Cuối tuần trước, Hà Nội phê duyệt đề án phát triển theo hướng tiệm cận “chuẩn quốc tế” với hai trường THPT chuyên Chu Văn An và Hà Nội – Amsterdam, ngay lập tức gây bàn luận trên các diễn đàn.
TS Nguyễn Quang Minh, chuyên gia giáo dục quốc tế và là Giám định viên Hội đồng các trường Quốc tế (CIS), cho rằng đây là hướng đi cần thiết.
Ông đánh giá đề án của hai trường có sự học hỏi từ các mô hình đào tạo tài năng ở Singapore, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ và Anh, song không sao chép máy móc mà vẫn giữ “tinh thần trường công” với ngân sách nhà nước làm nền tảng.
Các mục tiêu như tăng cường nghiên cứu khoa học, trí tuệ nhân tạo, học tập dự án và hội nhập học thuật quốc tế là phù hợp với yêu cầu phát triển nguồn nhân lực trong bối cảnh mới.
Chuyên gia cũng đánh giá cao việc sử dụng khái niệm “tiệm cận quốc tế”, thay vì ngay lập tức khẳng định sẽ trở thành một “trường chuẩn quốc tế”.
“Đây là cách tiếp cận thận trọng và thực tế, bởi giáo dục quốc tế không chỉ là câu chuyện chương trình hay chứng chỉ, mà là cả một hệ sinh thái học thuật, văn hóa và quản trị cần thời gian dài để hình thành”, ông Minh nói.
Điểm gây tranh luận nhất nằm ở tiêu chí cụ thể của trường chuyên Chu Văn An. Trường này đặt mục tiêu giai đoạn 2026-2030 có ít nhất 150 học sinh trúng tuyển đại học tại Anh, Mỹ, Australia và 80 em nhận học bổng quốc tế. Trường cũng tổ chức các hoạt động để hỗ trợ học sinh làm quen, chuẩn bị cho các kỳ thi, chương trình chuẩn hóa quốc tế như SAT, ACT, AP, IB… – vốn được nhiều đại học trên thế giới dùng như một tiêu chí xét tuyển đầu vào.
Theo ông Quang Minh, một ngôi trường xuất chúng không phải là nơi “dạy học sinh vào Harvard”, mà là nuôi dưỡng học sinh có nền tảng tư duy, năng lực nghiên cứu, khả năng tự học và thích nghi, để các em có đủ năng lực “vào Harvard”.
Lãnh đạo một trường THPT chuyên ở phía Nam nhìn nhận rằng việc du học, thi chứng chỉ SAT, AP… nên là kế hoạch của học sinh và gia đình, không nên là mục tiêu của trường chuyên.
Ông dẫn lại nhiệm vụ của trường chuyên được đề cập trong Luật Giáo dục, đó là phát hiện và bồi dưỡng học sinh có năng khiếu trong các môn học, tạo nguồn nhân tài cho đất nước.
“Học sinh trường chuyên đi du học không phải là điều xấu nhưng không nên dùng nguồn lực nhà nước để thúc đẩy điều đó”, ông nói.
Bởi dù còn hạn chế, trường chuyên đã và đang được ưu tiên hơn về ngân sách, đội ngũ giáo viên giỏi và những chính sách khác trong hệ thống giáo dục công lập nói chung.
“Việc phân bổ thêm ngân sách để tạo bệ phóng “tiếp cận quốc tế” cho một bộ phận nhỏ vốn đã được đầu tư nhiều hơn là thiếu công bằng cho số đông”.
PGS. TS quản lý giáo dục Trương Đình Thăng, Hiệu trưởng trường Cao đẳng Sư phạm Quảng Trị, cũng cảnh báo các mục tiêu “quốc tế hóa” có thể trở thành một cuộc đua thành tích, xem trường nào có nhiều học sinh đạt chứng chỉ, nghiên cứu khoa học… hơn. Khi đó, mô hình mới rất dễ lại đặt trọng tâm vào luyện thi, tăng áp lực cho học trò.
Ở chiều ngược lại, ông Đàm Quang Minh, Đồng chủ tịch khối Phổ thông, Tập đoàn giáo dục EQuest, thấy rằng cần đặt những tiêu chí về du học, chứng chỉ trong tổng thể định hướng hội nhập quốc tế của trường chuyên Chu Văn An.
Theo ông, đề án này theo đuổi mô hình tương tự một số trường công ở Singapore, khi triển khai các chương trình như tú tài quốc tế IB để học sinh tiếp cận chuẩn đầu ra toàn cầu. Ngoài ra, Việt Nam hiện chưa có đại học nào vào top 200 thế giới, nên học sinh “chỉ có lựa chọn du học” nếu muốn vào các trường như vậy.
Ông Minh cũng đánh giá cao việc đề án nhấn mạnh hỗ trợ học bổng cho học sinh khó khăn, để các em được tiếp cận chương trình quốc tế.
“Làm được điều này, các chương trình như IB sẽ không còn là đặc quyền của những gia đình giàu có”, ông nói.
Dù có góc nhìn khác nhau, các chuyên gia đều cho rằng hai trường nên thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp về chương trình, đội ngũ và tăng cường hợp tác quốc tế.
TS Nguyễn Quang Minh thấy cần xây dựng bộ tiêu chí đánh giá năng lực học thuật và nghiên cứu thực chất, bổ sung các chỉ số về sức khỏe tinh thần để bảo vệ học sinh, giúp các em phát triển toàn diện.
Đây cũng là quan điểm của PGS Trương Đình Thăng. Ông lưu ý các trường cân bằng giữa học thuật đỉnh cao và sức khỏe tinh thần của học sinh, hội nhập quốc tế và trách nhiệm đất nước, đào tạo cá nhân xuất sắc và xây dựng tinh thần phụng sự cộng đồng.
Các chuyên gia kỳ vọng hai đề án không chỉ nâng cao chất lượng đào tạo của trường chuyên công lập, mà còn mở thêm cơ hội để học sinh Việt Nam tiếp cận môi trường học thuật và chuẩn đầu ra quốc tế ngay trong nước.
Mời bạn đọc theo dõi đề thi và đáp án tuyển sinh lớp 10 năm 2026 của TPHCM và các tỉnh, thành được cập nhật liên tục tại: Đề thi và đáp án thi lớp 10 năm 2026 của tất cả 34 tỉnh, thành
Theo thỏa thuận hợp tác, Đại học Quốc gia TP.HCM và FPT hợp tác hướng tới 3 mục tiêu chủ chốt.
Thứ nhất, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực tiên phong bao gồm vi mạch bán dẫn, trí tuệ nhân tạo (AI) và chuyển đổi số.
Thứ hai, thúc đẩy nghiên cứu ứng dụng và chuyển giao công nghệ, kết nối chặt chẽ các bài toán thực tiễn của doanh nghiệp với năng lực nghiên cứu của đại học nhằm tạo ra các sản phẩm công nghệ có giá trị thương mại và thực tiễn cao.
Thứ ba, tăng cường kết nối chuỗi giá trị đào tạo - nghiên cứu - sản xuất, góp phần xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo mạnh mẽ và đẩy nhanh lộ trình chuyển đổi số của cả hai bên.
Để hiện thực hóa 3 mục tiêu chủ chốt, hai đơn vị thống nhất triển khai chương trình hành động cụ thể.
Trong đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, hai bên phối hợp thiết kế các chương trình đào tạo đại học, sau đại học và chuyên sâu bám sát yêu cầu thực tế của thị trường.
FPT sẽ tạo điều kiện tối đa cho sinh viên, giảng viên Đại học Quốc gia TP.HCM tham gia thực tập, nghiên cứu và đồng hướng dẫn đồ án tốt nghiệp. FPT cam kết hỗ trợ học bổng thường niên cho các chương trình đào tạo, đồng hành cùng nhà trường xây dựng hệ thống học liệu chuyên ngành và các phòng thí nghiệm.
Trong nghiên cứu, phát triển khoa học và công nghệ, hai bên triển khai các nhiệm vụ nghiên cứu ứng dụng theo cơ chế đặt hàng hoặc đồng phát triển, ưu tiên các lĩnh vực công nghệ lõi và nền tảng bao gồm: thiết bị bay không người lái (UAV), thiết kế vi mạch, AI, dữ liệu lớn (Big Data), công nghệ lượng tử và các giải pháp chuyển đổi số.
Hai bên khuyến khích hình thành các nhóm nghiên cứu chung giữa chuyên gia FPT và các nhà khoa học Đại học Quốc gia TP.HCM, hướng tới phát triển các sản phẩm công nghệ mang thương hiệu chung và phối hợp tổ chức các hội thảo khoa học chuyên sâu.
Về phát triển hạ tầng nghiên cứu và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, FPT và Đại học Quốc gia TP.HCM sẽ nghiên cứu thành lập Phòng thí nghiệm hợp tác (VNUHCM - FPT Lab) theo mô hình đồng vận hành, tập trung vào mảng thiết kế vi mạch, kiểm thử và ứng dụng AI trong quản lý nhà nước, an sinh xã hội.
Bên cạnh đó, hai bên sẽ phối hợp khai thác và đầu tư bổ sung trang thiết bị, học liệu số cho hạ tầng sẵn có (phòng thí nghiệm, hệ thống dữ liệu…) để phục vụ các dự án nghiên cứu, thử nghiệm sản phẩm công nghệ trong môi trường thực tế tại khu đô thị Đại học Quốc gia TP.HCM.
Ngày 9-5 tại TP.HCM, Viện Y học gia đình Việt Nam và Trường thực hành Tâm vận động Aucouturier (Bỉ) ký kết triển khai chương trình đào tạo chuyên sâu về thực hành tâm vận động Aucouturier tại Việt Nam giai đoạn 2026 - 2029, dưới sự hỗ trợ của các chuyên gia châu Âu.
Mục tiêu sẽ phát triển nguồn nhân lực chuyên môn trong lĩnh vực hỗ trợ trẻ em có khó khăn phát triển tâm thần - tâm lý - vận động, đồng thời thúc đẩy mô hình chăm sóc sức khỏe cộng đồng theo hướng liên ngành.
Trường thực hành Tâm vận động Aucouturier hiện là thành viên nòng cốt của ASEFOP - Hiệp hội các trường đào tạo về thực hành tâm vận động châu Âu.
Tại Việt Nam, khóa đào tạo đầu tiên dự kiến tuyển tối đa 27 học viên, dành cho các nhà chuyên môn đang trực tiếp làm việc với trẻ em có trình độ từ cử nhân trở lên trong các lĩnh vực y khoa, tâm lý, giáo dục hoặc hỗ trợ phát triển. Khóa học dự kiến diễn ra từ tháng 8-2026 đến tháng 8-2029.
Mỗi năm chương trình sẽ có hai đợt đào tạo trực tiếp vào tháng 8 và 12, kết hợp hoạt động giám sát trực tuyến định kỳ với các nhà đào tạo Bỉ và Việt Nam.
Đặc biệt, học viên sẽ phải thực hành thường xuyên tại các môi trường có trẻ em như trường chuyên biệt, bệnh viện, cơ sở giáo dục hoặc đơn vị can thiệp.
Hoạt động đào tạo tại Việt Nam sẽ do nhà đào tạo Nguyễn Lệ Bình - bác sĩ tâm thần nhi được ASEFOP công nhận cùng nhà đào tạo Danielle Michaux - nhà tâm lý được ASEFOP công nhận - phụ trách chuyên môn.
Theo bà Fanny Moreau - Chủ tịch Trường thực hành Tâm vận động Aucouturier, can thiệp cho trẻ em, đặc biệt là trẻ có khó khăn phát triển cần được thực hiện đúng ngay từ nền tảng ban đầu.
Muốn vậy, đội ngũ được đào tạo phải có năng lực chuyên môn vững, được giám sát bài bản, hiểu trẻ bằng sự quan sát tinh tế và luôn đặt lợi ích của trẻ ở trung tâm.
PGS.TS.BS Nguyễn Thanh Hiệp - Chủ tịch Hội đồng quản lý Viện Y học gia đình Việt Nam - cho rằng chăm sóc sức khỏe trẻ em cần tiếp cận toàn diện về phát triển thể chất, tâm lý, cảm xúc và môi trường sống.
Lĩnh vực này ở Việt Nam đang thiếu đồng thời lực lượng thực hành trực tiếp với trẻ em và đội ngũ có khả năng đào tạo, giám sát chuyên môn.