Kỳ nghỉ lễ 30/4-1/5 vừa rồi, gia đình tôi cũng quyết định làm một chuyến du lịch tự túc từ Hà Nội vào Đà Nẵng. Ban đầu, vợ tôi đề xuất đi máy bay cho nhanh gọn, nhưng tôi lại tiếc tiền vé cho cả nhà nên quyết định tự lái ôtô, nghĩ rằng vừa chủ động, vừa tiết kiệm được một khoản đáng kể. Những tôi không ngờ đó lại là một trong những chuyến đi mệt mỏi nhất của mình.
Gần 800 km đường bộ không phải là con số nhỏ, nhất là với người không quen chạy đường dài như tôi. Chúng tôi phải xuất phát từ tờ mờ sáng, khi trời còn tối đen, phần vì háo hức, phần vì sợ kẹt xe dịp lễ. Nhưng càng đi, tôi càng thấy quyết định của mình có phần chủ quan.
Đường đông, nhiều đoạn ùn tắc khiến việc lái xe trở nên căng thẳng. Tôi phải liên tục tập trung cao độ, mắt không rời khỏi mặt đường, tay lúc nào cũng căng lên vì xử lý các tình huống bất ngờ. Có những đoạn đường đèo, đường lạ, chỉ cần lơ là một chút là có thể gặp nguy hiểm.
Không chỉ riêng tôi, cả gia đình cũng “vật vã” theo chuyến đi. Vợ tôi bị say xe, phải dừng lại nhiều lần. Có lúc giữa đường vắng, không có trạm dừng chân, con đau bụng không thể chịu nổi, tôi buộc phải tấp xe vào lề đường, thậm chí là bên sườn núi để mọi người giải quyết nhu cầu vệ sinh. Những tình huống như vậy khiến chuyến đi trở nên bất tiện và mệt mỏi hơn tôi tưởng rất nhiều.
>> ‘Mua 5 kg cua biển làm quà du lịch, nhận về 1,2 kg dây buộc’
Khi đến nơi, tôi gần như không có cảm giác háo hức hay thư giãn nữa. Thay vào đó là sự rã rời, chỉ muốn nằm bẹp trên giường khách sạn. Cả hành trình đáng lẽ là để nghỉ ngơi, tận hưởng, lại biến thành một cuộc “đua đường dài” đầy áp lực.
Đúng là tự lái xe giúp gia đình tôi tiết kiệm được một khoản không nhỏ so với đi máy bay hay tàu hỏa. Nhưng cái giá phải trả là thời gian, sức khỏe và cả trải nghiệm du lịch. Tôi nhận ra, có những khoản tiết kiệm không thực sự “rẻ” nếu phải đánh đổi bằng sự mệt mỏi và căng thẳng.
Tôi không phủ nhận việc tự lái xe đi du lịch có cái hay riêng, nhất là với những ai quen đường dài, có kinh nghiệm và sức khỏe tốt. Nhưng nếu chọn cách này, mỗi người cần chuẩn bị rất kỹ về cả tinh thần, thể lực và phương án dự phòng. Nếu không, rất dễ biến kỳ nghỉ thành một trải nghiệm không mấy dễ chịu như những gì tôi vừa trải qua.
Còn với tôi, lần sau nếu có dịp đi xa như vậy, có lẽ tôi sẽ không còn tiếc tiền vé máy bay nữa. Tôi chẳng dại gì tự lái xe nữa, vì những thứ hay ho như người ta vẫn nói chẳng thấm vào đâu so với cái giá phải trả.
Có một thực tế đang diễn ra trong đời sống hôm nay, đó là con người ngày càng ít gắn chặt với nơi mình sinh ra. Người trẻ rời quê đi học, người lao động rời làng lên thành phố, rồi dần dần, những nơi từng được gọi là "quê nhà" trở thành một địa chỉ trong ký ức hơn là một không gian sống thường trực. Có người chỉ còn trở về vào dịp Tết, có người thậm chí nhiều năm không quay lại.
Trong bối cảnh dịch chuyển ấy, "quê quán" - một khái niệm vốn từng mang tính gốc rễ trong đời sống và giấy tờ - đang bị đặt lại câu hỏi: liệu có nên tiếp tục giữ nguyên cách hiểu cũ, hay cần nhìn nó như một dữ liệu lịch sử? Điều quan trọng hơn có lẽ là nơi con người thực sự sinh sống, làm việc và tạo dựng cuộc đời mình.
Một người có thể sinh ra ở Nghệ An, lớn lên ở Hà Nội, rồi làm việc và ổn định cuộc sống ở TP HCM. Nếu nhìn bằng lăng kính của thời đại cũ, đó có thể là một hành trình "xa quê". Nhưng nếu nhìn bằng thực tế phát triển hiện nay, đó chỉ đơn giản là một đời sống bình thường, nơi con người đi theo cơ hội, tri thức và khả năng đóng góp của mình.
Vấn đề là xã hội và hệ thống quản lý dường như vẫn chưa hoàn toàn theo kịp sự dịch chuyển ấy. Chúng ta vẫn theo thói quen hỏi "quê ở đâu?", "hộ khẩu ở đâu?" như một cách định danh con người. Trong khi câu hỏi quan trọng hơn phải là: một người đang sống ở đâu một cách ổn định, và họ đang đóng góp điều gì cho cộng đồng nơi họ hiện diện?
Trong rất nhiều trường hợp hiện nay, "quê quán" ghi trên giấy tờ hành chính không còn trùng khớp với nơi con người thực sự lớn lên và gắn bó. Có những người rời khỏi địa phương gốc từ khi còn rất nhỏ, thậm chí chưa kịp hình thành ký ức rõ ràng về nơi đó, nhưng dòng thông tin trong hồ sơ nhân thân vẫn cố định họ vào một địa danh "thuộc về quá khứ". Trên hệ thống dữ liệu, họ vẫn được gắn với một "quê quán" mang tính hành chính nhiều hơn là trải nghiệm sống.
Ví dụ như trường hợp của tôi: nguyên quán ghi Hải Phòng, nơi sinh là Hòa Bình (nay là Phú Thọ), còn toàn bộ quá trình học tập đại học và làm việc lại diễn ra ở Hà Nội. Nhưng thực tế, tôi chưa từng có đời sống thường trú hay ký ức sinh hoạt tại Hải Phòng. Vậy nhưng mỗi khi làm thủ tục hành chính, tôi vẫn phải trả lời các câu hỏi về quê quán luôn thường trực.
>> Chủ tiệm tạp hóa 60 tuổi không ngại đóng thuế, chỉ e thủ tục
Sự lệch pha này, nếu kéo dài, không chỉ gây bất tiện trong quản lý, mà còn khiến chính sách khó chạm đúng đối tượng, làm giảm độ chính xác của hệ thống an sinh và phân bổ nguồn lực xã hội. Nói cách khác, khi dữ liệu không còn đi cùng đời sống thực, thì quản trị cũng khó có thể phản ánh đúng thực tế đang vận hành từng ngày.
Việt Nam trong những năm gần đây đã bắt đầu quá trình chuyển đổi này thông qua cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, căn cước công dân gắn chip và đẩy mạnh dịch vụ công trực tuyến. Đây là những bước đi quan trọng để đưa quản lý nhà nước tiến gần hơn với thực tế đời sống. Tuy vậy, khái niệm "quê quán" trong tư duy xã hội và hệ thống hành chính truyền thống vẫn chưa được điều chỉnh.
Điều quan trọng không phải là siết chặt sự gắn bó với nơi sinh ra, mà là làm cho hệ thống quản lý đủ linh hoạt để theo kịp nơi con người đang thực sự sinh sống. Dữ liệu cần phản ánh đúng thực tế; chính sách an sinh cần đi theo nơi cư trú; và sâu xa hơn, cách nhìn về công dân cũng cần dịch chuyển từ "gốc gác" sang "đời sống hiện tại".
Khi những thay đổi này được thực hiện một cách hài hòa, "quê quán" sẽ trở về đúng vị trí của nó như một phần ký ức, một điểm tựa tinh thần. Còn "nơi sinh sống" mới là không gian thực sự để con người làm việc, phát triển và được bảo đảm quyền lợi một cách công bằng. Và có lẽ, xã hội sẽ nhẹ nhõm hơn nhiều khi người dân được nhìn nhận đúng ở nơi họ đang hiện diện.
Cuối tuần qua, ở phường Dĩ An, TP HCM xảy ra tình huống như sau: Thợ sửa khóa đến giúp mở cửa theo yêu cầu của người vợ, nhưng lại rơi vào cảnh bị người chồng đe dọa.
Nguyên căn của vụ việc là người chồng đi nhậu về nhà ngủ, người vợ không gọi được nên kêu thợ tới phá khóa cửa phòng.
Tôi thấy trong câu chuyện này đặt ra một thế khó ít ai để ý: Thợ sửa khóa thực chất đang làm việc dựa trên niềm tin. Nhưng nếu niềm tin đó đặt sai chỗ thì sao?
Ví dụ, một người dắt xe máy đến yêu cầu phá ổ khóa. Liệu đó là chủ xe thật hay là kẻ trộm? Nếu thợ từ chối, họ mất khách. Nếu nhận làm, họ có thể vô tình tiếp tay cho hành vi phạm pháp.
Hay như trường hợp mở cửa nhà: Người gọi thợ tới phá khóa có thực sự là người có quyền với căn nhà đó? Và nếu bên trong xảy ra tình huống nguy hiểm, ai sẽ bảo vệ người thợ?
Vậy thợ sửa khóa nên làm gì để vừa kiếm sống, vừa tự bảo vệ mình trước những rủi ro pháp lý và an toàn? Chẳng lẽ thợ phá khóa đòi xem giấy tờ xe, giấy tờ nhà trước khi thực hiện công việc?
"Hà Nội cũng không nên xây mới những khu chung cư cao tầng ở trung tâm thành phố nữa. Bởi vì hiện nay những tòa chung cư cao tầng tại địa bàn vùng lõi của Thủ đô đã dẫn đến tình trạng giao thông của thành phố thường xuyên bị ùn ứ nghiêm trọng. Nguyên nhân là do mật độ dân số tại những khu chung cư cao tầng này đã vượt quá giới hạn trong hệ thống giao thông của thành phố, kèm theo đó là tình trạng ô nhiễm môi trường do lượng khí thải của các loại phương tiện giao thông của cá nhân cũng như công cộng gây ra, cùng với đó là rất nhiều hệ lụy khác đi kèm, khi mà có quá nhiều tòa chung cư cao tầng tập trung".
Đó là chia sẻ của độc giả Thaiduongduy sau thông tin TP HCM sẽ không xây mới chung cư cao tầng ở trung tâm, ưu tiên quỹ đất lớn cho công viên, không gian công cộng để giảm áp lực hạ tầng, theo Bí thư Thành ủy Trần Lưu Quang. Các dự án nhà ở mới sẽ ưu tiên phát triển tại khu vực ngoại thành, gắn với đầu tư hạ tầng giao thông đồng bộ để kết nối thuận lợi với trung tâm. Ngoài việc hạn chế cao ốc ở khu vực lõi đô thị, TP HCM cũng nghiên cứu mô hình nhà ở thương mại giá hợp lý tại các khu vực xa trung tâm.
Ủng hộ Hà Nội cấu trúc đô thị theo hướng giãn dân ra vùng ven theo bài học của TP HCM, bạn đọc Thang Do bình luận: "Những thành phố lớn như Hà Nội, TP HCM nên giữ nguyên cảnh quan đô thị cũ thì hay hơn, chỉ sửa chữa, tu bổ cho đẹp và an toàn hơn. Việc xây chung cư cao tầng mới nên ở vùng ven thì hay hơn, tôi đã sống ngót nghét 40 năm ở nước ngoài nhưng chưa từng nhìn thấy ở một thành phố nào xây dựng một tòa nhà mới cao quá 10 tầng. Trong khi đó, nhìn lại những thành phố lớn của ta cứ liên tục xây dựng những tòa nhà cao ngất ngưởng trong trung tâm, liệu có nên không?".
>> Đi làm 30 km bằng xe máy vì không dám lái ôtô vào nội thành Hà Nội
Cùng chung quan điểm, độc giả Nguyentienhaan bày tỏ suy nghĩ: "Tôi cũng mong Hà Nội phát triển theo hướng bền vững như nhiều đô thị lớn trên thế giới: ưu tiên không gian xanh, hạ tầng giao thông và chất lượng sống thay vì tiếp tục gia tăng mật độ dân cư trong nội đô.
Thành phố cần cân nhắc hạn chế cấp phép xây thêm chung cư cao tầng tại khu vực trung tâm vốn đã quá tải. Đồng thời, dành quỹ đất cho công viên, hồ điều hòa, cây xanh, bãi đỗ xe và các công trình công cộng phục vụ cộng đồng. Nếu mật độ dân số tiếp tục tăng nhanh trong khi hạ tầng giao thông không theo kịp, tình trạng ùn tắc sẽ ngày càng nghiêm trọng và rất khó giải quyết triệt để.
Một thành phố đáng sống không chỉ có nhiều tòa nhà cao tầng mà cần có không gian xanh, môi trường trong lành và hệ thống giao thông hợp lý để người dân được sinh sống thuận tiện, an toàn và bền vững hơn trong tương lai".
"Cứ nhìn các thành phố lớn ở châu Âu xem họ thiết kế cách đây cả trăm năm mà đến giờ vẫn chuẩn, khu nhà nào cũng có công viên cho trẻ em, hồ điều hòa, trung tâm thể thao, bể bơi công cộng... Giữa trung tâm thành phố luôn có một quảng trường rất lớn, có mặt sân đủ cho cả triệu người nếu có sự kiện văn hóa. Còn ngoại ô mới là nơi tập trung những tòa nhà cao tầng, xen lẫn những hàng cây xanh, khu rừng tự nhiên cho những người thích thiên nhiên cuối tuần đạp xe, chạy bộ thư giãn", bạn đọc Tranvandao nói thêm.