Tòa án Tối cao Mỹ hồi tháng 2 bác bỏ các loại thuế Tổng thống Donald Trump áp đặt dựa trên Đạo luật Quyền hạn Kinh tế Khẩn cấp Quốc tế (IEEPA). Sau phán quyết của Tòa án Tối cao, ông Trump ký sắc lệnh áp thuế nhập khẩu bổ sung 10% trong 150 ngày, viện dẫn thẩm quyền theo Điều 122 của Đạo luật Thương mại năm 1974.
Dù vậy, thuế 10% này chỉ mang tính tạm thời. Chính quyền ông Trump đã phát tín hiệu họ có thể dùng Điều 301 cho mục đích lâu dài hơn. Điều 301 cho phép USTR điều tra các quốc gia có khả năng vi phạm thỏa thuận thương mại hoặc có các hành vi gây tổn hại cho doanh nghiệp Mỹ. Trong nhiệm kỳ đầu, ông Trump từng dùng điều khoản này để tăng thuế với một số hàng nhập khẩu từ Trung Quốc, cũng như máy bay và các hàng hóa khác của Liên minh châu Âu.
Bên cạnh đó, khác với Điều 122, thuế phát sinh từ điều tra theo Điều 301 không bị giới hạn về mức thuế hoặc thời hạn áp dụng. Hồi tháng 3, Greer cho biết ông hy vọng hoàn tất các cuộc điều tra trước khi mức thuế 10% hết hiệu lực vào tháng 7.
Tuy nhiên, tháng trước, Tòa án Thương mại Quốc tế Mỹ (CIT) cũng phán quyết bác bỏ thuế nhập khẩu 10% của Mỹ. Họ chỉ chặn áp dụng thuế với bang Washington và 2 doanh nghiệp nhỏ – nhóm đã nộp đơn kiện thuế này từ đầu tháng 3.
Ngày 1/6, USTR đề xuất áp thuế 25% nhiều mặt hàng từ Brazil, sau một cuộc điều tra theo Mục 301. Cơ quan này cáo buộc Brazil tham gia vào các hoạt động thương mại “phi lý” và “gây gánh nặng hoặc hạn chế thương mại của Mỹ”. Đầu tháng trước, Tổng thống Mỹ cũng tuyên bố sẽ nâng thuế nhập khẩu với xe hơi từ EU lên 25%, vì khối này không tuân thủ thỏa thuận thương mại.
Trên AP, Ryan Majerus – luật sư thương mại tại King & Spalding dự báo các mức thuế mới sẽ được áp dụng trước khi các loại thuế tạm thời hiện nay hết hiệu lực. “USTR đang chịu sức ép rất lớn để bảo đảm không có bất kỳ khoảng trống nào trong nguồn thu từ thuế nhập khẩu. Tôi tin rằng với tiến độ hiện tại, họ sẽ hoàn tất mọi việc và sẵn sàng áp thuế mới đúng hạn”, ông nói.
Ngoài việc đề xuất thuế mới, chính quyền ông Trump cũng nộp đơn kháng cáo phán quyết của một thẩm phán liên bang, yêu cầu chính quyền phải hoàn trả toàn bộ 166 tỷ USD tiền thuế đã thu, theo các chính sách viện dẫn IEEPA.
Chính quyền bắt đầu hoàn trả các khoản phí này từ tháng 4, nhưng cho biết sẽ không trả ngay hàng chục tỷ USD tiền thuế, trong đó có các khoản thanh toán phức tạp mà đơn vị nhập khẩu chưa kiện chính phủ. Hiện chưa rõ khi nào hệ thống sẽ mở cho tất cả khoản thanh toán thuộc diện được hoàn.
Ngoài ra, chính phủ cũng kháng cáo phán quyết yêu cầu Ủy viên Cơ quan Hải quan và Bảo vệ Biên giới Mỹ Rodney Scott điều trần về quy trình hoàn trả của chính phủ. Trong đơn kháng cáo, chính quyền đề xuất các quan chức khác mà họ nói rằng có hiểu biết sâu hơn về quy trình hoàn thuế.
Theo biểu lãi suất niêm yết mới của Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank), lãi suất tiết kiệm lĩnh lãi cuối kỳ hạn 3 tháng giảm 0,12%/năm, xuống còn 4,63%/năm; kỳ hạn 4 tháng giảm 0,13%/năm, còn 4,62%/năm; kỳ hạn 5 tháng giảm 0,14%/năm xuống 4,61%/năm.
Nhóm kỳ hạn từ 6-8 tháng ghi nhận mức giảm mạnh hơn, dao động 0,24-0,3%/năm. Cụ thể, lãi suất kỳ hạn 6 tháng còn 5,76%/năm, kỳ hạn 7 tháng còn 5,72%/năm và kỳ hạn 8 tháng còn 5,7%/năm. Lãi suất kỳ hạn 9 tháng giảm 0,28%/năm xuống 5,72%/năm; kỳ hạn 10 tháng giảm nhẹ còn 5,96%/năm; kỳ hạn 11 tháng còn 5,95%/năm.
Lãi suất huy động trực tuyến cao nhất tại VPBank áp dụng cho kỳ hạn 12 tháng đã giảm mạnh 0,36%/năm, xuống còn 5,94%/năm. Các kỳ hạn từ 13-36 tháng cũng đồng loạt được điều chỉnh xuống dưới mốc 6%/năm. Trong đó, kỳ hạn 13-15 tháng còn 5,83%/năm, kỳ hạn 18 tháng còn 5,76%/năm, kỳ hạn 24 tháng còn 5,68%/năm và kỳ hạn 36 tháng giảm sâu nhất, tới 0,58%/năm, xuống còn 5,02%/năm.
Như vậy, toàn bộ lãi suất tiền gửi các kỳ hạn từ 6-36 tháng tại VPBank hiện đều được niêm yết dưới ngưỡng 6%/năm.
VPBank là ngân hàng thứ 2 giảm lãi suất huy động từ đầu tháng 5 đến nay, sau Saigonbank. Đây đồng thời là lần điều chỉnh giảm lãi suất thứ 3 của VPBank kể từ sau cuộc họp ngày 9/4 giữa các ngân hàng thương mại và Ngân hàng Nhà nước về yêu cầu ổn định mặt bằng lãi suất trên thị trường.
Theo biểu lãi suất niêm yết của các ngân hàng, với kỳ hạn ngắn 1-3 tháng, mặt bằng lãi suất huy động trực tuyến ghi nhận sự phân hóa khá rõ giữa nhóm ngân hàng quốc doanh và ngân hàng tư nhân. Mức phổ biến dao động quanh 4,6-4,75%/năm. Nhóm ngân hàng có lãi suất cao nhất ở kỳ hạn 1 tháng gồm ACB, MSB, OCB, PGBank, VIB và VPBank cùng niêm yết 4,75%/năm.
Ở kỳ hạn 6 tháng, lãi suất cao nhất thị trường hiện thuộc về MBV với mức 7,2%/năm. Xếp ngay sau là ACB với 7,1%/năm. Một số ngân hàng khác duy trì mức lãi suất cao từ 6,8-6,9%/năm như LPBank, PGBank, Bac A Bank và BVBank. Trong nhóm Big4, Agribank, VietinBank và Vietcombank cùng niêm yết 6,6%/năm.
Tại kỳ hạn 9 tháng, mặt bằng lãi suất tiếp tục nghiêng về nhóm ngân hàng tư nhân quy mô vừa và nhỏ. ACB và MBV dẫn đầu với cùng mức 7,2%/năm. Nhóm ngân hàng niêm yết từ 6,8-6,9%/năm gồm LPBank, PGBank, BVBank và Bac A Bank. Trong khi đó, nhóm ngân hàng quốc doanh duy trì mức 5,8-6,6%/năm tùy từng nhà băng.
Ở kỳ hạn 12 tháng, lãi suất huy động cao nhất thị trường hiện thuộc về ACB với 7,3%/năm, tiếp đến là MBV ở mức 7,2%/năm. Nhiều ngân hàng khác niêm yết quanh ngưỡng 7% như LPBank, PGBank và VIB. Nhóm Big4 gồm Agribank, VietinBank và Vietcombank cùng giữ mức 6,8%/năm, trong khi BIDV niêm yết thấp hơn, ở mức 5,9%/năm.
Đối với kỳ hạn dài 18 tháng, MBV tiếp tục dẫn đầu thị trường với mức 7,2%/năm. Xếp sau là LPBank với 7,1%/năm. Nhóm ngân hàng có lãi suất từ 6,6-6,8%/năm gồm Agribank, VietinBank, Vietcombank, OCB và PGBank. Trong khi đó, SCB vẫn là ngân hàng có lãi suất thấp nhất với chỉ 3,9%/năm.
"Các nhà bán lẻ xăng phải giảm giá ngay lập tức", Tổng thống Trump viết trên mạng xã hội Truth Social hôm 29/6. Lời thúc giục đi kèm cảnh báo doanh nghiệp không thực hiện "sẽ phải đối mặt với những rắc rối lớn".
Tuần trước, ông Trump cho biết đã chỉ đạo Bộ Tư pháp điều tra các công ty dầu mỏ vì không giảm giá bán lẻ xăng tương ứng với đà giảm của giá dầu thô. Ông đồng thời cáo buộc các doanh nghiệp này "chặt chém" người tiêu dùng. "Sẽ không có chuyện tăng giá quá mức, điều này hoàn toàn bất hợp pháp", ông nêu.
Do ảnh hưởng của xung đột Trung Đông, giá xăng tại Mỹ leo thang trong 4 tháng gần đây và từng lập kỷ lục mới khi chạm mức 4,37 USD mỗi gallon (tương đương 1,15 USD một lít) vào trung tuần tháng 5, theo dịch vụ theo dõi giá xăng của Hiệp hội ôtô Mỹ (AAA).
Giá xăng tăng làm dấy lên lo ngại của người tiêu dùng, trong bối cảnh ông Trump và đảng Cộng hòa đang nỗ lực bảo vệ thế đa số mong manh tại Quốc hội, trước cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ vào tháng 11.
Những tuần gần đây, lệnh ngừng bắn giữa Mỹ và Iran phần lớn được duy trì, giúp thị trường xăng dầu hạ nhiệt. Website theo dõi GasBuddy cho biết ngày 30/6, giá xăng trung bình đã giảm còn 3,83 USD một gallon (1,01 USD mỗi lít).
Diễn biến giúp niềm tin người tiêu dùng Mỹ tháng 6 nhích lên, đánh dấu lần đầu cải thiện kể từ khi chiến sự Iran nổ ra. Tổng thống Trump vẫn muốn giá xăng giảm sâu hơn. "Hãy hướng tới mức giá khoảng 2,5 USD mỗi gallon", ông viết.
Tuy nhiên, trong một bình luận tuần trước, bà Bethany Williams, người phát ngôn của Viện Dầu khí Mỹ - nhóm thương mại đại diện cho các nhà sản xuất như Exxon và Chevron, cho biết giá xăng không thể giảm tức thì cùng giá dầu.
"Giá xăng không diễn biến song song với giá dầu thô, đặc biệt là trong bối cảnh gián đoạn toàn cầu còn lớn và vẫn đang ảnh hưởng đến nguồn cung, hoạt động lọc dầu và tồn kho," bà Bethany Williams, cho biết.
Đó còn là một lát cắt văn hóa, khi một món ăn tưởng chừng bình dân lại trở thành điểm hẹn của nhiều quốc tịch, nhiều câu chuyện, nhiều cảm xúc.
Trong dòng người đó, nhiều du khách đã không ngớt lời khen rằng mặc dù đã ăn qua rất nhiều món ngon trên thế giới, nhưng bánh mì vẫn là món ăn số 1 đối với họ.
Có lẽ chúng ta đã quen với bánh mì đến mức quên mất rằng đó là một "kỳ tích văn hóa" rất riêng của Việt Nam. Nếu nhìn ở góc độ nguyên liệu, bánh mì không có gì quá đặc biệt: một ổ bánh giòn, vài lát thịt, chút rau, ít nước xốt.
Nhưng điều làm nên sức sống của nó không nằm ở từng thành phần mà ở sự hòa trộn. Đó là câu chuyện của một nền ẩm thực biết tiếp nhận, biến đổi và làm mới.
Từ chiếc baguette của Pháp, qua thời gian, người Việt đã biến nó thành bánh mì Việt - nhỏ hơn, giòn hơn, đậm đà hơn và quan trọng nhất là "Việt Nam hơn".
Trong mỗi ổ bánh mì là sự giao thoa của lịch sử, của khẩu vị, của đời sống đô thị và cả nhịp sống nhanh.
Chính vì vậy bánh mì không chỉ là món ăn mà đã trở thành một biểu tượng của sự thích nghi, của sáng tạo. Và cũng là biểu tượng của một nền văn hóa biết "làm của mình" từ những gì tưởng như không thuộc về mình.
Điều đáng nói là trong khi người Việt ăn bánh mì mỗi ngày, nhiều khi chỉ như một lựa chọn tiện lợi, thì du khách quốc tế lại nhìn thấy trong đó một trải nghiệm đặc biệt. Họ sẵn sàng xếp hàng dưới nắng như tại lễ hội này, sẵn sàng thử nhiều loại khác nhau và thậm chí mang về khách sạn để ăn tiếp.
Tại sao lại có sự khác biệt đó? Có lẽ vì người ngoài nhìn vào bằng sự tò mò, còn người trong cuộc đôi khi lại nhìn bằng thói quen. Chúng ta quen nên không còn thấy lạ, quen nên không còn thấy quý.
Thực ra lễ hội bánh mì không chỉ là nơi ăn uống mà là một dịp để kể lại câu chuyện của bánh mì Việt Nam một cách có ý thức.
Khi một món ăn được đưa lên thành lễ hội, được tổ chức bài bản, được truyền thông, được trải nghiệm, nó không còn chỉ là "đồ ăn" mà trở thành "giá trị" - nếu được gìn giữ và phát triển đúng hướng có thể đi rất xa, như chủ đề của lễ hội năm nay: "Bánh mì Việt Nam: Giá trị ẩm thực thế giới - Lan tỏa năm châu".
Câu chuyện bánh mì cũng là câu chuyện của văn hóa Việt trong bối cảnh hội nhập. Làm sao để những gì bình dị nhất có thể trở thành điểm nhấn? Làm sao để một món ăn đường phố có thể đứng ngang hàng với những thương hiệu ẩm thực toàn cầu?
Câu trả lời nằm ở việc hiểu và giữ được bản sắc. Một ổ bánh mì ngon không cần phải cầu kỳ. Nó cần đúng vị. Đúng cái giòn của vỏ, cái mềm của ruột, cái đậm đà của nhân. Và hơn hết, nó cần giữ được cái "hồn" - thứ không thể đo bằng công thức.
Cũng giống như văn hóa, khi đánh mất "hồn" thì dù có hiện đại đến đâu cũng chỉ là vỏ ngoài. Và điều quan trọng nữa là phải có những kế hoạch thúc đẩy cụ thể, thường xuyên để bánh mì "lan tỏa năm châu" chứ không dừng ở lễ hội mỗi năm một lần.
Điều đáng mừng là qua những lễ hội như thế này, người trẻ bắt đầu quan tâm hơn đến những giá trị tưởng như rất quen thuộc.
Không chỉ là ăn, mà là hiểu. Không chỉ là thưởng thức, mà là tự hào. Một bạn trẻ có thể check-in với ổ bánh mì nhưng nếu từ đó họ hiểu thêm về lịch sử, về cách làm, về câu chuyện phía sau thì đó đã là một bước tiến.
Văn hóa không tự nhiên tồn tại mà cần được kể lại, được làm mới và được truyền đi. Sự yêu thích của du khách quốc tế cũng là một lời nhắc nhở rằng những gì chúng ta đang có không hề nhỏ bé.
Một món ăn có thể trở thành cầu nối. Một trải nghiệm ẩm thực có thể trở thành lý do để người ta quay lại một đất nước.
Khi một người Mỹ, một người Slovakia hay bất kỳ ai tìm đến bánh mì như một "món ăn số 1", thì đó không chỉ là câu chuyện khẩu vị. Đó là câu chuyện của cảm xúc. Và khi đã chạm đến cảm xúc, văn hóa đã thực sự "đi ra thế giới".