Buổi làm việc tập trung chủ yếu ở Chương VI về nguồn lực phát triển đô thị đặc biệt. Các đại biểu (ĐB) tập trung góp ý cho điều 46 quy định quản lý sử dụng khai thác tài sản công (TSC), tài sản kết cấu hạ tầng đường bộ, đường sắt, đường không.
Cụ thể, tại điểm a khoản 1 điều 46 dự thảo quy định “Trong phạm vi quản lý của TP, UBND quy định: quản lý, sử dụng, vận hành, khai thác TSC tại đơn vị sự nghiệp (ĐVSN) công lập vào mục đích kinh doanh, cho thuê, liên doanh, liên kết hoặc phương thức khác”.
Theo ông Nguyễn Thanh Hải, Trưởng phòng Pháp chế Sở Xây dựng TP.HCM, để tránh vướng mắc cho TP, cần cân nhắc xem xét lại điểm a khoản 1 điều 46 dự thảo vì các ĐVSN đang quản lý, vận hành, sử dụng rất nhiều TSC. Ông Hải dẫn chứng, hiện nay TSC của TP là nhà đất rất lớn, có tới mấy ngàn tài sản. Trong khi đó TP gặp vướng mắc là không giao tài sản nhà đất cho ĐVSN mà chỉ giao quản lý, vận hành. “Không chỉ ĐVSN công lập mà kể cả đơn vị có chức năng kinh doanh về nhà đất như tất cả các ĐVSN công ích trước đây, công ty quản lý kinh doanh nhà của TP cũng được giao quản lý, vận hành”, ông Hải nói.
Các vấn đề liên quan đến việc các ĐVSN sử dụng không hết nhà đất thì đem cho thuê một phần thì cũng gặp vướng mắc… Về vấn đề này, đại diện Sở Tài chính TP.HCM cho rằng các tài sản tại các ĐVSN công lập hiện nay đã có nghị định quy định, còn trước đây là phải thông qua nghị quyết của HĐND để tháo gỡ vướng mắc. Cho nên, Sở Tài chính đề nghị cần giữ nguyên điểm a khoản 1 điều 46 của dự thảo.
Cũng tại buổi làm việc, ông Hoàng Huy Trường, Trưởng ban Pháp chế Cơ quan điều hành Trung tâm Tài chính quốc tế tại TP.HCM (VIFC-HCMC), đề nghị bổ sung điểm c khoản 5 điều 45 dự thảo về quản lý, sử dụng tài chính, ngân sách. Theo đó, dự thảo quy định: “HĐND TP có thẩm quyền quy định việc phát hành trái phiếu chính quyền địa phương, trái phiếu dự án, trái phiếu công trình, trái phiếu đô thị, trái phiếu xanh, vay từ các tổ chức tín dụng, ngân quỹ nhà nước”. Ông Trường đề nghị ngoài quy định này thì cần bổ sung thêm về “chủ trương, hạn mức, phương án, loại tiền, thị trường, sản phẩm và mục đích huy động vốn tại VIFC-HCMC”.
Ngoài ra, ông Trường còn đề nghị gom các điều 69, 70, 71, 72, 73 Chương IX Trung tâm Tài chính quốc tế thành một điều. Theo đó, sửa các điều này thành điều 69 quy định về Trung tâm Tài chính quốc tế VN tại đô thị đặc biệt. Cụ thể, trong địa giới hành chính của đô thị đặc biệt, UBND TP được quyết định điều chỉnh vị trí, mở rộng địa giới hành chính, diện tích, bổ sung khu vực vào ranh giới VIFC-HCMC.
Cơ quan điều hành tại TP được thành lập, tham gia góp vốn vào doanh nghiệp (DN); được UBND TP giao làm cơ quan đại diện chủ sở hữu đối với phần vốn nhà nước tại DN do UBND TP nắm giữ vốn điều lệ. Thành viên cung cấp dịch vụ tài chính, ngân hàng được cung cấp sản phẩm, dịch vụ cho tổ chức, cá nhân trong nước, người không cư trú ngoài ranh giới địa lý của VIFC-HCMC trong phạm vi như: cung cấp dịch vụ cho Chính phủ (hoặc tổ chức được Chính phủ giao), chính quyền địa phương (hoặc tổ chức được chính quyền địa phương giao), DN, tổ chức tín dụng…
Về các vấn đề trên, bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh, Giám đốc Sở Tư pháp TP.HCM, cho biết sẽ ghi nhận những góp ý của các ĐB để dự thảo được hoàn thiện.
Phát biểu trước Quốc hội ngày 21/4, Phó thủ tướng Nguyễn Văn Thắng cho biết công tác quản lý an toàn thực phẩm hiện do nhiều bộ, ngành cùng phụ trách nên vừa chồng chéo trách nhiệm, vừa tồn tại khoảng trống trong kiểm soát. Vì vậy, Chính phủ đang xây dựng đề án thành lập cơ quan quản lý thống nhất nhằm tập trung đầu mối, khắc phục tình trạng phân tán, nâng cao hiệu quả quản lý, kiểm tra và xử lý vi phạm.
Theo Luật An toàn thực phẩm 2010, trách nhiệm quản lý nhà nước được phân công cho 3 bộ chính theo từng nhóm sản phẩm và công đoạn. Bộ Y tế quản lý thực phẩm chức năng, phụ gia, nước uống đóng chai và bếp ăn tập thể như trường học, bệnh viện. Bộ Nông nghiệp và Môi trường phụ trách thực phẩm tươi sống, toàn bộ khâu trồng trọt, chăn nuôi, giết mổ, sơ chế ban đầu, đồng thời kiểm soát dịch bệnh, kiểm dịch và điều kiện vệ sinh thú y. Bộ Công Thương quản lý khâu chế biến công nghiệp, lưu thông và phân phối thực phẩm trên thị trường.
Các quy định tiếp tục được cụ thể hóa tại nghị định và văn bản hướng dẫn theo hướng chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm, tăng trách nhiệm của doanh nghiệp. Ở địa phương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và cấp xã cùng các cơ quan chuyên ngành, lực lượng thanh tra trực tiếp tổ chức thực thi.
Theo chuỗi vận động của thực phẩm, hệ thống quản lý được phân tách theo từng công đoạn. Ở khâu chăn nuôi, ngành nông nghiệp kiểm soát dịch bệnh, cấp giấy kiểm dịch và giám sát điều kiện vệ sinh. Sang khâu giết mổ, trách nhiệm thuộc cơ quan thú y và chính quyền địa phương. Đến khâu chế biến công nghiệp, trách nhiệm chuyển sang ngành công thương, doanh nghiệp phải bảo đảm nguyên liệu đầu vào có nguồn gốc rõ ràng. Ở khâu phân phối, lực lượng quản lý thị trường và chính quyền địa phương kiểm tra hàng hóa lưu thông.
Tại bếp ăn tập thể, đặc biệt trong trường học, ngành y tế là cơ quan quản lý chính, người đứng đầu đơn vị phải chịu trách nhiệm toàn bộ từ lựa chọn nhà cung cấp đến quy trình chế biến.
Trong một tình huống cụ thể như thịt lợn nhiễm dịch xuất hiện trong bếp ăn trường học, trách nhiệm được xác định theo toàn bộ chuỗi. Cơ sở chăn nuôi vi phạm có thể bị xử lý hình sự, cơ quan thú y chịu trách nhiệm nếu để lọt khâu kiểm dịch, cơ sở giết mổ vi phạm khi xử lý động vật không đủ điều kiện. Đơn vị cung cấp thực phẩm phải kiểm soát nguồn gốc, trong khi nhà trường chịu trách nhiệm kiểm tra đầu vào. Các cơ quan quản lý địa phương cũng phải xem xét trách nhiệm thanh tra, giám sát.
Đại biểu Phạm Khánh Phong Lan, Giám đốc Sở An toàn thực phẩm TP HCM, cho biết khó khăn lớn hiện nay nằm ở công tác thanh kiểm tra. Việc bỏ thanh tra chuyên ngành, chuyển sang kiểm tra thông thường khiến việc phát hiện, xử lý thực phẩm bẩn gặp nhiều hạn chế, trong khi quy trình kiểm tra còn nặng tính hình thức.
Bà Lan cho rằng việc kiểm tra chủ yếu theo kế hoạch được phê duyệt trước khiến khả năng phát hiện vi phạm thấp. "Khi được duyệt xong, lại phải gửi thông báo cho doanh nghiệp trước khi kiểm tra thì hiệu quả không cao", bà nói.
Bên cạnh đó, lực lượng chức năng thường chỉ được kiểm tra các cơ sở do mình cấp phép, trong khi những cá nhân, tổ chức vi phạm hoạt động lén lút, ngoài phạm vi quản lý hoặc buôn bán trôi nổi. Nhiều vụ việc phải có sự tham gia của lực lượng công an mới xử lý được.
Hiện ngoài TP HCM đã tổ chức mô hình Sở An toàn thực phẩm theo hướng một đầu mối, các địa phương khác vẫn duy trì quản lý phân tán giữa 3 ngành. Theo bà Lan, điều này dẫn đến tình trạng khi có kết quả thì nhiều đơn vị cùng nhận, nhưng khi xảy ra sự cố lại khó xác định trách nhiệm.
Bà cũng cho biết quy trình xử phạt hành chính còn phức tạp, mất nhiều thời gian từ lập biên bản đến ban hành quyết định, doanh nghiệp có thể khiếu nại kéo dài, gây khó khăn cho cơ quan quản lý. Thực trạng sản xuất, kinh doanh nhỏ lẻ phổ biến khiến việc kiểm soát an toàn thực phẩm càng khó khăn hơn.
Để khắc phục, bà Phạm Khánh Phong Lan đề nghị thực hiện nghiêm Chỉ thị 17 của Trung ương, trong đó tập trung thống nhất đầu mối quản lý và tăng cường hậu kiểm. Tuy nhiên, rào cản lớn nhất hiện nay là hành lang pháp lý. Bộ Y tế đang xây dựng dự án Luật An toàn thực phẩm sửa đổi, dự kiến trình Quốc hội vào kỳ họp tháng 10. Khi luật được ban hành, các nghị định và thông tư mới có thể hoàn thiện đồng bộ, thay thế các quy định chồng chéo hiện nay.
Bộ Tư pháp cho biết đã tiếp thu, giải trình ý kiến đại biểu Quốc hội về dự án sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, dự kiến được thông qua trong đợt hai kỳ họp từ 20-23/4. Một trong những nội dung đáng chú ý là thu hẹp phạm vi các giao dịch bắt buộc công chứng nhằm tạo thuận lợi cho người dân.
Các giao dịch gồm: văn bản ủy quyền của người có tên trong hợp đồng thuê nhà ở đã xuất cảnh cho người khác đứng tên mua nhà ở thuộc tài sản công; hợp đồng chuyển nhượng hợp đồng kinh doanh bất động sản; văn bản thỏa thuận của các thành viên có chung quyền sử dụng đất khi góp vốn vào doanh nghiệp; văn bản ủy quyền giải quyết thi hành án liên quan đến tài sản khi người phải thi hành án xuất cảnh; văn bản ủy quyền thực hiện quyền khiếu nại; hợp đồng chuyển nhượng Văn phòng Thừa phát lại.
Bộ Tư pháp lý giải việc cắt giảm các giao dịch phải công chứng nhằm giảm chi phí tuân thủ pháp luật, đồng thời khuyến khích người dân chủ động lựa chọn công chứng khi cần thiết.
Tuy nhiên trong quá trình thảo luận, một số đại biểu cho rằng dự thảo chưa làm rõ tiêu chí xác định giao dịch bắt buộc công chứng, đồng thời chỉ ra tình trạng cùng một nội dung giao dịch nhưng được quy định ở nhiều luật khác nhau, gây khó khăn khi thực hiện.
Giải trình nội dung này, Bộ Tư pháp cho biết việc cắt giảm các giao dịch bắt buộc công chứng góp phần đơn giản hóa thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp, qua đó hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội.
Theo cơ quan soạn thảo, giao dịch thuộc diện phải công chứng là những trường hợp đòi hỏi điều kiện tham gia chặt chẽ. Chủ thể tham gia phải có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp và hoàn toàn tự nguyện.
Với từng loại giao dịch, các điều kiện cụ thể cũng được đặt ra. Ví dụ, chuyển nhượng đất trồng lúa phải bảo đảm đúng quy định, không vượt hạn mức nếu không có phương án được phê duyệt; tổ chức kinh tế phải có phương án sử dụng đất được chấp thuận. Tài sản, quyền và nội dung giao dịch phải hợp pháp, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
Dự thảo cũng nêu rõ nguyên tắc tránh chồng chéo với các luật khác. Theo đó, Luật Công chứng chỉ quy định nguyên tắc chung, còn các giao dịch cụ thể phải công chứng sẽ do các luật chuyên ngành như Luật Đất đai, Luật Nhà ở quy định, nhằm hạn chế việc mở rộng tràn lan các giao dịch bắt buộc công chứng.
Ngày 29-4, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam TP Đà Nẵng đã tổ chức Hội nghị phản biện đề án thành lập Trung tâm phục vụ hành chính công TP Đà Nẵng (1 cấp).
Đề án theo mô hình "1 cấp" này nhằm khắc phục các tình trạng hạn chế của mô hình "2 cấp". Đồng thời giúp giảm biên chế, tập trung nguồn lực cho cấp xã thực hiện các nhiệm vụ khác.
Theo báo cáo của 46 xã, phường hiện nay tại 46 trung tâm phục vụ hành chính xã, phường có 533 công chức, viên chức, nhân viên chuyên trách thực hiện nhiệm vụ. Khi tổ chức "1 cấp" sẽ tạm thời điều chuyển 138 biên chế của 46 xã, phường (tương ứng 3 biên chế/xã, phường) để bố trí sắp xếp tại các chi nhánh.
Như vậy sẽ để lại 295 công chức, viên chức cho 46 xã, phường bố trí về các phòng ban chuyên môn để tập trung thực hiện các nhiệm vụ khác của địa phương (tương ứng mỗi xã, phường hơn 6 biên chế).
Ngoài ra nội dung đề án cũng cho rằng mô hình này có những ưu điểm như có thể tăng các điểm cung cấp dịch vụ, tiếp nhận hồ sơ, phục vụ người dân, doanh nghiệp, cung cấp dịch vụ công bằng, đồng bộ giữa đô thị, đồng bằng cũng như miền núi.
Cũng theo nội dung dự thảo, lộ trình thực hiện mô hình "1 cấp" này sẽ triển khai trong 2 giai đoạn. Trong đó giai đoạn 1 thực hiện trong 1 năm, tiếp nhận tại 46 phường, xã khu vực phía đông có mức độ đô thị hóa cao, hồ sơ nhiều.
Giai đoạn 2 thực hiện ở 47 xã chủ yếu ở miền núi, vùng khó khăn phía tây.
Tham luận tại hội thảo phản biện, hầu hết các ý kiến từ cấp xã, phường đều kỳ vọng về mô hình này. Tuy nhiên các ý kiến bày tỏ các vấn đề phát sinh từ thực tiễn khi cấp quản lý trực tiếp (thành phố) ở xa chi nhánh.
Nhiều ý kiến cũng cho rằng mô hình này cần tiếp tục được nghiên cứu, phân tích toàn diện hơn. Đặc biệt là đánh giá tác động chính sách, hiệu quả so sánh giữa các mô hình, cũng như khả năng đáp ứng về hạ tầng công nghệ, nguồn nhân lực và cơ chế phối hợp…
Ông Trần Quyết Thắng (Phân viện Học viện Hành chính quốc gia khu vực miền Trung) cho rằng cần làm rõ về "khoảng trống trách nhiệm" giữa chi nhánh và UBND cấp xã của mô hình này.
Theo đó khi chi nhánh tiếp nhận hồ sơ tại địa bàn nhưng trực thuộc thành phố, trong khi chủ tịch UBND cấp xã vẫn là người ký quyết định giải quyết phần lớn hồ sơ thuộc thẩm quyền cấp xã, thì trách nhiệm hành chính sẽ bị phân tán.
"Chủ tịch xã không còn quyền quản lý trực tiếp "đầu vào" từ khâu tiếp nhận, hướng dẫn, số hóa nhưng vẫn phải chịu trách nhiệm về "đầu ra" là kết quả, tiến độ.
Ngược lại, chi nhánh quản lý "đầu vào" nhưng không có thẩm quyền ký quyết định giải quyết. Mâu thuẫn này sẽ khiến cả hai bên dễ đùn đẩy khi xảy ra chậm trễ, hoặc khi người dân khiếu nại, phản ánh" - ông Thắng phân tích.
Cùng quan điểm, bà Nguyễn Thị Linh Giang (Học viện Chính trị khu vực III) cho rằng việc thí điểm giai đoạn thực hiện cần bổ sung đơn vị cấp xã vùng khó khăn vào giai đoạn 1 để kiểm chứng năng lực vận hành hạ tầng số và quy trình hỗ trợ người dân yếu thế.
Đồng thời đánh giá hết các vấn đề tại các khu vực đặc thù như miền núi, vùng sâu, vùng khó khăn…
Bà Giang cho rằng cần ban hành quy định rõ ràng về trách nhiệm phối hợp giữa chi nhánh và UBND xã để tránh "khoảng trống trách nhiệm" khi hồ sơ trễ hạn.
Tại hội nghị phản biện này, nhiều ý kiến cho rằng cần đánh giá những hiệu quả, hạn chế của mô hình "2 cấp" hiện nay trong bối cảnh mới sắp xếp lại bộ máy hành chính địa phương.
Đồng thời định lượng rõ ràng hiệu quả, có giải pháp phù hợp để mô hình "1 cấp" mang đến hiệu quả vượt trội so với mô hình cũ trước khi triển khai.