Cuối tuần qua, ở phường Dĩ An, TP HCM xảy ra tình huống như sau: Thợ sửa khóa đến giúp mở cửa theo yêu cầu của người vợ, nhưng lại rơi vào cảnh bị người chồng đe dọa.
Nguyên căn của vụ việc là người chồng đi nhậu về nhà ngủ, người vợ không gọi được nên kêu thợ tới phá khóa cửa phòng.
Tôi thấy trong câu chuyện này đặt ra một thế khó ít ai để ý: Thợ sửa khóa thực chất đang làm việc dựa trên niềm tin. Nhưng nếu niềm tin đó đặt sai chỗ thì sao?
Ví dụ, một người dắt xe máy đến yêu cầu phá ổ khóa. Liệu đó là chủ xe thật hay là kẻ trộm? Nếu thợ từ chối, họ mất khách. Nếu nhận làm, họ có thể vô tình tiếp tay cho hành vi phạm pháp.
Hay như trường hợp mở cửa nhà: Người gọi thợ tới phá khóa có thực sự là người có quyền với căn nhà đó? Và nếu bên trong xảy ra tình huống nguy hiểm, ai sẽ bảo vệ người thợ?
Vậy thợ sửa khóa nên làm gì để vừa kiếm sống, vừa tự bảo vệ mình trước những rủi ro pháp lý và an toàn? Chẳng lẽ thợ phá khóa đòi xem giấy tờ xe, giấy tờ nhà trước khi thực hiện công việc?
Tin Gốc: Vnexpress

Tôi thấy có một nghịch lý rất dễ bắt gặp ở các đô thị lớn hiện nay: Lương vừa về tài khoản đã lập tức chia nhỏ cho tiền thuê nhà, học phí của con, viện phí của cha mẹ, tiền điện nước, xăng xe, thực phẩm. Đến cuối tháng, thứ còn lại đôi khi không phải là khoản tiết kiệm, mà là cảm giác mình đã cố gắng rất nhiều nhưng vẫn luôn sống trong trạng thái "vừa đủ chống đỡ".
Vì thế, khi nhìn bảng lương và thấy một khoản thuế thu nhập cá nhân tiếp tục bị khấu trừ, không ít người bắt đầu đặt ra câu hỏi liệu mức thu nhập hơn 20 triệu hay gần 30 triệu đồng một tháng ở thời điểm này có còn được xem là "thu nhập cao" hay không?
Bởi thực tế ở Hà Nội hay TP HCM, một gia đình trẻ với mức thu nhập ấy vẫn có thể chật vật giữa áp lực nuôi con, chăm sóc cha mẹ và nỗi lo nhà ở kéo dài nhiều năm chưa dứt.
Đó là lý do đề xuất mới của Bộ Tài chính về việc người có thu nhập trên 28,6 triệu đồng một tháng mới bắt đầu phải nộp thuế thu nhập cá nhân ngay lập tức thu hút sự quan tâm lớn của xã hội.
Nhưng điều khiến dư luận chú ý không chỉ nằm ở con số 28,6 triệu đồng. Điều quan trọng hơn là thông điệp phía sau đề xuất ấy. Cơ quan hoạch định chính sách dường như đã bắt đầu nhìn rõ hơn áp lực chi tiêu thực tế của người lao động trong một xã hội mà chi phí sống đang thay đổi rất nhanh.
Ở Hà Nội hay TP HCM bây giờ, một gia đình trẻ có con nhỏ rất dễ chi tiêu 25-35 triệu đồng mỗi tháng mà vẫn chỉ đang cố giữ một cuộc sống ổn định ở mức cơ bản. Tiền thuê nhà tăng theo từng năm. Tiền gửi trẻ, thực phẩm, điện nước, xăng xe, bảo hiểm, thuốc men... tất cả đều âm thầm leo thang từng tháng một.
Nhiều người đi làm có cảm giác lương tăng không phải để sống tốt hơn, mà chỉ để đuổi theo tốc độ tăng của chi phí sinh hoạt. Và rồi một nghịch lý xuất hiện: không ít người đang bị xếp vào nhóm "có thu nhập chịu thuế", nhưng thực tế vẫn chưa đủ khả năng mua nhà, chưa dám sinh thêm con, chưa thể tích lũy cho tuổi già, thậm chí không ít người vẫn sống trong cảm giác bấp bênh nếu chẳng may mất việc vài tháng. Họ không nghèo, nhưng cũng rất xa mới tới được trạng thái gọi là "dư dả".
Nhiều năm qua, xã hội vẫn quen với suy nghĩ rằng thu nhập gần 30 triệu đồng/tháng là "mức sống cao". Nhưng thực tế ở các đô thị lớn hiện nay cho thấy, con số ấy đôi khi chỉ đủ để một gia đình nhỏ duy trì sự ổn định tương đối. Sau tiền thuê nhà, tiền học cho con, tiền thuốc men cho cha mẹ, các khoản bảo hiểm, điện nước, xăng xe và những chi phí phát sinh không tên khác, phần còn lại không nhiều như người ngoài vẫn tưởng.
Có những người lương gần 30 triệu đồng nhưng nhiều năm chưa dám mua nhà. Có những cặp vợ chồng trì hoãn sinh con thứ hai không phải vì không muốn, mà vì sợ áp lực tài chính. Cũng có những gia đình nhìn mức thu nhập trên giấy tờ tưởng khá, nhưng chỉ một đợt nằm viện kéo dài là toàn bộ khoản tích lũy lập tức bị xóa sạch.
Vì thế, điều đáng nói ở đề xuất lần này không nằm ở việc người dân sẽ giảm được bao nhiêu tiền thuế mỗi tháng. Điều quan trọng hơn là chính sách đang dần thừa nhận một thực tế rất đời thường: người có thu nhập gần 30 triệu đồng một tháng nhưng còn phải nuôi con, chăm cha mẹ, lo giáo dục và y tế... chưa chắc đã là người "dư dả".
Đặc biệt, nhóm lao động trí thức và trung lưu đô thị - những người làm văn phòng, kỹ sư, bác sĩ, giáo viên, chuyên viên tài chính, nhân sự công nghệ, quản lý cấp trung... Đây là nhóm đang làm việc với cường độ rất cao, chịu áp lực nghề nghiệp lớn, nhưng lại thường xuyên có cảm giác mình bị "kẹt ở giữa". Họ không thuộc nhóm thu nhập thấp để nhận hỗ trợ. Nhưng cũng chưa đủ giàu để sống thật sự thoải mái giữa các đô thị đắt đỏ.
Họ có thể kiếm vài chục triệu đồng mỗi tháng, nhưng vẫn lo lắng về tiền học của con, khoản vay mua nhà kéo dài hàng chục năm, chi phí chăm sóc cha mẹ già và nỗi bất an nếu một ngày mất việc hoặc đau ốm.
Dù đề xuất nâng ngưỡng chịu thuế lần này nhận được nhiều phản hồi tích cực, không ít chuyên gia cho rằng vấn đề của thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam thực ra không chỉ nằm ở mức giảm trừ gia cảnh.
Điều cần nhìn lại sâu hơn là cách thiết kế toàn bộ hệ thống thuế hiện nay từ biểu thuế, khoảng cách giữa các bậc thuế cho tới cách chính sách phản ánh chênh lệch chi phí sống trong xã hội. Bởi có một thực tế mà rất nhiều người lao động đang cảm nhận rõ: thu nhập tăng nhưng cảm giác "dễ thở hơn" lại không tăng tương ứng.
Hiện nay, khoảng cách giữa các bậc thuế còn khá ngắn. Chỉ cần lương tăng thêm một mức nhất định, người lao động có thể lập tức bước sang bậc thuế cao hơn, dù mức sống thực tế gần như chưa thay đổi đáng kể.
Về lý thuyết, việc điều chỉnh giảm trừ theo vùng có thể giúp chính sách công bằng hơn với người dân ở các đô thị đắt đỏ. Nhưng trên thực tế, đây là bài toán rất phức tạp.
Bởi một khi chia theo vùng miền, hệ thống quản lý thuế sẽ khó vận hành hơn rất nhiều. Câu hỏi đặt ra là phân chia theo tiêu chí nào? Theo địa chỉ thường trú hay nơi làm việc? Theo mức giá sinh hoạt hay theo tốc độ đô thị hóa? Và nếu chi phí sống thay đổi liên tục, cơ chế điều chỉnh sẽ được cập nhật ra sao để tránh bất hợp lý mới phát sinh?
Tin Gốc: Vnexpress

Ở nhiều vùng quê hiện nay, mâm cỗ đang dần trở thành một cuộc chạy đua hình thức. Người ta không còn chỉ ăn cỗ để gặp gỡ, chia sẻ niềm vui hay nỗi buồn, mà còn mang theo áp lực "không được thua kém". Hệ quả là cả gia chủ lẫn khách mời đều mệt mỏi, tốn kém, thậm chí ảnh hưởng sức khỏe.
Bố tôi nghỉ hưu chưa lâu nhưng gần như tuần nào cũng đi ăn cỗ. Trung bình cứ ba ngày lại có một đám cưới, giỗ chạp, tân gia hay đám tang. Một mâm cỗ chỉ sáu người nhưng có thể dùng tới khoảng 3-4 kg thịt các loại: gà, heo, bò, chả, giò... Rau xanh rất ít, món chiên, xào và dầu mỡ lại quá nhiều.
Chỉ vài tháng sau, sức khỏe ông giảm rõ rệt. Mỡ máu tăng, huyết áp cao hơn trước. Đi khám, bác sĩ yêu cầu bố phải hạn chế ăn thịt đỏ và đồ dầu mỡ. Nhưng ở quê, việc từ chối đi ăn cỗ gần như không thể. Người lớn tuổi còn giữ nhiều quan hệ họ hàng, làng xóm nên "có đám là phải đi".
Nghịch lý là trong khi ngành y tế liên tục khuyến cáo giảm tiêu thụ thịt đỏ, hạn chế dầu mỡ và ăn cân bằng dinh dưỡng, thì văn hóa cỗ bàn ở nhiều nơi lại đi theo chiều ngược lại. Gia chủ sợ bị chê keo kiệt nên cố làm thật nhiều món, còn khách đi ăn cũng mặc nhiên coi việc ăn no, ăn nhiều là thước đo của sự chu đáo.
>> 10 năm tôi ăn phở không thêm đẫm tương ớt, chanh, giấm
Theo tôi, đây không còn là chuyện riêng của từng gia đình mà nên được nhìn như một vấn đề văn hóa - sức khỏe cộng đồng. Nếu tính toán khoảng 200 gram thịt mỗi người, kết hợp canh, rau và trái cây thì đã đủ dinh dưỡng, ngon miệng mà vẫn tiết kiệm. Điều quan trọng hơn là thay đổi tư duy: đi ăn cỗ chủ yếu để gặp gỡ và chia sẻ tình cảm, chứ không phải để ăn cho đẫy.
Thực tế, nhiều người nghỉ hưu đang chịu áp lực tài chính từ văn hóa cỗ bàn. Đi đám thì phải đưa tiền mừng. Đưa ít sợ mất lòng, đưa nhiều thì hụt cả khoản sinh hoạt trong tháng. Đến lượt nhà mình có việc lại phải cố làm cỗ lớn vì sợ bị đánh giá. Một vòng xoáy hình thức mà ai cũng than mệt nhưng ít người dám thay đổi trước.
Tôi từng dự tang lễ của một người bác họ. Gia đình đang đau buồn vì mất người thân nhưng vẫn phải lo ba bữa cỗ liên tiếp, mỗi bữa khoảng 35 bàn đầy thịt và bia rượu. Sau tang lễ, tiền phúng viếng không đủ bù chi phí cỗ bàn. Người sống vừa mất người thân, vừa mang thêm áp lực nợ nần. Vậy có đáng không?
Tin Gốc: Vnexpress

"Bố tôi đang bị bệnh Alzheimer giai đoạn cuối, cũng phải có người thân chăm sóc 24/24h. Từ một người đàn ông rất phong độ, luôn chăm chút cho bản thân, giờ bố như một cái xác không hồn. Ăn uống, ngủ nghỉ, đi vệ sinh đều là vấn đề. Tôi thương bố đến phát khóc.
Nhà tôi có bốn anh chị em. Anh trai tôi trước khi xuất khẩu lao động nước ngoài ở với bố mẹ, vừa rồi anh cũng phải nghỉ việc về nước để chăm cha già. Từ đó đến giờ, anh hầu như cũng không làm ăn được gì. Mấy chị em tôi phải thay nhau chăm sóc bố, người góp tiền, người góp sức.
Bản thân tôi có hai con trai đã lớn. Nhìn bố nên tôi luôn quý trọng cuộc sống, bảo vệ sức khỏe mình ngay từ bây giờ: luyện tập, ăn uống, bổ sung vi chất... Tôi luôn cầu mong mình sống phải khỏe để đỡ làm khổ con cái, người thân".
Đó là chia sẻ của độc giả Thuyquangcao về câu chuyện chăm sóc cha mẹ già sau bài viết "Tôi mất việc lương 20 triệu vì chăm bố nằm liệt giường". "Thế hệ bánh mỳ kẹp" (Sandwich Generation) là thuật ngữ do nhà xã hội học người Mỹ Dorothy Miller đặt ra, chỉ nhóm người trung niên (40-50 tuổi) vừa phải chăm sóc bố mẹ già, vừa nuôi dạy con cái. Hiện chưa có số liệu thống kê về số người "bánh mỳ kẹp" ở Việt Nam nhưng đây cũng là thực trạng phổ biến và tất yếu. Tổng điều tra dân số 2019 cho biết, tỷ lệ dân số phụ thuộc (dưới 15 tuổi và trên 65 tuổi) ở Việt Nam chiếm khoảng 45%. Trong khi đó, dân số trong độ tuổi thanh niên (từ 16 đến 30 tuổi) ở Việt Nam đang có xu hướng giảm dần qua từng năm, còn nhóm 60 tuổi trở lên đang gia tăng.
Tuổi thọ người dân ngày một tăng, người trẻ sinh đẻ ít đi nên khi chỉ có một hoặc hai con thì gánh nặng lo toan nhiều hơn. Trong khi đó, nhiều người già ở Việt Nam không có lương hưu. Người 80 tuổi trở lên mới được hưởng trợ cấp xã hội và cũng không đủ sống nên họ trông đợi cả vào con. Không chỉ phải bỏ công sức, nhiều người "bánh mỳ kẹp" phải từ bỏ công việc phù hợp hoặc vị trí cao để ưu tiên chăm sóc cha mẹ già, con nhỏ.
>> Tôi mất việc lương 20 triệu vì chăm bố nằm liệt giường
Cũng có cùng cảm giác kiệt sức khi phải gánh trách nhiệm phụng dưỡng cha mẹ già, bạn đọc Anh Phuong bình luận: "Mẹ tôi bị bại liệt, nằm một chỗ đến nay đã gần 40 năm. Ba chị em tôi và bố phải thay nhau chăm mẹ, nhưng chủ yếu là cô út do ở gần nhất. Em tôi vừa đi dạy, vừa lo việc nhà chồng, lại phải chăm mẹ nên vô cùng vất vả. Gần một năm nay, mẹ tôi chính thức sống thực vật, nên mọi người trong nhà đều mệt mỏi cả về tinh thần, thể chất và vật chất. Tính sơ, vài đợt mẹ nằm ICU, mỗi đợt vài ba tháng cũng đã tốn chi phí trung bình 7-8 triệu đồng mỗi ngày.
Giờ mẹ tôi đã được đưa về nhà, phải có người trông coi 24/24h. Chúng tôi từng tính thuê người giúp việc, trả lương cao nhưng cũng không ai chịu làm vì quá vất vả, phải thức gần như xuyên đêm để hút đờm liên tục 20-30 phút một lần cho mẹ. Người trẻ khỏe thì không muốn làm, người có tuổi thì không đủ sức khỏe, nên cuối cùng vẫn là chúng tôi tự tay chăm mẹ. Cái cảm xúc 'nhiều khi muốn ngủ và không tỉnh lại nữa' có lẽ chỉ những người trong cuộc mới hiểu".
Trong khi đó, chọn cách chuẩn bị sớm cho tuổi già của bản thân để không làm gánh nặng cho con cái, độc giả Ftwane nhấn mạnh: "Chúng ta thường lo về tương lai chưa đến, nhớ mãi quá khứ nên ngày nào cũng lo âu. Mỗi người tự tạo cho mình gánh nặng trong suy nghĩ chứ thực tế thì mỗi người đều phải gánh chịu những gì mình tạo ra trong lúc còn trẻ tới khi già.
Cha mẹ tôi 85 tuổi, có 10 người con kinh tế đủ đầy, nhưng cũng không dễ dàng gì khi bệnh tật kéo dài. Thay vì tích góp tiền bạc, bắt người thân chăm sóc khi về già thì điều thực tế nhất chính là giữ sức khỏe ngay từ khi 40 tuổi. Tôi muốn là một người già mạnh khỏe về thể xác, vui vẻ trong tâm hồn và độc lập về tình cảm.
Tôi ăn chay, đi bộ, phơi nắng và thấy đó là cách giữ sức khỏe thực sự hiệu quả. Còn tinh thần thì tôi không muốn lệ thuộc vào tình cảm của người thân. Tôi không muốn trở thành một gánh nặng cho người khác, nhất là với những người trong gia đình".
Tin Gốc: Vnexpress
