Phát biểu tại buổi lễ, Bí thư Khu ủy Quảng Tây Trần Cương nhấn mạnh tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước ở biên giới.
Việc Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đến dự và phát biểu tại Liên hoan nhân dân biên giới Việt Nam – Trung Quốc năm 2026 thể hiện sự quan tâm cao độ đối với việc tiếp nối tình hữu nghị truyền thống Trung – Việt, thúc đẩy nhân dân hai nước cùng viết nên chương mới của quan hệ Trung – Việt trong thế kỷ 21.
Quảng Tây, tỉnh duy nhất của Trung Quốc tiếp giáp với Việt Nam cả trên đất liền và trên biển, sẽ cùng các tỉnh biên giới Việt Nam, tiếp nối tình hữu nghị đoàn kết hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau, cùng nhau thực hiện tốt mục tiêu tổng thể “6 hơn”.
Phát biểu tại buổi lễ, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chỉ rõ Liên hoan nhân dân biên giới Việt – Trung được tổ chức tại vùng đất lưu giữ nhiều ký ức lịch sử chung của hai dân tộc. Mỗi di tích tại Quảng Tây đều là một chứng tích lịch sử, kể câu chuyện về tình đoàn kết và sự thủy chung.
Đó là di tích Cơ quan bí mật của Đảng Cộng sản Việt Nam – nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh và các chiến sĩ cách mạng đã sống và làm việc trong vòng tay chở che, yêu thương, đùm bọc của nhân dân Long Châu; là Trường Dục Tài – nơi ươm mầm, đào tạo hàng nghìn thanh niên ưu tú của Việt Nam; là Bệnh viện Nam Khê Sơn – nơi các thương bệnh binh Việt Nam được chăm sóc, điều trị trong những năm tháng đầy khốc liệt của lửa đạn…
Những địa danh ấy đã trở thành biểu tượng bất tử của tinh thần đồng cam cộng khổ, kề vai sát cánh giữa hai dân tộc.
Thay mặt Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm gửi lời biết ơn chân thành, sâu sắc tới Đảng, Nhà nước và nhân dân Trung Quốc, chính quyền và nhân dân Quảng Tây đã gìn giữ, bảo tồn những di tích liên quan đến Chủ tịch Hồ Chí Minh, cách mạng Việt Nam và những giá trị hữu nghị truyền thống giữa hai dân tộc.
Trong suốt chiều dài lịch sử, chính nhân dân là cầu nối bền bỉ, là “mạch nguồn” nuôi dưỡng và điều hòa, giúp quan hệ Việt Nam – Trung Quốc không ngừng vượt sóng vươn xa.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh việc tăng cường giao lưu nhân dân, nhất là nhân dân biên giới và giữa thế hệ trẻ hai nước có ý nghĩa cầu nối rất quan trọng để thắt chặt tình cảm hữu nghị giữa hai dân tộc, xây dựng một tương lai ngày càng tươi sáng cho quan hệ Việt – Trung.
Ông đề nghị các cơ quan, tổ chức nhân dân, địa phương hai nước tiếp tục tổ chức hiệu quả các hoạt động giao lưu đi lại giữa các tầng lớp nhân dân, theo đúng tinh thần “láng giềng càng đi lại thì càng thân thiết”.
Bên cạnh đó, tăng cường giáo dục truyền thống hữu nghị, biến các “địa chỉ đỏ” ở hai nước thành không gian văn hóa – lịch sử sống động cho thế hệ trẻ. Cùng nỗ lực đưa khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo thành động lực hạt nhân, hướng tới mục tiêu cao nhất là nâng cao chất lượng cuộc sống cho nhân dân.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm mong muốn Quảng Tây sẽ hỗ trợ các địa phương Việt Nam triển khai các dự án chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo (AI) và hạ tầng thông minh sao cho người dân biên giới được tiếp cận tiện ích hiện đại dễ dàng nhất.
Bên cạnh đó, thúc đẩy các hoạt động giao lưu, hợp tác văn hóa, lấy văn hóa làm nền tảng tinh thần, động lực phát triển nhịp cầu kết nối.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cho rằng cần đổi mới phương thức hợp tác, không chỉ dừng lại ở các lễ hội, triển lãm truyền thống, mà phải đẩy mạnh công nghiệp văn hóa, bảo tồn di sản gắn với du lịch bền vững và đào tạo nguồn nhân lực văn hóa chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu của thời đại số.
Gửi gắm niềm tin sâu sắc vào thế hệ trẻ hai nước, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm bày tỏ các bạn không chỉ là những người tiếp nối, mà chính là những chủ nhân tương lai của hai nước, tiên phong dấn thân vào những lĩnh vực mới, trọng yếu và then chốt của thời đại số.
Mong muốn tuổi trẻ hai nước sẽ cùng nhau “đồng kiến tạo tương lai”, trở thành nhịp cầu tri thức và sức sống mãnh liệt, đưa quan hệ Việt Nam – Trung Quốc vững bước tiến vào tương lai.
Theo tờ trình của UBND TP.HCM, nguyên nhân điều chỉnh tổng mức đầu tư dự án thành phần 3 (bồi thường giải phóng mặt bằng đoạn qua TP.HCM), thành phần 4 (bồi thường giải phóng mặt bằng đoạn qua TP.HCM) dự án cao tốc TP.HCM - Mộc Bài do trong quá trình triển khai, các địa phương tiếp tục rà soát, cập nhật đầy đủ các đối tượng bị ảnh hưởng và phê duyệt bổ sung phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
Theo các quyết định duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ tái định cư của UBND các xã, phường tại thời điểm năm 2025 chi phí thực tế của việc bồi thường giải phóng mặt bằng tăng so với việc tính toán sơ bộ tại thời điểm năm 2024.
Cụ thể, tổng mức đầu tư của dự án thành phần 3 được đề xuất điều chỉnh là 6.383 tỉ đồng (tăng thêm 1.113 tỉ đồng); dự án thành phần 4 được đề xuất điều chỉnh là 3.749 tỉ đồng (tăng thêm 2.245 tỉ đồng).
Cũng theo tờ trình của UBND, việc tăng tổng mức đầu tư dự án cao tốc TP.HCM - Mộc Bài là khách quan, cần thiết nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người dân có đất bị thu hồi, đồng thời tạo sự đồng thuận xã hội, góp phần đẩy nhanh tiến độ bàn giao mặt bằng phục vụ thi công dự án.
Liên quan đến tiến độ triển khai thực hiện dự án, UBND TP.HCM cũng đề nghị điều chỉnh tiến độ cho phù hợp với tình hình triển khai công tác giải phóng mặt bằng, di dời hạ tầng kỹ thuật, cũng như yêu cầu tổ chức lựa chọn nhà đầu tư theo quy định pháp luật hiện hành sau khi có sự điều chỉnh của hệ thống pháp luật về đầu tư theo phương thức đối tác công tư; hạn chế phát sinh chi phí do kéo dài thời gian thực hiện.
Dự án cao tốc TP.HCM - Mộc Bài (giai đoạn 1) có chiều dài toàn tuyến trên 51 km, trong đó đoạn qua TP.HCM khoảng 24,7 km, đoạn qua Tây Ninh dài 26,3 km, được triển khai theo hình thức đối tác công tư (PPP).
Giai đoạn 1, dự án cao tốc TP.HCM - Mộc Bài được đầu tư xây dựng 4 làn xe, tốc độ thiết kế 120 km/giờ, dự kiến mở rộng lên 6 làn xe theo quy hoạch; thời gian thực hiện dự án 2024 - 2027.
Mỗi mùa khô, khi nước mặn theo các cửa sông lấn sâu vào nội đồng, câu chuyện thiếu nước ngọt lại trở thành nỗi lo thường trực của hàng triệu người dân Đồng bằng sông Cửu Long. Có năm, nhiều hộ dân phải mua nước sinh hoạt với giá cao, nhiều vườn cây ăn trái phải cắt giảm tưới để giữ lại lượng nước ít ỏi còn sót lại.
Những đợt hạn mặn lịch sử năm 2016 và 2020 đã cho thấy chỉ cần nguồn nước ngọt bị đứt đoạn trong vài tuần cũng đủ gây thiệt hại lớn cho sản xuất và đời sống. Trong khi đó, chỉ vài tháng trước, lượng nước mưa dồi dào vẫn theo hệ thống sông ngòi đổ ra biển.
Tiến sĩ Triệu Đức Huy, Phó Tổng Giám đốc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia đánh giá, biến đổi khí hậu đang làm gia tăng các hiện tượng thời tiết cực đoan, trong khi El Nino quay trở lại sẽ khiến nguy cơ thiếu nước tại nhiều khu vực trở nên rõ rệt hơn.
Ông cho rằng bài toán đặt ra hiện nay không còn là khai thác được bao nhiêu nước mà là làm thế nào để giữ được nước khi còn có thể. "Nếu trước đây chúng ta chủ yếu tập trung khai thác thì bây giờ phải chuyển sang tư duy tích trữ và bổ sung nguồn nước. Đây là giải pháp căn cơ để tăng khả năng chống chịu trước hạn hán và bảo đảm an ninh nguồn nước", ông Huy nói.
Nhiều quốc gia đã coi bổ cập nước dưới đất là một phần trong chiến lược thích ứng với biến đổi khí hậu. Việt Nam cũng cần sớm hoàn thiện các quy chuẩn kỹ thuật, quy trình vận hành và cơ chế giám sát để công nghệ này có thể được áp dụng rộng rãi.
Biến tầng chứa nước thành "hồ dự trữ" tự nhiên
Thay vì xây thêm hồ chứa trên mặt đất, các nhà khoa học đề xuất tận dụng chính những tầng chứa nước dưới lòng đất như một kho dự trữ tự nhiên. Nước mặt sau xử lý sẽ được đưa xuống các tầng chứa nước vào mùa mưa, sau đó bơm trở lại sử dụng khi hạn hán hoặc xâm nhập mặn xảy ra.
Theo ông Phạm Bá Quyền, Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia, giải pháp này xuất phát từ nghịch lý kéo dài nhiều năm ở ĐBSCL: mùa mưa có rất nhiều nước nhưng mùa khô lại thường xuyên thiếu nước. Trong khi nguồn nước mặt bị nhiễm mặn, việc khai thác nước dưới đất ngày càng gia tăng, khiến mực nước ngầm liên tục hạ thấp và làm tăng nguy cơ sụt lún.
Ông ví lượng nước dồi dào của mùa mưa như một khoản "tiết kiệm" mà lâu nay chưa có cách lưu giữ hiệu quả. Công nghệ bổ cập nước dưới đất có kiểm soát (Managed Aquifer Recharge - MAR) chính là đưa nguồn nước này xuống các tầng chứa nước để dành cho mùa khô.
"Nước dưới đất không phải chỉ để khai thác mà còn có thể được bổ sung. Muốn khai thác bền vững thì phải trả nước trở lại cho tầng chứa nước, thậm chí lượng bổ sung phải lớn hơn lượng khai thác", ông Quyền nói.
Để kiểm chứng tính khả thi, đề tài nghiên cứu xây dựng công nghệ lưu trữ nước ngọt trong các tầng chứa nước ngầm đã được thực hiện tại Vị Thanh (Cần Thơ) từ năm 2023. Nước mặt sau xử lý đạt quy chuẩn được dẫn xuống tầng chứa nước bằng phương pháp thấm trọng lực và theo dõi liên tục về lưu lượng, mực nước cũng như chất lượng nước.
Sau ba đợt thử nghiệm, nhóm đã bổ cập 16.620 m3 nước xuống tầng chứa nước dưới đất và thu hồi được 10.440 m3, đạt hiệu quả khoảng 71%. Kết quả cho thấy việc lưu trữ nước ngọt trong các tầng chứa nước dưới đất hoàn toàn khả thi nếu lựa chọn đúng điều kiện địa chất và kiểm soát tốt chất lượng nguồn nước đầu vào.
Một kết quả khác vượt kỳ vọng của nhóm nghiên cứu là khả năng tiếp nhận nước của tầng chứa nước. Thay vì phải sử dụng áp lực lớn như dự tính ban đầu, nước có thể thấm xuống bằng trọng lực, với khả năng tiếp nhận gần 1.000 m3 mỗi giếng mỗi ngày.
"Đây là kết quả ngoài dự đoán của chúng tôi. Chỉ bằng phương pháp thấm trọng lực, tầng chứa nước vẫn có thể tiếp nhận lượng nước rất lớn", ông Quyền nói.
Hiện mô hình vận hành ở mức khoảng 170 m3/ngày do giới hạn của hệ thống xử lý nước. Theo tính toán của nhóm nghiên cứu, nếu được đầu tư đồng bộ, công suất mỗi giếng có thể đạt 730-900 m3/ngày, thậm chí gần 1.000 m3/ngày trong điều kiện thuận lợi.
Nhóm nghiên cứu cũng ước tính Đồng bằng sông Cửu Long hiện có khoảng 377 công trình cấp nước mặt tập trung. Nếu tận dụng hệ thống này để kết hợp bổ cập nước dưới đất, khu vực có thể tạo thêm nguồn nước dự trữ phục vụ khoảng sáu tháng mùa khô, đồng thời giảm áp lực khai thác nước ngầm và góp phần hạn chế sụt lún.
Tuy nhiên, theo ông Quyền, MAR không phải là giải pháp có thể áp dụng đồng loạt. Hiệu quả của công nghệ phụ thuộc vào điều kiện địa chất từng khu vực, chất lượng nguồn nước bổ cập và quá trình quan trắc, vận hành nhằm bảo đảm an toàn cho các tầng chứa nước.
Sau vụ Nguyễn Tuấn Anh, 19 tuổi, sinh viên Đại học Đại Nam, rủ bạn leo núi Tam Đảo theo kiểu ngẫu hứng, không tìm hiểu cung đường, không chuẩn bị đầy đủ phương tiện và bị lạc 37 tiếng, Công an xã Đạo Trù hôm nay nhắc lại cảnh báo được Công an tỉnh Phú Thọ phát đi từ ngày 3/4.
Theo cơ quan này, những năm gần đây, loại hình du lịch trải nghiệm, khám phá tự phát thu hút đông đảo người dân, đặc biệt là giới trẻ, nhưng tiềm ẩn nhiều nguy cơ đối với an ninh, trật tự và tính mạng người tham gia.
Xã Đạo Trù nằm dưới chân dãy núi Tam Đảo, địa hình phức tạp, bị chia cắt mạnh với nhiều khe suối, thác nước, độ dốc lớn và trơn trượt. Những yếu tố này khiến người leo núi, người đi dã ngoại (trekking) đối diện nguy cơ tai nạn như trượt ngã, lũ quét, sạt lở đất, đuối nước, nhất là vào mùa mưa hoặc thời điểm nắng nóng.
Công an tỉnh Phú Thọ cho biết từ năm 2020 đến nay, tại một số điểm như Thác Vĩnh Ninh, hồ Vĩnh Thành, hồ Đồng Mỏ đã xảy ra nhiều vụ tai nạn, chủ yếu do đuối nước và trượt ngã. Nạn nhân phần lớn là học sinh, người ngoài địa phương, thiếu hiểu biết về địa hình và điều kiện tự nhiên.
Không chỉ đối diện nguy cơ tai nạn, hoạt động du lịch tự phát còn kéo theo nhiều hệ lụy như lấn chiếm đất đai, xây dựng trái phép làm điểm dịch vụ, ô nhiễm môi trường do xả thải, thậm chí phát sinh tình trạng mất an ninh trật tự như trộm cắp, thu phí trái quy định.
Để bảo đảm an toàn cho bản thân và cộng đồng, Công an tỉnh Phú Thọ khuyến cáo người dân tuân thủ nghiêm quy định pháp luật khi tham gia du lịch; không tự ý vào khu vực nguy hiểm, khu vực cấm; không tham gia tour tự phát, không rõ đơn vị tổ chức; không tổ chức cắm trại, lưu trú khi chưa đăng ký. Người dân cần nâng cao ý thức bảo vệ môi trường, không xả rác, không đốt lửa trong rừng, tôn trọng cảnh quan tự nhiên.
Từ góc độ người trực tiếp điều hành cộng đồng trekking, bà Nguyễn Bích Ngọc, quản lý nhóm Vietnam Ultra Trail, cho rằng sai lầm phổ biến nhất của người mới là tâm lý chủ quan, không tìm hiểu kỹ cung đường và không chuẩn bị thể lực. Điều này thường rơi vào các bạn trẻ thích khám phá, thích mạo hiểm nhưng chưa lường trước rủi ro. Ngoài ra, còn có những người quá tự tin vào khả năng dẫn đến coi thường thiên nhiên.
Theo bà, điều quan trọng đầu tiên khi trekking là lựa chọn đơn vị tổ chức có cấp phép, uy tín, có kế hoạch rõ ràng. Trước mỗi chuyến đi, người mới cần chuẩn bị đầy đủ cả về thể lực, kỹ năng, trang thiết bị và tìm hiểu địa điểm đi. Về thể lực, cần dành thời gian tập luyện bằng các môn như gym, chạy bộ, yoga, nhảy dây...; học kỹ năng sinh tồn từ chính đơn vị tổ chức.
Về trang bị, bà cho biết mỗi cung đường sẽ có yêu cầu riêng, nhưng một số vật dụng cơ bản là bắt buộc như: đồ sơ cứu y tế, chăn bạc giữ nhiệt, áo mưa, dao, bật lửa và thực phẩm gọn nhẹ. Quan trọng nữa là phải thông báo lịch trình cho người thân để có thể hỗ trợ khi cần thiết.
Để tránh lạc đường, tình huống phổ biến nhất, người tham gia cần tuân thủ tuyệt đối hướng dẫn của trưởng đoàn. Không tự ý tách đoàn, không đi tắt, không đi sai hướng. Luôn đi trong đội hình giữa người dẫn đường và người chốt đoàn.
Trong trường hợp mất sức, người đi cần báo ngay cho nhóm để được hỗ trợ, đồng thời bổ sung dinh dưỡng như điện giải, gel năng lượng hoặc thanh bar. Nếu xảy ra tai nạn nhưng còn tỉnh táo, việc quan trọng nhất là giữ ấm cơ thể, sơ cứu vết thương và duy trì nước uống để chờ cứu hộ.
Đối với việc tổ chức nhóm, bà Ngọc cảnh báo các nhóm tự phát hiện nay tiềm ẩn nhiều rủi ro pháp lý và an toàn. Người mới nên tham gia các công ty có pháp lý rõ ràng, có kế hoạch cứu hộ, được chính quyền địa phương cấp phép. Trưởng đoàn cần có thể lực tốt, có kinh nghiệm leo núi, có chứng nhận sơ cấp cứu và kỹ năng xử lý tình huống, bà Ngọc tư vấn.
Trong tình huống khẩn cấp như lạc đoàn, bà Ngọc khuyến nghị không nên di chuyển vô định, hãy cố gắng quay lại điểm cuối cùng còn nhớ. Nếu không thể, tốt nhất ở yên một chỗ, chọn vị trí an toàn như dưới tán cây, gần khe suối nhỏ. Không nên đi theo suối lớn vì rất nguy hiểm khi đã mất sức.