Nguy cơ này vừa được cảnh báo sau vụ tai nạn ngạt khí tại trang trại lợn ở Thanh Hóa tối 18/7 khiến 5 người tử vong. Các chuyên gia y tế và hóa học xác định thủ phạm chính là H2S, loại khí đặc trưng phát sinh từ quá trình phân hủy chất thải hữu cơ.
Tên gọi “trứng thối” xuất phát từ mùi đặc trưng của khí H2S, nảy sinh do quá trình phân hủy các protein chứa lưu huỳnh.
Trong tự nhiên, lòng đỏ trứng gà chứa một lượng lớn các axit amin có lưu huỳnh. Khi trứng bị hỏng, vi khuẩn phân hủy các hợp chất hữu cơ này và giải phóng ra khí H2S. Vì mũi người cực kỳ nhạy cảm với loại khí này ngay cả ở nồng độ siêu thấp (khoảng 0,01 ppm), chúng ta sẽ lập tức nhận diện được mùi hôi nồng nặc, khó chịu đó.
Cơ chế tương tự cũng diễn ra trong các hầm biogas, cống rãnh hay bể phốt. Tại đây, chất thải hữu cơ và phân động vật bị vi khuẩn phân hủy trong môi trường thiếu oxy (yếm khí), tạo ra lượng lớn H2S. Do đó, mùi hương “chết chóc” này trở thành dấu hiệu nhận biết trực giác nhất để cảnh báo con người về sự hiện diện của chất độc, dù bản chất khí này không có màu sắc.
Tiến sĩ Khuất Quang Sơn, giảng viên Đại học Phòng cháy Chữa cháy, đánh giá H2S là chất độc không màu, dễ cháy nổ và sở hữu độc tính vượt xa Carbon monoxide (CO). Khi xâm nhập cơ thể, khí này gây viêm kết mạc tại chỗ, sau đó tấn công trực tiếp hệ thần kinh trung ương làm tê liệt trung tâm hô hấp. Dấu hiệu nhận biết đặc trưng tại hiện trường là các vật dụng kim loại như đồng, bạc trên người nạn nhân thường xỉn màu hoặc chuyển đen do phản ứng hóa học.
Đặc tính nguy hiểm nhất của H2S nằm ở xu hướng tích tụ tại các vùng trũng, sâu và kín do trọng lượng nặng hơn không khí. Bác sĩ Nguyễn Huy Hoàng, Hội Thể thao dưới nước và Oxy cao áp Việt Nam, phân tích rằng trong khi người đứng trên miệng hầm vẫn hít thở bình thường, thì người bước xuống sâu sẽ lập tức đối mặt với lớp khí độc đậm đặc.
H2S còn gây ra “ảo giác an toàn” cực kỳ nguy hiểm. Ở nồng độ thấp 0,01 ppm, con người dễ dàng nhận ra mùi trứng thối nồng nặc. Tuy nhiên, khi nồng độ đạt mức 100 ppm, khí này làm tê liệt dây thần kinh khứu giác. Nạn nhân đột ngột không còn ngửi thấy mùi khó chịu nên lầm tưởng nguy hiểm đã qua và tiếp tục đi sâu vào vùng độc.
Theo tiêu chuẩn an toàn quốc tế, nồng độ H2S từ 400 đến 700 ppm có thể tước đi mạng sống con người chỉ trong vòng 30 phút. Nếu nồng độ vượt ngưỡng 800 ppm, nạn nhân sẽ mất ý thức và tử vong ngay sau vài hơi thở. Cảm giác này được ví như bị một chiếc búa tạ giáng mạnh vào đầu, khiến nạn nhân ngã gục tại chỗ mà không kịp thực hiện bất kỳ phản ứng tự vệ hay tìm đường thoát thân. Ngoài ra, sự hiện diện của các loại khí độc khác như Ammonia, Phosphine cùng điều kiện thiếu oxy trong không gian hẹp càng đẩy nhanh tiến trình tử vong.
Để phòng tránh thảm kịch, các chuyên gia khuyến cáo người dân tuyệt đối không xuống cứu người theo quán tính nếu thiếu thiết bị bảo hộ chuyên dụng. Khi phát hiện sự cố, việc đầu tiên cần làm là mở thông thoáng khu vực, sử dụng quạt thổi công suất lớn để đẩy khí độc ra ngoài và nạp khí sạch vào trong.
Người xuống hầm bắt buộc phải trang bị mặt nạ chống độc kết hợp bình dưỡng khí, đồng thời thắt dây bảo hiểm liên kết với đội ngũ hỗ trợ bên trên.
Các trang trại chăn nuôi cần chủ động tập huấn an toàn lao động, trang bị đầy đủ bảo hộ và thiết lập quy trình kiểm tra nghiêm ngặt đối với mọi hoạt động trong không gian hạn chế để bảo vệ tính mạng công nhân.
Kẽm là khoáng chất thiết yếu tham gia vào nhiều phản ứng sinh học, từ miễn dịch, chuyển hóa đến hoạt động của não bộ và các giác quan. Các dấu hiệu thiếu kẽm thường không xuất hiện đơn lẻ mà có xu hướng đi kèm. Nguy cơ thiếu hụt cao hơn ở người ăn chay, người có bệnh lý tiêu hóa hoặc chế độ ăn thiếu đa dạng.
Khi thiếu hụt, cơ thể không "phát tín hiệu" theo một hướng rõ ràng mà biểu hiện ở nhiều hệ cơ quan. Vì vậy, không ít trường hợp thiếu kẽm bị bỏ qua hoặc nhầm lẫn với các vấn đề sức khỏe khác, đặc biệt khi các triệu chứng không điển hình.
Thay đổi vị giác, khứu giác
Một trong những dấu hiệu sớm nhưng dễ bị bỏ qua là cảm nhận mùi vị thay đổi. Bạn có thể thấy thức ăn kém đậm đà hơn, khó phân biệt mùi hoặc thậm chí mất hứng thú với các món quen thuộc.
Kẽm đóng vai trò quan trọng trong hoạt động của các thụ thể vị giác và khứu giác. Khi thiếu, các tín hiệu cảm nhận này bị suy giảm, ảnh hưởng trực tiếp đến trải nghiệm ăn uống hằng ngày.
Ù tai hoặc nghe kém dần
Kẽm có vai trò trong dẫn truyền thần kinh liên quan đến âm thanh. Thiếu kẽm có thể gây ra tình trạng ù tai, cảm giác vo ve hoặc tiếng kêu kéo dài trong tai, đôi khi còn giảm khả năng nghe. Một số nghiên cứu còn chỉ ra mức thiếu hụt càng lớn, triệu chứng càng rõ rệt.
Thị lực suy giảm theo thời gian
Kẽm tập trung nhiều ở võng mạc và tham gia vận chuyển vitamin A - dưỡng chất cần thiết cho thị lực. Khi lượng kẽm giảm, chức năng này bị ảnh hưởng, làm tăng nguy cơ suy giảm thị lực, đặc biệt ở người lớn tuổi. Duy trì đủ kẽm có thể góp phần làm chậm tiến triển của các vấn đề về mắt liên quan đến tuổi tác.
Rối loạn tiêu hóa kéo dài
Thiếu kẽm có thể ảnh hưởng đến hệ tiêu hóa theo nhiều cách, từ giảm hấp thu dinh dưỡng đến mất cân bằng hệ vi sinh đường ruột. Một số người có thể gặp tình trạng tiêu chảy kéo dài, đầy bụng hoặc khó tiêu mà không rõ nguyên nhân. Điều này một phần do kẽm tham gia vào quá trình duy trì hàng rào bảo vệ niêm mạc ruột.
Kẽm đóng vai trò điều hòa phản ứng viêm. Khi thiếu hụt, cơ thể dễ rơi vào trạng thái viêm mức độ thấp nhưng kéo dài - yếu tố liên quan đến nhiều bệnh mạn tính. Không giống viêm cấp tính dễ nhận biết, tình trạng này thường âm thầm, có thể biểu hiện qua cảm giác mệt mỏi kéo dài hoặc sức khỏe tổng thể suy giảm.
Khả năng tập trung và trí nhớ giảm nhẹ
Não bộ cũng cần kẽm để duy trì hoạt động ổn định. Thiếu hụt vi chất này có thể ảnh hưởng đến chức năng thần kinh, khiến bạn khó tập trung, dễ quên hoặc giảm hiệu suất làm việc.
Dù triệu chứng thường không nghiêm trọng, nhưng nếu kéo dài, nó có thể ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống và công việc hằng ngày.
Da nhạy cảm, dễ kích ứng hơn bình thường
Thay vì các vấn đề da liễu rõ rệt, thiếu kẽm đôi khi chỉ biểu hiện bằng việc da trở nên nhạy cảm hơn: dễ đỏ, dễ kích ứng hoặc lâu phục hồi sau tác động từ môi trường. Điều này liên quan đến vai trò của kẽm trong tái tạo tế bào và kiểm soát phản ứng viêm trên da.
Trong đó, 4 người bệnh được ghép tạng thành công, gồm 1 ca ghép gan, 1 ca ghép tim và 2 ca ghép thận.
Người hiến tạng bị xuất huyết dưới nhện do vỡ túi phình động mạch cảnh trong trái. Sau thời gian điều trị tích cực, tình trạng người bệnh không cải thiện và được xác định chết não theo đúng quy trình chuyên môn và quy định pháp luật.
Thực hiện đúng nguyện vọng của gia đình, Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM đã báo cáo Trung tâm Điều phối ghép tạng Quốc gia để thực hiện công tác điều phối, phân bổ tạng hiến theo quy định.
Ngay sau khi tiếp nhận phương án điều phối, Ban Giám đốc Bệnh viện Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM tổ chức cuộc họp khẩn do Phó giáo sư - tiến sĩ - bác sĩ Nguyễn Hoàng Bắc, Giám đốc Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM, chủ trì để đánh giá tình trạng người hiến, người nhận và triển khai nhân sự, nguồn lực phục vụ ca lấy - ghép nhiều tạng đồng thời.
Trong ngày 18.7, nhiều phòng mổ tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM đồng loạt sáng đèn. Gan được ghép cho bệnh nhân nữ 61 tuổi mắc ung thư biểu mô tế bào gan. 2 thận được ghép cho 2 người bệnh nữ, 53 tuổi và 48 tuổi, cùng mắc suy thận giai đoạn cuối. Tim được ghép cho bệnh nhân nam 25 tuổi mắc bệnh cơ tim giãn, suy tim giai đoạn cuối.
Song song đó, Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM phối hợp, hỗ trợ ê kíp Bệnh viện Phổi Trung ương và Bệnh viện E để lấy, bảo quản phổi hiến và vận chuyển tạng bằng đường hàng không ra Hà Nội.
Đây là lần thứ tư Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM kích hoạt quy trình lấy và ghép đa tạng. Kết quả này có được nhờ sự chỉ đạo xuyên suốt của ban giám đốc, kinh nghiệm tích lũy qua những trường hợp trước đó cùng hệ thống quy trình chuyên môn được xây dựng và chuẩn hóa trong nhiều năm. Trên nền tảng ấy, các ê kíp đã phối hợp nhịp nhàng, chủ động hỗ trợ lẫn nhau và kiểm soát chặt chẽ từng công đoạn, qua đó bảo toàn chất lượng tạng hiến, bảo đảm an toàn cho người bệnh và đáp ứng yêu cầu kỹ thuật khi nhiều ca ghép được triển khai đồng thời.
Ngày 23.6, tin từ Bệnh viện đa khoa Vĩnh Long cho biết, ê kíp vừa phẫu thuật thành công cho một bệnh nhân bị tắc ruột do u trực tràng kèm dị vật đâm thủng đại tràng.
Trước đó, ông P.V.P (65 tuổi, ở xã Thanh Hưng, tỉnh Đồng Tháp) xuất hiện tình trạng tiêu lỏng nhiều lần, sau đó tiêu ra máu nên được người nhà đưa đến Bệnh viện đa khoa Vĩnh Long cấp cứu.
Qua thăm khám, các bác sĩ chẩn đoán người bệnh bị chảy máu tiêu hóa, u tăng sinh trực tràng chưa rõ tính chất, viêm đại tràng, kèm theo bệnh lý nền gồm tăng huyết áp và động kinh.
Đáng chú ý, kết quả nội soi phát hiện một dị vật dài 3 cm, 1 đầu đâm sâu vào thành đại tràng, có dịch mủ xung quanh, gây tổn thương thành ruột (nghi là xương cá). Đồng thời, khối u trực tràng gây hẹp lòng ruột dẫn đến tình trạng tắc ruột.
Sau hội chẩn, ê kíp Khoa gây mê hồi sức và Khoa Ngoại Tổng quát quyết định tiến hành phẫu thuật nội soi khâu lỗ thủng đại tràng, nội soi lấy dị vật trực tràng và phẫu thuật nội soi mở đại tràng sigma ra da (hậu môn nhân tạo trên dòng) nhằm xử trí tổn thương, giải quyết tình trạng tắc ruột và bảo đảm an toàn cho người bệnh.
Theo bác sĩ chuyên khoa 2 Nguyễn Văn Thanh, Phó trưởng Khoa Ngoại Tổng quát, Bệnh viện đa khoa Vĩnh Long, đây là trường hợp khá phức tạp do người bệnh vừa có khối u trực tràng gây tắc ruột, vừa có dị vật đâm xuyên thành đại tràng gây viêm và tạo ổ mủ. Nếu không được phát hiện và can thiệp kịp thời, người bệnh có thể đối mặt với nguy cơ thủng đại tràng lan rộng, viêm phúc mạc, nhiễm trùng huyết và nhiều biến chứng nguy hiểm khác. Việc lựa chọn phẫu thuật nội soi giúp hạn chế xâm lấn, giảm đau sau mổ, rút ngắn thời gian hồi phục và nâng cao hiệu quả điều trị.
Sau phẫu thuật, người bệnh tỉnh táo, các dấu hiệu sinh tồn ổn định, tiếp tục được theo dõi và điều trị tại Khoa Ngoại tổng quát. Dự kiến sau khoảng 3 tuần, khi tình trạng toàn thân ổn định, người bệnh sẽ được phẫu thuật điều trị khối u trực tràng theo kế hoạch.