Trong đó, dự án Cảng trung chuyển quốc tế Cần Giờ có quy mô lớn nhất với diện tích khoảng 571 ha, tổng vốn gần 129.000 tỉ đồng (tương đương 4,99 tỉ USD), công suất thiết kế 21 triệu TEU/năm.
Dự án đã được Thủ tướng chấp thuận chủ trương từ năm 2025, song vẫn đang trong quá trình thẩm định lựa chọn nhà đầu tư và chưa hoàn tất các thủ tục liên quan. Do đó, sự kiện “Lễ khởi động và công bố đối tác chiến lược” chỉ có thể tổ chức sau khi được chấp thuận chính thức.
Theo Sở Xây dựng, hiện nay, liên danh Tổng công ty Hàng hải Việt Nam – Công ty CP Cảng Sài Gòn và Terminal Investment Limited Holding S.A đã chính thức nộp hồ sơ đăng ký thực hiện dự án. Trong đó, Terminal Investment Limited Holding S.A là công ty thành viên của MSC – hãng tàu container lớn nhất thế giới đã theo sát dự án ngay từ những ngày đầu đề xuất.
Hiện tại, hồ sơ của liên danh nhà đầu tư đang được Sở Tài chính thẩm định sát sao. Để đảm bảo đúng kế hoạch đề ra, Sở Xây dựng kiến nghị UBND TP chỉ đạo Sở Tài chính sớm hoàn tất công tác thẩm định và trình phê duyệt kết quả lựa chọn nhà đầu tư.
Nếu mọi thủ tục hoàn tất đúng hạn, lễ khởi động và công bố đối tác chiến lược cho siêu cảng Cần Giờ sẽ được tổ chức vào 30.4 tại khu vực cảng Nhà Rồng – Khánh Hội.
Trong khi đó, dự án Cảng tổng hợp và container Cái Mép Hạ (giai đoạn 1) có quy mô 351,2 ha, tổng vốn đầu tư khoảng 50.200 tỉ đồng, công suất thiết kế 11 triệu TEU/năm đã được chấp thuận chủ trương đầu tư nhưng đến nay vẫn chưa hoàn tất các thủ tục quan trọng về đất đai, môi trường, xây dựng. Hồ sơ báo cáo nghiên cứu khả thi cũng chưa đủ điều kiện thẩm định.
Sở Xây dựng nhận định, với khối lượng công việc còn lớn, việc khởi công toàn bộ dự án trước 30.4 là chưa đảm bảo cơ sở pháp lý. Trường hợp thuận lợi, chủ đầu tư chỉ có thể triển khai một số hạng mục chuẩn bị mặt bằng nếu đáp ứng điều kiện. Sở kiến nghị UBND TP.HCM chỉ đạo các sở, ngành phối hợp tháo gỡ thủ tục, đặc biệt về đất đai, môi trường và quy hoạch; từ đó có chủ trương phù hợp.
Trong số 3 dự án nói trên, chỉ có dự án Cảng Cái Mép Gemadept – Terminal Link (giai đoạn 2), tổng vốn đầu tư khoảng 8.361 tỉ đồng đang có nhiều điều kiện thuận lợi để động thổ đúng dịp lễ. Chủ đầu tư dự án là liên danh Tập đoàn Geleximco, Công ty cổ phần Vận tải và Thương mại Quốc tế (ITC) và Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC).
Dự án này hiện đã cơ bản hoàn tất thủ tục đất đai và được thỏa thuận thông số kỹ thuật, đang trong quá trình thẩm định báo cáo nghiên cứu khả thi. Sở Xây dựng thống nhất đề xuất tổ chức lễ động thổ vào ngày 17.4 do địa điểm nằm trong khu đất đã được giao, đồng thời đề xuất UBND TP sớm phê duyệt phương án này.

Mới đây, Bộ Tài chính cho biết đã rà soát, dự kiến 34 chỉ tiêu của địa phương trong giai đoạn 2026 - 2030 và năm 2026. Trước mắt, Bộ sẽ trình Chính phủ giao các chỉ tiêu đã rõ về phương pháp xác định, hầu hết các địa phương đã dự kiến tính toán, bao gồm 27 chỉ tiêu giai đoạn 2026 - 2030 và 25 chỉ tiêu năm 2026. Một số chỉ tiêu có thể giao ngay như tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân/năm, tăng trưởng khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, khu vực công nghiệp và xây dựng, dịch vụ; tốc độ tăng chỉ số sản xuất công nghiệp; tăng trưởng tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng; tăng trưởng giá trị kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu, tổng vốn đầu tư toàn xã hội trên địa bàn; tốc độ tăng năng suất lao động bình quân/năm; số doanh nghiệp (DN) hoạt động trên địa bàn đến năm 2030, giảm tỷ lệ hộ nghèo, chỉ số phát triển con người (HDI)…
Chỉ nói riêng về chỉ tiêu tăng trưởng GRDP năm 2026, một số đầu tàu kinh tế đã được xác định cụ thể. Trong đó, Hải Phòng được giao tăng trưởng ở mức cao nhất với 13 - 13,5% và bình quân giai đoạn 2026 - 2030 là 13 - 14%; Hà Nội được giao mục tiêu GRDP 2026 là 10 - 10,5% và mức 10,5 - 11% cho cả giai đoạn; TP.HCM được giao 10% cho năm 2026 và cả giai đoạn; Bắc Ninh lần lượt giao chỉ tiêu là 12,5 - 13% và 10%; Quảng Ninh là 13% và 11 - 12%; Khánh Hòa là 10,8% và 11 - 12%; Đà Nẵng trên 11%... Một số địa phương được giao mục tiêu tăng trưởng thấp dưới mức hai con số có Gia Lai, Sơn La, Đồng Tháp, Cà Mau…
Trên căn cứ chỉ tiêu tăng trưởng GRDP mà Quốc hội đã "chốt", các địa phương cũng đang tăng tốc thực hiện. Thậm chí, một số tỉnh đã đề ra mục tiêu phấn đấu cao hơn như Gia Lai đưa ra chỉ tiêu từ nay đến năm 2030 phải đạt mức tăng trưởng khoảng 10,5 - 11%/năm. Để hiện thực hóa mục tiêu này, tỉnh giao chỉ tiêu cụ thể đến 135 xã, phường, xác định rõ nhiệm vụ trọng tâm theo hướng "cầm tay chỉ việc", gắn với từng lĩnh vực phát triển, từ lựa chọn cây trồng, vật nuôi đến xây dựng các dự án phù hợp với điều kiện từng địa phương. Hay mới đây, UBND TP.HCM cũng giao Sở Tài chính chủ trì, phối hợp với các đơn vị, địa phương để rà soát, đề xuất nội dung kế hoạch tổng thể triển khai của Thành ủy về thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đạt mục tiêu 2 con số giai đoạn 2026 - 2030. Từ đó, TP.HCM phải hoàn thành việc cụ thể hóa mục tiêu tăng trưởng cho từng ngành, lĩnh vực, địa phương trong quý 2/2026 và thiết lập hệ thống chỉ tiêu điều hành theo tháng, quý…
PGS-TS Trần Hoàng Ngân, đại biểu Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng tư vấn đột phá phát triển Trường ĐH Sài Gòn, nhận định: để đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số của cả nước trong năm nay đòi hỏi phải có sự đồng bộ thống nhất và hành động quyết liệt của tất cả bộ, ngành, địa phương. Vì vậy việc giao chỉ tiêu tăng trưởng cho từng địa phương là tất yếu. Điều này cũng là cần thiết trong bối cảnh cải cách thể chế và trao quyền tự chủ cho địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm. Từ đó cũng thể hiện sự thống nhất, ý chí quyết tâm trong toàn bộ hệ thống chính trị để thực hiện được mục tiêu tăng trưởng kinh tế của VN nói chung. Bản thân mỗi địa phương sẽ có động lực phát triển sau khi có chỉ tiêu và cam kết thực hiện cần có cách làm mang tính đổi mới sáng tạo. Tùy theo điều kiện cụ thể mà mỗi tỉnh, thành phố sẽ phân công nhiệm vụ đến từng sở, ngành, xã để thực hiện nhằm đảm bảo mục tiêu tăng trưởng cụ thể đó.
Thực tế, đây không phải năm đầu tiên Chính phủ giao chỉ tiêu (KPI) cụ thể cho từng địa phương. Đầu năm 2025, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết giao chỉ tiêu tăng trưởng cụ thể cho 12 ngành, lĩnh vực và toàn bộ 63 tỉnh, thành phố thay vì chỉ đưa ra một con số tổng thể cho cả nước như trước đây. Mục tiêu cốt lõi là thúc đẩy tăng trưởng GDP cả nước năm 2025 đạt từ 8% trở lên, tạo bệ phóng hướng tới tăng trưởng 2 con số cho giai đoạn 2026 - 2030. Dựa vào nhóm động lực, có tới 16 - 18 tỉnh, thành được giao chỉ tiêu tăng trưởng cực kỳ áp lực, trên 10%. Ngay sau khi nhận trọng trách từ Chính phủ, các địa phương đều đã đồng loạt khẩn trương xây dựng kịch bản tăng trưởng theo từng tháng, từng quý.
TS Trần Việt Anh, Phó hiệu trưởng phụ trách Trường ĐH Hùng Vương TP.HCM, nhìn nhận việc Chính phủ giao chỉ tiêu tăng trưởng cụ thể cho từng địa phương là một thay đổi rất đáng chú ý trong tư duy điều hành kinh tế. Đây không chỉ là giao một con số, mà là giao trách nhiệm phát triển. Trước đây, mục tiêu tăng trưởng thường được nhìn như mục tiêu chung của cả nước, song khi từng địa phương có chỉ tiêu riêng, trách nhiệm trở nên rõ ràng hơn. Địa phương nào phải tăng bao nhiêu, dựa vào ngành nào, dự án nào, nguồn lực nào…, tất cả đều phải được lượng hóa. Với các đầu tàu như TP.HCM, Hà Nội hay Đà Nẵng, cách làm này tạo ra một cú hích rất lớn. Đây là những trung tâm có đầy đủ điều kiện để kéo tăng trưởng, từ dân số, DN, hạ tầng, dịch vụ, công nghiệp cho tới tài chính và đổi mới sáng tạo. Khi được giao mục tiêu cụ thể, các đô thị này buộc phải "bung" hết năng lực, không thể vận hành theo quán tính cũ.
Trước đó, khi làm việc với lãnh đạo TP.HCM, TP.Đồng Nai và tỉnh Tây Ninh, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội Phan Văn Mãi cũng đã đưa ra một nhận định rất đáng chú ý về vai trò của các cực tăng trưởng. Theo ông, TP.HCM, Đồng Nai và Tây Ninh đều nằm trong top 10 đóng góp GRDP cả nước. Nếu cả ba đều đạt tăng trưởng trên 10% thì không chỉ đóng góp khoảng 30% mà có thể trên 30% tăng trưởng quốc gia. Thậm chí, khả năng hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số của cả nước có thể đạt khoảng 40% nếu ba địa phương này hoàn thành mục tiêu đề ra.
TS Trần Việt Anh đánh giá điều này phản ánh rất rõ chiến lược mới của Chính phủ: thay vì tăng trưởng dàn đều, sẽ hình thành các "cực tăng trưởng" đủ mạnh để kéo toàn bộ nền kinh tế đi lên. Về phía địa phương, khi nhận trọng trách, toàn bộ bộ máy điều hành cũng sẽ bị đặt dưới áp lực thay đổi: phải giải ngân nhanh hơn, tháo gỡ dự án mạnh hơn, cải cách thủ tục quyết liệt hơn và chủ động thu hút nguồn lực xã hội tốt hơn. Nói cách khác, tăng trưởng không còn là khẩu hiệu, mà trở thành KPI điều hành cụ thể của từng địa phương. Đây là điều VN đang rất cần trong giai đoạn bước vào mục tiêu tăng trưởng cao của kỷ nguyên mới.
Ông Trần Việt Anh nhấn mạnh: đợt giao chỉ tiêu năm 2025 là bước đi cực kỳ đột phá, lần đầu tiên được áp dụng trong lịch sử quản lý kinh tế ở nước ta. Tuy nhiên, năm nay bối cảnh đã khác rất nhiều sau quá trình sáp nhập tỉnh, thành và tái cấu trúc không gian phát triển. Các địa phương giờ đây không còn vận hành theo tư duy hành chính cục bộ, mà buộc phải phát triển theo mô hình liên kết vùng, phân vai các cực tăng trưởng và khai thác lợi thế tổng hợp.
TP.HCM là điển hình. Có giai đoạn thành phố bị đánh giá là tăng trưởng chậm, thậm chí chưa tương xứng với vai trò đầu tàu, do nhiều điểm nghẽn như hạ tầng quá tải, thủ tục kéo dài, dự án treo, giải ngân đầu tư công chậm, nguồn lực đất đai bị ách tắc… Song từ nửa cuối năm ngoái đến nay, cục diện đã thay đổi khá rõ. Hàng loạt dự án được tháo gỡ, hạ tầng tăng tốc, dòng vốn tư nhân quay trở lại, nhiều công trình lớn được khởi động, không gian phát triển được mở rộng mạnh mẽ. Đặc biệt, sau khi sáp nhập thêm Bình Dương và Bà Rịa-Vũng Tàu, TP.HCM hiện không còn chỉ là trung tâm tài chính - dịch vụ, mà đang hình thành một "siêu cực tăng trưởng" tích hợp gồm công nghiệp, logistics, cảng biển, kinh tế biển, hàng không, đổi mới sáng tạo và dịch vụ tài chính.
Đây cũng là lý do vì sao Chính phủ đặt kỳ vọng rất lớn vào TP.HCM trong mục tiêu tăng trưởng hai con số của cả nước. Trong bối cảnh mới như vậy, việc giao KPI không thể chỉ tập trung vào tăng trưởng số lượng, mang hàm ý cộng gộp tăng trưởng của các địa phương sau sáp nhập, mà phải chuyển sang tăng trưởng chất lượng.
Theo PGS-TS Trần Hoàng Ngân, việc phân giao chỉ tiêu tăng trưởng đã được đánh giá, nghiên cứu kỹ dựa trên lịch sử phát triển, tiềm năng của mỗi địa phương. Tỉnh thành có thế mạnh về ngành nghề nào sẽ thúc đẩy phát triển lĩnh vực đó. Tuy nhiên Chính phủ cũng sẽ xem xét điều chỉnh phù hợp, đi kèm với đó sẽ là bài toán phân bổ nguồn vốn đầu tư công, đánh giá được hiệu quả hấp thụ vốn của nền kinh tế cụ thể. Nhìn rộng hơn, việc giao chỉ tiêu tăng trưởng này cũng là một "bài toán" đánh giá năng lực cán bộ của các tỉnh, thành phố sau khi thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính. Bởi kết quả thực hiện thể hiện qua một số chỉ tiêu sẽ có thể cho thấy địa phương nào tăng trưởng chậm là do vướng mắc ở đâu, do năng lực cán bộ điều hành còn yếu, chưa phù hợp hay do chính sách phát triển chưa phù hợp... Trên cơ sở đó đánh giá, điều chỉnh phù hợp để phân bổ và điều chuyển vốn đầu tư công kịp thời.
Đồng thời, để đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao của cả nước, ông Trần Hoàng Ngân nhấn mạnh Chính phủ phải thúc đẩy thực hiện các chính sách mang tính dài hạn đã được Quốc hội thông qua. Trong đó tiếp tục tập trung rà soát lại toàn bộ chính sách, hoàn thiện thể chế để tháo gỡ mọi khó khăn, ách tắc cũng như những rào cản trong môi trường kinh doanh, đảm bảo mọi thành phần kinh tế đều thực sự được hoạt động bình đẳng, tự do kinh doanh. Đối với những giải pháp ngắn hạn cũng cần thực hiện nhanh, quyết liệt. Chẳng hạn, Nghị quyết 29/2026 của Quốc hội vừa ban hành về cơ chế, chính sách đặc thù tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng. Đây là giải pháp nhanh nhất mà Chính phủ cần xem là nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu để thực hiện nhằm khơi thông nguồn lực khổng lồ đã bất động nhiều năm.
"Như vậy, cùng với việc giao chỉ tiêu tăng trưởng cho địa phương và các bộ, ngành cũng như thúc đẩy đầu tư kết cấu hạ tầng sẽ tạo ra được sự gắn kết, khai thác tiềm năng lợi thế của từng mảnh đất, từng địa phương trên cả nước. Trong quá trình thực hiện, Chính phủ cần theo dõi đánh giá và kịp thời biểu dương, khích lệ các đơn vị làm tốt cũng như phê bình những nơi còn chậm chạp, ì ạch. Tất cả đồng lòng để đạt mục tiêu đưa kinh tế VN tăng trưởng cao không chỉ cho năm nay mà còn nhiều năm sau", PGS-TS Trần Hoàng Ngân chia sẻ.
TS Trần Việt Anh đồng tình, khi giao chỉ tiêu "cứng", nhất là những con số áp lực từ 8% đến hơn 13% vừa là động lực mạnh mẽ, nhưng nếu không có cơ chế kiểm soát tốt, một số nơi có thể chạy theo con số ngắn hạn bằng cách tăng đầu tư bằng mọi giá, mở rộng dự án thiếu chọn lọc, khai thác tài nguyên quá mức hoặc ưu tiên tăng trưởng lượng thay vì chất. Tuy nhiên, không vì lo ngại đó mà không giao chỉ tiêu. Vấn đề nằm ở cách thiết kế chỉ tiêu như thế nào. Mức tăng trưởng GRDP chỉ nên là chỉ tiêu trung tâm, nhưng không thể là chỉ tiêu duy nhất. Cần đi kèm các tiêu chí về năng suất lao động, chất lượng môi trường đầu tư, tỷ lệ giải ngân, số DN mới, vốn FDI chất lượng cao, đổi mới sáng tạo, môi trường, thu nhập người dân và chất lượng sống đô thị. Nếu làm đúng, cách quản lý kinh tế này sẽ tạo ra một cuộc cạnh tranh phát triển thực chất giữa các địa phương. Điều quan trọng nhất của việc giao KPI lần này không chỉ nằm ở áp lực hoàn thành chỉ tiêu, mà là áp lực buộc địa phương phải cải cách mạnh hơn, hành động nhanh hơn, và cạnh tranh phát triển quyết liệt hơn. Nói cách khác, chỉ tiêu tăng trưởng đang trở thành "động cơ ép cải cách" cho cả bộ máy điều hành địa phương.
Tin Gốc: Thanh Niên
Kinh Tế
Tiêu chí DN nhỏ và vừa: Doanh thu không quá 400 tỷ đồng, lao động không quá 300 người

Bộ Tài chính cho biết, Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (sửa đổi) sẽ hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa theo hướng đồng bộ, hiệu quả, minh bạch, khả thi, đảm bảo thống nhất trong tổ chức thực hiện; qua đó thúc đẩy khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển nhanh, bền vững, tăng về số lượng, nâng cao về chất lượng và hiệu quả hoạt động, tạo chuyển biến rõ rệt về năng lực cạnh tranh và đóng góp cho nền kinh tế…
Dự thảo Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (sửa đổi) bao gồm 6 chương với 50 điều. Bên cạnh những quy định chung, dự thảo cũng đề xuất cụ thể quy định về các nội dung hỗ trợ chung, chương trình hỗ trợ trọng tâm; Quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa và Quỹ đầu tư mạo hiểm cho doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo; trách nhiệm trong hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Trong đó, về tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa: Dự thảo đề xuất sửa đổi tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa theo hướng sử dụng các tiêu chí đơn giản phù hợp với bản chất của doanh nghiệp nhỏ và vừa, dễ áp dụng, có khả năng đối chiếu dựa trên cơ sở dữ liệu về đăng ký doanh nghiệp, thuế, bảo hiểm và phù hợp với thông lệ quốc tế.
Theo đó, trên cơ sở tổng kết thực tiễn áp dụng tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa quy định tại Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa 2017 và rà soát kinh nghiệm quốc tế, dự thảo Luật sửa đổi theo hướng chỉ sử dụng tiêu chí tổng số lao động bình quân năm và tổng doanh thu của năm trước liền kề để xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Tuy nhiên, để đảm bảo trách nhiệm tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp, dự thảo Luật bổ sung quy định chỉ hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa thực hiện đầy đủ nghĩa vụ bảo hiểm xã hội với người lao động.
Cụ thể, tại dự thảo, Bộ Tài chính đề xuất tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa như sau: Doanh nghiệp nhỏ và vừa bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa, có số lao động bình quân năm không quá 300 người và có tổng doanh thu của năm trước liền kề không quá 400 tỷ đồng.
Doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa được xác định theo lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; công nghiệp và xây dựng; thương mại và dịch vụ.
Bên cạnh đó, dự thảo cũng đề xuất bổ sung quy định về nguyên tắc hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Điều 5 theo hướng nhấn mạnh công khai, minh bạch, chuyển đổi số, hỗ trợ có trọng tâm, có thời hạn, gắn với kết quả đầu ra và trách nhiệm của đơn vị triển khai.
Tin Gốc: Người Đưa Tin

CTCP Tập đoàn C.E.O (HNX: CEO) vừa thông qua phương án phát hành cổ phiếu để trả cổ tức năm 2025 cho cổ đông.
Theo kế hoạch, doanh nghiệp dự kiến phát hành gần 28,4 triệu cổ phiếu, tương ứng tỉ lệ thực hiện quyền 100:5, tức cổ đông sở hữu 100 cổ phiếu sẽ được nhận thêm 5 cổ phiếu mới. Số cổ phiếu phát hành thêm không bị hạn chế chuyển nhượng.
Tổng giá trị phát hành tính theo mệnh giá hơn 283,7 tỷ đồng. Nguồn vốn thực hiện được lấy từ lợi nhuận sau thuế chưa phân phối lũy kế đến ngày 31/12/2025 theo báo cáo tài chính hợp nhất năm 2025 đã kiểm toán.
Thời gian dự kiến phát hành trong quý II-III/2026, sau khi doanh nghiệp nhận được thông báo bằng văn bản của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước về việc đã nhận đầy đủ tài liệu báo cáo phát hành.
Nếu hoàn tất đợt phát hành, vốn điều lệ của CEO Group dự kiến tăng từ hơn 5.674 tỷ đồng lên gần 5.958 tỷ đồng.
Phương án chia cổ tức bằng cổ phiếu nói trên đã được cổ đông thông qua tại Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2026 diễn ra ngày 24/4/2026. Tại đại hội, doanh nghiệp cũng đặt mục tiêu năm 2026 với tổng thu nhập hợp nhất 3.000 tỷ đồng và lợi nhuận sau thuế 300 tỷ đồng.
Theo dữ liệu lịch sử quyền doanh nghiệp, CEO từng duy trì chính sách chi trả cổ tức bằng tiền mặt trong giai đoạn 2013-2018 với mức dao động từ 600-1.000 đồng/cổ phiếu.
Cụ thể, doanh nghiệp đã trả cổ tức đợt 1/2013 bằng tiền tỉ lệ 6% vào cuối năm 2014, tiếp đó là các mức 800 đồng/cổ phiếu cho năm 2014, 900 đồng/cổ phiếu cho năm 2015 và 1.000 đồng/cổ phiếu cho các năm 2016-2018.
Song song với việc trả cổ tức, CEO Group nhiều lần triển khai các đợt phát hành thêm cho cổ đông hiện hữu với tỉ lệ khá lớn như 1:1, 2:1, 3:2 và 100:98 nhằm tăng vốn phục vụ hoạt động đầu tư kinh doanh.
Từ năm 2023 đến nay, doanh nghiệp chuyển sang hình thức chia cổ tức bằng cổ phiếu với cùng tỉ lệ 100:5 cho các năm 2023, 2024 và dự kiến tiếp tục áp dụng cho năm 2025.
Theo báo cáo tài chính hợp nhất quý I/2026, CEO Group ghi nhận doanh thu thuần gần 432,5 tỷ đồng, tăng 32,5% so với cùng kỳ năm trước. Lợi nhuận sau thuế đạt hơn 94 tỷ đồng, tăng 67,6%.
Như vậy, sau quý đầu năm, doanh nghiệp đã hoàn thành khoảng 31,3% kế hoạch lợi nhuận sau thuế cả năm.
Tính đến cuối quý I/2026, tổng tài sản của CEO Group đạt hơn 8.880,3 tỷ đồng, tăng hơn 150 tỷ đồng so với đầu năm. Trong đó, hàng tồn kho ở mức hơn 1.474,3 tỷ đồng và tài sản dở dang dài hạn hơn 1.431 tỷ đồng, lần lượt chiếm 16,6% và 16,1% tổng tài sản.
Tin Gốc: Người Đưa Tin

