Đầu tiên là miễn thuế thu nhập cá nhân với thu nhập từ lợi tức cổ phần của thành viên hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã nông nghiệp, cá nhân là nông dân ký kết hợp đồng với doanh nghiệp tham gia “Cánh đồng lớn”, trồng rừng sản xuất, nuôi trồng thủy sản.
Dự thảo nghị định quy định cụ thể cá nhân tham gia “Cánh đồng lớn”, trồng rừng sản xuất, nuôi trồng thủy sản phải đáp ứng các điều kiện: có quyền sử dụng đất, quyền thuê đất trong hợp đồng thuê đất (bao gồm cả đất có mặt nước), quyền sử dụng mặt nước, quyền thuê mặt nước hợp pháp để tham gia “Cánh đồng lớn”, trồng rừng sản xuất, nuôi trồng thủy sản; thực tế có nơi cư trú tại địa phương nơi diễn ra hoạt động “Cánh đồng lớn”, trồng rừng sản xuất, nuôi trồng thủy sản.
Thứ 2, miễn thuế với thu nhập từ chuyển nhượng chứng chỉ giảm phát thải, chuyển nhượng tín chỉ carbon lần đầu sau khi phát hành của cá nhân được cấp chứng chỉ giảm phát thải, tín chỉ carbon; thu nhập từ tiền lãi trái phiếu xanh; thu nhập từ chuyển nhượng trái phiếu xanh lần đầu sau khi phát hành.
Thứ 3, miễn thuế với thu nhập từ tiền lương, tiền công từ thực hiện nhiệm vụ KH-CN và đổi mới sáng tạo theo quy định của pháp luật về KH-CN và đổi mới sáng tạo.
Dự thảo nghị định bổ sung căn cứ như sau, đối với nhiệm vụ KH-CN và đổi mới sáng tạo sử dụng ngân sách nhà nước: tiền lương, tiền công của cá nhân thực hiện nhiệm vụ là khoản tiền thù lao tham gia nhiệm vụ.
Đối với nhiệm vụ KH-CN và đổi mới sáng tạo không sử dụng ngân sách nhà nước: việc xác định tiền lương, tiền công của cá nhân tham gia thực hiện các nhiệm vụ thực hiện theo quy định về khoản chi của doanh nghiệp tài trợ cho chuyên gia, nhà khoa học, cá nhân thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Thứ 4, miễn thuế với thu nhập từ quyền tác giả của nhiệm vụ KH-CN và đổi mới sáng tạo khi kết quả nhiệm vụ được thương mại hóa theo quy định của pháp luật về KH-CN và đổi mới sáng tạo, pháp luật về sở hữu trí tuệ.
Thứ 5, miễn thuế với thu nhập từ đầu tư vốn của nhà đầu tư cá nhân nhận được từ dự án khởi nghiệp sáng tạo, sáng lập viên doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, nhà đầu tư cá nhân góp vốn vào quỹ đầu tư mạo hiểm; miễn thuế với thu nhập từ tiền lương, tiền công của chuyên gia hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo từ dự án khởi nghiệp sáng tạo, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo.
Thứ 6, miễn thuế với thu nhập từ tiền lương, tiền công của chuyên gia nước ngoài làm việc tại chương trình, dự án tài trợ bằng nguồn vốn ODA không hoàn lại, chương trình, dự án phi chính phủ nước ngoài tại Việt Nam; cá nhân là người Việt Nam làm việc tại cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế thuộc Liên Hiệp Quốc tại Việt Nam; cá nhân tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình Liên Hiệp Quốc.
Thứ 7, miễn thuế với thu nhập của chủ doanh nghiệp tư nhân, cá nhân là chủ công ty TNHH một thành viên nhận được sau khi doanh nghiệp trong nước đã hoàn thành nghĩa vụ thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định của pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp.
Ngoài ra, Bộ Tài chính còn trình Chính phủ bổ sung quy định miễn thuế thu nhập cá nhân trong thời hạn 5 năm đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công của cá nhân là nhân lực công nghiệp công nghệ số chất lượng cao trong các trường hợp: thu nhập từ dự án hoạt động công nghiệp công nghệ số trong khu công nghệ số tập trung; thu nhập từ dự án nghiên cứu và phát triển, sản xuất sản phẩm công nghệ số trọng điểm, chip bán dẫn, hệ thống trí tuệ nhân tạo; thu nhập từ các hoạt động đào tạo nhân lực công nghiệp công nghệ số.
Cạnh đó, miễn thuế 5 năm đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công của cá nhân là nhân lực công nghệ cao thực hiện hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ cao hoặc công nghệ chiến lược tương ứng thuộc Danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển hoặc Danh mục công nghệ chiến lược, Danh mục sản phẩm công nghệ chiến lược.
Bộ Tài chính trình Chính phủ giao Bộ KH-CN ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành các tiêu chí, điều kiện để xác định thế nào là nhân lực công nghệ cao.
Bộ Tài chính cũng trình Chính phủ bổ sung quy định miễn thuế với chuyển nhượng chứng chỉ quỹ mở thành lập theo pháp luật chứng khoán được nắm giữ từ 2 năm trở lên kể từ ngày mua.
Đồng thời, bổ sung quy định giảm 50% thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ lợi tức của nhà đầu tư cá nhân được chia từ quỹ đầu tư chứng khoán, quỹ đầu tư bất động sản thành lập theo luật Chứng khoán trong 5 năm kể từ ngày 1.7.2026 đến hết ngày 30.6.2031.
Trong thời gian tới, các dự án nhà ở xã hội mới và các khu đô thị đa mục tiêu sẽ phải dành tối thiểu 10% quỹ nhà cho thuê hoặc thuê mua theo Chương trình phát triển nhà ở giai đoạn 2021-2030. Theo UBND TP.Hà Nội, chính sách này sẽ góp phần gia tăng nguồn cung nhà cho thuê và mở rộng cơ hội tiếp cận nhà ở cho người dân.
Theo Sở Xây dựng thành phố, ngay trong tháng 6, thành phố dự kiến khởi công khoảng 6.000-7.000 căn nhà ở cho thuê tại 2-3 dự án chuyên biệt và 7 dự án nhà ở xã hội có tỷ lệ nhà cho thuê từ 5% đến 20%.
Hiện trên địa bàn thành phố có khoảng 14.351 phòng, căn hộ cho thuê gồm nhà ở công vụ, nhà ở xã hội cho thuê, nhà lưu trú công nhân, nhà ở sinh viên và nhà ở thuộc tài sản công.
Bên cạnh phân khúc cho thuê, Hà Nội cũng chuẩn bị bước vào giai đoạn tăng tốc phát triển nhà ở xã hội. Hiện thành phố có 90 dự án nhà ở xã hội với quy mô khoảng 83.000 căn hộ đã được chấp thuận đầu tư. Trong đó, 41 dự án với khoảng 32.000 căn dự kiến được khởi công trong năm 2026, riêng tháng 6 có 7 dự án với khoảng 11.000 căn.
Theo kế hoạch, sang năm 2027, thành phố sẽ có thêm 29 dự án được khởi công. Hiện 7 dự án đang thực hiện các thủ tục đầu tư.
Đối với những dự án còn vướng mắc trong công tác giải phóng mặt bằng hoặc thủ tục chuẩn bị đầu tư, UBND TP.Hà Nội đã giao các sở, ngành rà soát, hướng dẫn nhà đầu tư và đề xuất giải pháp tháo gỡ nhằm đẩy nhanh tiến độ triển khai.
Đáng chú ý, thành phố đang thúc đẩy mô hình khu đô thị đa mục tiêu, trong đó 40-50% quỹ nhà dành cho tái định cư, khoảng 20% dành cho nhà ở xã hội và phần còn lại là nhà ở thương mại. Theo đánh giá của cơ quan quản lý, mô hình này cho phép linh hoạt chuyển đổi công năng theo nhu cầu thực tế, đồng thời giảm áp lực phải xây dựng các khu tái định cư riêng biệt.
Chủ tịch UBND TP.Hà Nội, Vũ Đại Thắng, cho biết việc phát triển thị trường bất động sản cho thuê theo hướng dài hạn sẽ phục vụ nhu cầu ở thực của người dân, không nhằm mục tiêu sở hữu hay đầu cơ tích sản. Nhà ở phải thực sự là nơi để ở, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân.
Trước đó, Hà Nội đã công bố 39 dự án nhà ở xã hội, với tổng diện tích gần 115 ha và tổng vốn đầu tư khoảng 71.500 tỷ đồng, nhằm hoàn thành 120.000 căn nhà xã hội theo mục tiêu của Chính phủ.
Với nguồn cung dự kiến tăng mạnh trong giai đoạn tới, phân khúc nhà ở xã hội và nhà ở cho thuê tại Hà Nội được kỳ vọng sẽ góp phần giảm áp lực về nhà ở, mở rộng cơ hội an cư cho người lao động và các đối tượng có thu nhập thấp trên địa bàn Thủ đô.
Nhu cầu tiêu thụ nước mắm tại Việt Nam ngày càng tăng, nhất là khi quy mô dân số năm 2025 ước tính đạt mốc 102,3 triệu người, Nam Ngư - thương hiệu lớn trong ngành nước mắm hiện đang sở hữu hệ thống nhà thùng với quy mô hơn 1.000 thùng ủ chượp đặt tại 3 nơi: Phú Quốc (448 thùng), Cần Thơ (358 thùng) và Lagi (220 thùng). Song song đó, Nam Ngư còn hợp tác thu mua đến 60% sản lượng nước mắm cốt tại các vùng sản xuất nước mắm chính Việt Nam như Nha Trang, Phan Thiết, Cà Ná…
Nam Ngư hợp tác và thu mua sản lượng nước mắm cốt lớn từ Phú Quốc, Nha Trang, Phan Thiết, Cà Ná...
Việc tự chủ về năng lực sản xuất, kết hợp với việc đồng hành cùng các nhà thùng giúp Nam Ngư đảm bảo nguồn cung nước mắm phục vụ hàng trăm triệu người tiêu dùng Việt mỗi năm. Hoạt động này còn góp phần giúp bà con làng nghề ổn định đầu ra, có nguồn vốn tái đầu tư để duy trì sản xuất và mở rộng quy mô sản xuất.
Ở khía cạnh chất lượng, ngay từ khâu thu mua, nước mắm cốt phải đáp ứng bộ quy chuẩn đo lường, bao gồm các yêu cầu về hàm lượng dinh dưỡng và chỉ số an toàn thực phẩm. Lượng nước mắm cốt được thu mua tiếp tục trải qua quy trình kiểm định nghiêm ngặt tại nhà máy với các tiêu chuẩn chất lượng tiên tiến: ISO 9001 (Hệ thống Quản lý chất lượng), ISO 22000 (Hệ thống Quản lý an toàn thực phẩm), GMP (Thực hành sản xuất tốt)... nhằm bảo đảm chất lượng thành phẩm đầu ra.
Với sự thấu hiểu về khẩu vị phong phú của người tiêu dùng Việt Nam, Nam Ngư mang đến danh mục sản phẩm nước mắm đa dạng theo từng phân khúc, trong đó có bộ sưu tập đặc sản Nam Ngư Phú Quốc - sản phẩm cao cấp nhất của Nam Ngư hiện tại. Song song đó, Nam Ngư còn phát triển, mở rộng ngành nước mắm với các sản phẩm nước mắm pha sẵn như Nam Ngư ớt tỏi Lý Sơn… Tự hào đồng hành cùng hàng triệu bữa cơm Việt mỗi ngày.
Đi cùng nhu cầu tiêu thụ lớn, người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến chất lượng và nguồn gốc hàng hóa. Bên cạnh tiêu chí hương vị, các yếu tố như an toàn thực phẩm, minh bạch thành phần, nguồn gốc xuất xứ… trở thành ưu tiên hàng đầu trong quyết định mua sắm của khách hàng.
Định hướng tăng cường minh bạch thông tin và gia tăng lợi ích cho người tiêu dùng, từ giữa năm 2025, Nam Ngư tiên phong ứng dụng công nghệ QR Code trên bao bì sản phẩm. Chỉ với vài giây thao tác quét mã QR trên điện thoại, hệ thống sẽ hiển thị đầy đủ "hồ sơ định danh" của chai nước mắm khách hàng đang cầm trên tay từ tên sản phẩm, ký hiệu lô, ngày sản xuất đến hạn sử dụng khớp hoàn toàn với thông tin in nổi trên cổ chai.
Việc ứng dụng QR Code không chỉ là một giải pháp xác thực hàng chính hãng, minh bạch thông tin sản phẩm giúp bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và thúc đẩy tốc độ ra quyết định mua hàng nhanh hơn. Hoạt động này còn là bước đi chiến lược giúp Nam Ngư bảo vệ uy tín thương hiệu khỏi vấn nạn hàng nhái, hàng giả trên thị trường.
Không chỉ vậy, khi mua nước mắm Nam Ngư và quét mã QR Code, người tiêu dùng có thể tận hưởng thêm các lợi ích đặc quyền như tích điểm thành viên, nhận voucher mua hàng 20.000 đồng cùng nhiều phần quà hấp dẫn khác.
Theo các thông báo kết luận thanh tra được ban hành cuối tháng 4/2026, dù các chi nhánh trên của KienlongBank duy trì hoạt động ổn định, kinh doanh có lãi và cơ bản chấp hành nhiều quy định pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng, cơ quan thanh tra vẫn phát hiện một số tồn tại đáng chú ý liên quan đến công tác cho vay, kiểm soát rủi ro và xử lý nợ.
Theo Thông báo kết luận thanh tra số 17/TB-TTRA, Chánh Thanh tra NHNN Khu vực 13 đã ban hành Kết luận thanh tra số 13/KL-TTRA đối với KienlongBank Chi nhánh Đồng Tháp.
Cơ quan thanh tra cho biết, trong thời kỳ thanh tra, KienlongBank Đồng Tháp duy trì hoạt động ổn định, kinh doanh có lãi, các chỉ tiêu cơ bản như huy động vốn và cho vay đều tăng trưởng qua các năm. Công tác xử lý nợ xấu được thực hiện tương đối hiệu quả, góp phần kéo giảm tỷ lệ nợ xấu về mức an toàn theo khuyến cáo của NHNN.
Tuy nhiên, bên cạnh các kết quả đạt được, cơ quan thanh tra xác định hoạt động của chi nhánh vẫn phát sinh một số tồn tại, hạn chế và rủi ro liên quan đến điều kiện vay vốn; công tác thẩm định, xét duyệt cho vay; kiểm tra, giám sát việc sử dụng vốn vay; hồ sơ đề nghị bảo lãnh; thứ tự thu hồi gốc, lãi khoản vay quá hạn; phân loại nợ và cho vay ngoài địa bàn.
Theo kết luận, các tồn tại trên chủ yếu mang tính chủ quan, xuất phát từ việc chưa thực hiện đầy đủ quy định nội bộ và các quy định pháp luật liên quan.
Tại KienlongBank Chi nhánh Tây Ninh, kết luận thanh tra số 15/KL-TTRA ban hành ngày 29/4/2026 ghi nhận đơn vị đã thực hiện đúng định hướng tăng trưởng tín dụng do hội sở giao, đồng thời chấp hành quy định về phân loại tài sản có, trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro.
Dù vậy, cơ quan thanh tra cũng chỉ ra nhiều tồn tại, hạn chế và rủi ro trong công tác cho vay và kiểm tra, giám sát sau cho vay.
Theo NHNN Khu vực 13, nguyên nhân xuất phát từ việc đơn vị chưa nghiêm túc chấp hành các quy định nội bộ cũng như quy định pháp luật trong hoạt động cho vay và hậu kiểm tín dụng.
Kết luận thanh tra xác định trách nhiệm trực tiếp thuộc về các cá nhân, bộ phận thực hiện nghiệp vụ, đồng thời thuộc trách nhiệm chung của Giám đốc KienlongBank Tây Ninh trong công tác quản lý, điều hành và kiểm soát.
Theo Thông báo kết luận thanh tra số 19/TB-TTRA, Chánh Thanh tra NHNN Khu vực 13 đã ban hành Kết luận thanh tra số 12/KL-TTRA đối với KienlongBank Chi nhánh Tiền Giang.
Kết luận cho biết, trong thời kỳ thanh tra, KienlongBank Tiền Giang duy trì hoạt động ổn định, kinh doanh có lãi, nguồn vốn huy động tăng trưởng qua các năm. Đơn vị cơ bản chấp hành quy định liên quan đến phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro và quan tâm đến công tác xử lý, thu hồi nợ xấu.
Tuy nhiên, cơ quan thanh tra xác định hoạt động cho vay của chi nhánh còn phát sinh một số tồn tại, hạn chế và rủi ro trong công tác thẩm định, xét duyệt cho vay; kiểm tra, giám sát vốn vay; xử lý các khoản nợ có vấn đề. Đồng thời, cơ quan thanh tra cũng lưu ý một số dấu hiệu tiềm ẩn rủi ro trong hoạt động của đơn vị.
Theo kết luận thanh tra, nguyên nhân xuất phát từ việc một số khách hàng chưa thực hiện đúng nguyên tắc vay vốn, đồng thời đơn vị còn chủ quan trong quá trình xét duyệt cho vay.