Sáng 21.5, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Trưởng ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, chủ trì buổi làm việc của Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương cho ý kiến về Đề án “Nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ lượng tử phục vụ phát triển kinh tế – xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh”.
Phát biểu tại buổi làm việc, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nêu rõ, đây là vấn đề rất mới, rất khó, diễn biến nhanh, liên quan đến khoa học, công nghệ, an ninh quốc gia, chuyển đổi số công nghiệp chiến lược và năng lực cạnh tranh dài hạn của đất nước.
Vì vậy, phải tiếp tục nghiên cứu sâu hơn, bài bản hơn, chiến lược hơn để xây dựng và hoàn thiện đề án quan trọng về phát triển công nghệ lượng tử tại Việt Nam trong giai đoạn tới, phục vụ phát triển đất nước, với yêu cầu tự chủ chiến lược.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh, phải thống nhất nhận thức công nghệ lượng tử là vấn đề chiến lược quốc gia, không chỉ là vấn đề nghiên cứu khoa học đơn thuần.
Do đó, phải đặt vấn đề phát triển công nghệ lượng tử trong tổng thể triển khai thực hiện Nghị quyết 57 của Bộ Chính trị và chiến lược phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, gắn với bảo đảm an ninh quốc gia, dữ liệu quốc gia, công nghiệp bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, công nghệ không gian…
Nếu tách rời các mục tiêu này, lượng tử rất dễ trở thành chương trình nghiên cứu đắt đỏ nhưng ít chuyển hóa thành sức mạnh quốc gia.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước chỉ rõ, phải có tư duy đúng, đi sau nhưng không đi chậm; không nóng vội nhưng cũng không được chần chừ; cần hết sức tránh tâm lý tự ti, tránh tư duy phong trào, chạy theo hình thức, đầu tư dàn trải, đặt mục tiêu vượt quá khả năng thực tế.
Do đó, phải lựa chọn đúng hướng đi phù hợp với điều kiện Việt Nam; từng bước xây dựng năng lực thực chất của quốc gia trong những lĩnh vực có khả năng tham gia và làm chủ. Tinh thần là đi sớm về nhận thức, đi chắc về nền tảng, đi đúng vào những khâu có thể tạo năng lực thật và giá trị thật; xây dựng năng lực công nghệ lượng tử, cần lựa chọn một số hướng nghiên cứu ưu tiên phù hợp với điều kiện Việt Nam và gắn với những bài toán thực tiễn của Việt Nam.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị, ưu tiên trước hết cho vấn đề an ninh và chủ quyền số quốc gia, bảo đảm chủ động từ sớm, từ xa, không để bị động, bất ngờ.
Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực lượng tử phải mạnh mẽ, chọn lọc và thực chất, phục vụ cho mục tiêu nâng cao năng lực tự chủ của Việt Nam, không nên biến hợp tác quốc tế thành một sự phụ thuộc mới.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh, tập trung đầu tư có trọng tâm, trọng điểm. Không đầu tư dàn trải, manh mún, mỗi nơi làm một ít, thiết bị phân tán, không tạo được sức mạnh tổng hợp.
Đồng thời, phải đổi mới cách đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học, coi trọng năng lực tích lũy lâu dài vì khoa học đỉnh cao không thể phát triển bằng tư duy, thành tích ngắn hạn; phải có chấp nhận rủi ro, có kiểm soát trong nghiên cứu khoa học. Vì vậy, cơ chế quản lý phải phân biệt giữa thất bại khoa học, trung thực với lãng phí với hình thức hoặc thiếu trách nhiệm.
Đặc biệt coi trọng nguồn nhân lực và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo; phải có chương trình quốc gia đào tạo nhân lực công nghệ lượng tử, có cơ chế đặc thù để thu hút, trọng dụng nhân tài; xây dựng các nhóm nghiên cứu mạnh trong nước; tăng cường hợp tác quốc tế, thu hút các nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài và các chuyên gia quốc tế tham gia xây dựng năng lực lượng tử cho Việt Nam.
Bên cạnh việc đẩy mạnh nghiên cứu cơ bản, phải thúc đẩy hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo lượng tử với sự tham gia của Nhà nước, viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp và các đơn vị quốc phòng – an ninh; có cơ chế khuyến khích doanh nghiệp tham gia nghiên cứu, ứng dụng và thương mại hóa công nghệ.
Không để công nghệ lượng tử chỉ nằm trong phòng thí nghiệm hay trên đề án, phát minh mà phải được đưa vào thực tế, có sản phẩm.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh, phải truyền cảm hứng được cho thế hệ trẻ về khát vọng chinh phục tri thức đỉnh cao; cần gieo mầm cho thế hệ các nhà khoa học mới giỏi chuyên môn, liêm chính học thuật, có tư duy quốc tế, có bản lĩnh sáng tạo và có trách nhiệm với Tổ quốc. Một dân tộc muốn vươn lên phải dám đầu tư cho những lĩnh vực khó và dám đặt niềm tin vào trí tuệ của thế hệ trẻ.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu đổi mới mạnh mẽ cách tổ chức thực hiện. Đây là lĩnh vực liên ngành, liên lĩnh vực, yêu cầu rất cao về phối hợp và điều hành thống nhất.
Đề án cần tiếp tục làm rõ cơ chế điều hành phát triển lĩnh vực này; xác định rõ mục tiêu, lộ trình, nhiệm vụ ưu tiên; đề xuất cơ chế đặc thù về đầu tư, tài chính, nhân lực và hợp tác quốc tế; lựa chọn một số nhiệm vụ, dự án trọng điểm để triển khai ngay…
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị, Đảng ủy Viện Hàn lâm Khoa học và công nghệ Việt Nam tiếp tục nghiên cứu bổ sung, hoàn thiện đề án, bảo đảm thực sự mang tầm chiến lược, khoa học và sát với thực tiễn, trình Ban Bí thư xem xét cho ý kiến bảo đảm chất lượng, tiến độ theo quy định.
Chiều 2.6, tại Hà Nội, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì cuộc làm việc với Ban Chỉ đạo Trung ương về sơ kết 1 năm vận hành mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền 3 cấp.
Phát biểu tại cuộc làm việc, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh, cần trả lời các câu hỏi: bộ máy có tinh gọn hơn không, vận hành có thông suốt hơn không, quyền hạn có rõ hơn không, trách nhiệm cụ thể hơn không, phục vụ nhân dân và doanh nghiệp có tốt hơn không.
Mô hình mới có tạo thêm ra động lực phát triển hay không và quan trọng nhất là có nâng cao được hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả của hệ thống chính trị hay không.
Đây là tinh thần, tư tưởng xuyên suốt khi hoàn thiện báo cáo, cũng là mục tiêu cơ bản để các ngành, các cấp, các địa phương kiểm điểm lại, đánh giá lại hoạt động thực chất vừa qua.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước ghi nhận, bước đầu cho thấy đã triển khai được một khối lượng công việc rất lớn, phạm vi rộng, yêu cầu cao. Nhưng thành công của các giai đoạn sắp xếp chưa đồng nghĩa với thành công đầy đủ của các giai đoạn vận hành.
Từ nay trở đi yêu cầu trọng tâm là phải chuyển từ sắp xếp xong bộ máy sang vận hành tốt bộ máy, từ ổn định tổ chức sang nâng cao chất lượng quản trị, từ phân cấp nhiệm vụ sang đảm bảo năng lực thực thi.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị, phải nhìn thẳng, đánh giá đúng vào những điểm nghẽn lớn đang đặt ra.
Về thể chế và cơ chế vận hành, một số các quy định, quy trình hướng dẫn tuy đã được ban hành nhưng chưa thực sự đồng bộ, chưa theo kịp với yêu cầu vận hành mô hình mới.
Về phân cấp, phân quyền gắn với nguồn lực; giao quyền phải đi đôi với giao trách nhiệm, giao tài chính, giao nhân lực, giao dữ liệu có công cụ thực hiện.
Nếu chỉ giao việc mà không giao đủ những điều kiện, cấp dưới rất khó làm, cán bộ rất khó thực thi. Nếu phân cấp mạnh mà thiếu kiểm tra, giám sát thì dễ phát sinh rủi ro trong thực thi quyền lực, thậm chí dẫn đến vi phạm và thậm chí không dám làm, không dám thực hiện.
Về chính quyền cấp xã, sau khi thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, nhiều nhiệm vụ trước đây thuộc cấp huyện thì nay chuyển xuống cấp xã nhưng năng lực cán bộ, hạ tầng, số cơ sở vật chất, điều kiện làm việc, nguồn lực tài chính và cơ chế hỗ trợ chuyên môn giữa các địa bàn còn chưa đồng đều.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước lưu ý, điểm nghẽn về chuyển đổi số và dữ liệu; về năng lực tổ chức thực hiện. Đây là điểm nghẽn, có tính quyết định, chủ trương đúng, thể chế đúng, mô hình đúng nhưng nếu tổ chức thực hiện yếu thì kết quả không đạt yêu cầu.
Do đó, báo cáo phải chỉ rõ nơi nào làm tốt, nơi nào làm còn lúng túng, cấp nào còn yếu, khâu nào còn chậm, trách nhiệm của người đứng đầu đến đâu, cụ thể đến các ngành, các địa phương.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị, trong báo cáo phải có luận điểm trung tâm rõ ràng, từ sắp xếp tổ chức bộ máy, nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực quản trị và năng lực tổ chức thực hiện của toàn hệ thống chính trị.
Cách viết báo cáo cũng cần phải chuyển mạnh từ liệt kê kết quả, sang phân tích tác động; từ mô tả công việc sang đánh giá chất lượng vận hành; từ nêu những thuận lợi, khó khăn sang nhận diện đúng những điểm nghẽn; từ kiến nghị chung sang những kiến nghị rõ việc, rõ thẩm quyền, rõ trách nhiệm, rõ lộ trình, rõ địa chỉ.
Đặc biệt, báo cáo cần phải bổ sung sâu hơn nội dung: đánh giá sự đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng trong mô hình mới; đánh giá năng lực vận hành của chính quyền địa phương 2 cấp, nhất là cấp xã, trong đó chú trọng chất lượng cán bộ cơ sở.
Đánh giá hiệu quả phân cấp, phân quyền gắn với nguồn lực và kiểm soát quyền lực; đánh giá chuyển đổi số dữ liệu, khả năng quản trị dựa trên dữ liệu; đề xuất bộ tiêu chí đánh giá hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả vận hành mô hình mới trong giai đoạn mới; phải rà soát chức năng nhiệm vụ để điều chỉnh.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh, cải cách về tổ chức bộ máy lần này có ý nghĩa rất lớn, không chỉ là đối với hiện tại mà còn đối với tương lai phát triển của đất nước.
Điều hướng tới không phải chỉ là một bộ máy ít đầu mối hơn mà là một bộ máy phải mạnh hơn, thông suốt hơn, trách nhiệm hơn, hiệu quả hơn và phục vụ nhân dân tốt hơn.
Đây không phải chỉ là sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới phương thức lãnh đạo, phương thức quản lý, phương thức điều hành, phương thức làm việc, phương thức tổ chức thực hiện, không phải chỉ là giải quyết yêu cầu trước mắt mà phải tạo nền tảng trong mô hình quản trị quốc gia hiện đại, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững của đất nước trong giai đoạn mới.
Tại phiên họp, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng nhấn mạnh, các dự án luật, nghị quyết có ý nghĩa rất quan trọng, cần tập trung sửa đổi, bổ sung, ban hành nhằm thực hiện quyết liệt theo kết luận chỉ đạo của cấp có thẩm quyền, nhất là theo chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm.
Các dự án luật, nghị quyết này nhằm tiếp tục chủ trương cắt giảm thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh để sớm gỡ bỏ các điểm nghẽn, rào cản, giảm chi phí tuân thủ cho người dân và doanh nghiệp, cải thiện môi trường đầu tư, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, phấn đấu đưa tăng trưởng đạt 2 con số trở lên; đáp ứng yêu cầu vận hành mô hình chính quyền 3 cấp.
Với luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật Hải quan, Thủ tướng nhấn mạnh yêu cầu có giải pháp mạnh hơn, đột phá hơn để cải cách quy trình thủ tục; đồng thời nghiên cứu đề xuất sửa đổi pháp luật chuyên ngành để giảm thời gian, chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp.
Đối với luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật Đầu tư (sửa đổi danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện), Thủ tướng thống nhất với đề nghị của Bộ Tài chính về việc xây dựng dự án luật theo trình tự, thủ tục rút gọn. Đồng thời, yêu cầu khẩn trương nghiên cứu, quán triệt Nghị quyết số 10 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài để thể chế hóa vào luật Đầu tư.
Với sửa đổi luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, luật Phòng, chống rửa tiền và luật Các tổ chức tín dụng, Thủ tướng cũng đề nghị Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính nghiên cứu kỹ các quy định liên quan để thúc đẩy phát triển thị trường vốn, thị trường chứng khoán, thị trường trái phiếu doanh nghiệp; tạo hành lang thuận lợi cho doanh nghiệp phát hành trái phiếu gắn với tăng cường kiểm soát rủi ro.
Đối với luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật có liên quan đến thủ tục hành chính, điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, Thủ tướng yêu cầu tiếp tục rà soát các quy định để bảo đảm đẩy mạnh chuyển đổi phương thức quản lý từ "tiền kiểm" sang "hậu kiểm" trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ NN-MT.
Thủ tướng nhấn mạnh, khắc phục triệt để những khó khăn, vướng mắc, tuyệt đối không phát sinh các thủ tục mới, đặc biệt không để tình trạng cắt giảm, bãi bỏ thủ tục, điều kiện kinh doanh nhưng lại lồng ghép vào tiêu chuẩn, quy chuẩn. Đồng thời, cần hết sức quan tâm các vấn đề liên quan quản lý mã số, xuất xứ, công tác kiểm định, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú y, đánh giá tác động và bảo vệ môi trường…
Người đứng đầu Chính phủ lưu ý, rà soát không đưa quy định về ưu đãi thuế, các nội dung mang tính chất định lượng, quá cụ thể vào luật, gây khó khăn cho thực thi pháp luật sau này.
Đối với việc ban hành văn bản quy định chi tiết thi hành, Thủ tướng đề nghị quán triệt nguyên tắc: hạn chế việc ban hành quá nhiều văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành; mỗi chủ thể chỉ ban hành một văn bản để quy định chi tiết các nội dung được giao.
Vừa qua, Thủ tướng Chính phủ cũng đã có văn bản chấn chỉnh tình trạng chậm ban hành quy định chi tiết thi hành. Thủ tướng yêu cầu Bộ trưởng Bộ Tư pháp và lãnh đạo các bộ, ngành chỉ đạo hoàn thiện, trình Chính phủ ban hành ngay 15 văn bản quy định chi tiết các luật, nghị quyết đã có hiệu lực và 45 nghị định quy định chi tiết các luật, nghị quyết có hiệu lực từ ngày 1.7.
Hội thảo khoa học quốc gia "Chiến lược công tác tư tưởng của Đảng trong bối cảnh chuyển đổi số" do Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hội đồng Lý luận Trung ương phối hợp tổ chức đã diễn ra chiều 5.5, tại Hà Nội.
Tại hội thảo, dự thảo Đề án "Chiến lược công tác tư tưởng của Đảng trong bối cảnh chuyển đổi số" đã đưa ra nhiều mục tiêu cụ thể đến năm 2030.
Theo đó, toàn bộ cấp ủy, tổ chức đảng từ Trung ương đến cơ sở ban hành kế hoạch công tác tư tưởng số gắn với nhiệm vụ chính trị; đưa nội dung này vào chương trình công tác hằng năm và thực hiện kiểm tra, đánh giá định kỳ.
Đồng thời, hoàn thành cơ bản hệ sinh thái công tác tư tưởng số thống nhất toàn Đảng; 100% cơ quan tham mưu công tác tư tưởng cấp Trung ương, cấp tỉnh sử dụng nền tảng số dùng chung.
Cùng đó, hình thành Trung tâm điều hành thông tin tư tưởng cấp Trung ương trước năm 2028, cấp tỉnh trước năm 2030 trên nguyên tắc kế thừa, kết nối, không trùng lặp hạ tầng; hoàn thành kho dữ liệu số quốc gia về lý luận chính trị, văn kiện Đảng, lịch sử Đảng, tư tưởng Hồ Chí Minh trước năm 2030.
Làm chủ tối thiểu 5 nền tảng, công cụ AI "Make in Vietnam" phục vụ công tác tư tưởng.
Dự thảo đề án cũng hướng tới chuyển hóa toàn bộ chủ trương lớn, nghị quyết lớn, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước thành gói truyền thông tư tưởng số đồng bộ.
Bảo đảm tỷ lệ thông tin tích cực, chính thống trên các nền tảng được giám sát đạt tối thiểu 70%; phát triển ít nhất 30 sản phẩm truyền thông số chiến lược có khả năng cạnh tranh trên các nền tảng xuyên biên giới.
Đáng chú ý, dự thảo đề án cũng đưa ra mục tiêu xây dựng mạng lưới ít nhất 1.000 "người ảnh hưởng tích cực" (KOL chính thống).
Cạnh đó, thời gian phản ứng với thông tin xấu, độc nghiêm trọng được phân tầng: dưới 2 giờ đối với hệ thống tuyên giáo và dân vận; dưới 6 giờ đối với hệ thống báo chí chính thống; dưới 24 giờ đối với việc gỡ bỏ nội dung vi phạm trên các nền tảng xuyên biên giới.
Tỷ lệ vụ việc thông tin xấu, độc được phát hiện sớm và xử lý kịp thời đạt trên 90%; mức độ lan tỏa trung bình của các nội dung xấu, độc giảm tối thiểu 30% so với năm 2025.
Song song đó, dự thảo đề án đặt mục tiêu đến năm 2030, phát triển ít nhất 10 kênh truyền thông số đối ngoại bằng đa ngôn ngữ; tham gia tích cực các diễn đàn đa phương về quản trị không gian mạng, AI, dữ liệu.
Phấn đấu vào top 45 thế giới và top 4 ASEAN về chỉ số sức mạnh mềm; đồng bộ với mục tiêu đưa Việt Nam vào nhóm 3 ASEAN và nhóm 50 thế giới về Chính phủ điện tử.
Tầm nhìn đến năm 2045, công tác tư tưởng của Đảng đạt trình độ hiện đại, thông minh, có năng lực dự báo sớm, tương tác sâu, định hướng hiệu quả; dựa trên dữ liệu lớn và AI có kiểm soát; làm chủ không gian tư tưởng số quốc gia.
Tại hội thảo, các đại biểu đã tham luận, đóng góp ý kiến vào 2 nhóm vấn đề trọng tâm: cách thức, phương thức tiếp cận công tác tư tưởng trong bối cảnh chuyển đổi số; kết cấu, nội dung của dự thảo đề án.
Kết luận hội thảo, Phó trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương Đinh Thị Mai nhấn mạnh sự cần thiết phải xây dựng và ban hành Chiến lược công tác tư tưởng của Đảng trong bối cảnh chuyển đổi số.
Các ý kiến tham luận thống nhất cao với kết cấu, nội dung dự thảo đề án, đồng thời đóng góp sâu sắc vào các nội dung, từ quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp, đến lộ trình thực hiện và điều kiện bảo đảm thực hiện. Ban Biên tập sẽ cập nhật, bổ sung và hoàn thiện đề án để trình Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng vào cuối tháng 5.2026.