Cử nhân dinh dưỡng Mai Thị Thùy, Khoa Dinh dưỡng, Bệnh viện đa khoa Xuyên Á TP.HCM, cho biết khi trời nắng nóng việc uống nước lạnh sẽ mang lại một số tác dụng như làm mát cơ thể nhanh, tăng cảm giác kích thích uống nước vì nước mát lạnh dễ uống. Tuy nhiên việc uống nước lạnh sẽ gây ra nhiều tác hại như sau:
Tiêu hóa chậm, đầy hơi, chuột rút. Uống nước ở nhiệt độ 2 – 4°C trong hoặc ngay sau bữa ăn có thể tạm thời làm gián đoạn quá trình tiêu hóa. Nhiệt độ lạnh làm chậm quá trình co bóp dạ dày và làm chậm quá trình làm rỗng dạ dày (sự di chuyển của thức ăn vào ruột). Những tác động này không phải lúc nào cũng xảy ra, nhưng chúng giải thích tại sao một số người có thể gặp các vấn đề về đường ruột (đau bụng, đầy hơi…) sau khi uống đồ uống rất lạnh.
Có thể xảy ra sốc nhiệt. Uống đồ quá lạnh và quá nhanh sẽ gây ra sự giảm nhiệt độ đột ngột trong đường tiêu hóa. Nếu bạn có dạ dày nhạy cảm, cú sốc nhiệt này có thể gây ra chuột rút và khó chịu.
Đau họng. Uống nước lạnh, đặc biệt là sau bữa ăn, dẫn đến hình thành các chất nhầy dư thừa (niêm mạc đường hô hấp), tạo thành lớp bảo vệ của đường hô hấp. Tuy nhiên, nó sẽ gây ra hiện tượng bỏng lạnh, khiến cổ họng bị đau rát và tổn thương.
Giảm nhịp tim. Một số nghiên cứu cũng chỉ ra rằng nước lạnh có thể làm giảm nhịp tim của bạn. Uống nước đá được cho là kích thích dây thần kinh sọ thứ 10 – dây thần kinh phế vị.
Xoang và nhức đầu. Uống quá nhiều đồ lạnh cũng có thể gây ra vấn đề “đóng băng não”, đặc biệt khi bạn uống quá nhiều nước đá hoặc ăn kem. Khi đó, nước lạnh làm mát các dây thần kinh nhạy cảm của cột sống, do đó nó ảnh hưởng đến não. Vì lý do này, nhức đầu và các vấn đề về xoang cũng có thể xảy ra
Đau răng và ê buốt men răng. Thường xuyên uống đồ uống rất lạnh làm tăng độ nhạy cảm của răng, đặc biệt nếu men răng bị mòn hoặc nướu bị tụt. Cần lưu ý rằng sự thay đổi nhiệt độ (lạnh – nóng) cũng tạo ra sức căng trong mô răng. Về lâu dài, điều này có thể thúc đẩy sự xuất hiện của các vết nứt nhỏ và làm tăng độ nhạy cảm với lạnh.
Để duy trì sự hydrat hóa và tiêu hóa hằng ngày, nước ở nhiệt độ phòng (20 – 22°C) thường được khuyến nghị. Trong khi tập thể dục hoặc ở những vùng khí hậu nắng nóng, các nghiên cứu cho thấy nước mát ở nhiệt độ 10 – 16°C giúp tối ưu hóa quá trình hydrat hóa và điều hòa thân nhiệt.
Theo cử nhân dinh dưỡng Mai Thị Thùy, nếu bạn thích uống đồ uống lạnh, sau đây là một số lời khuyên:
Tránh uống trong bữa ăn. Hãy đợi ít nhất 30 phút sau ăn.
Uống từ từ, từng ngụm nhỏ: Thay vì uống vội một cốc lớn, điều này sẽ giúp cơ thể dần thích nghi với sự thay đổi nhiệt độ hơn.
Bảo vệ răng: Dùng ống hút, giúp hạn chế sự tiếp xúc trực tiếp nước lạnh với men răng.
Theo dõi tín hiệu cơ thể: Đau bụng dữ dội, đầy hơi hoặc đau răng tái phát sau khi uống đồ uống lạnh cho thấy bạn cần điều chỉnh nhiệt độ đồ uống của mình.
Bệnh thận mạn tính là vấn đề sức khỏe ngày càng phổ biến, đặc biệt khi bệnh tiến triển nặng có thể dẫn đến phải chạy thận lâu dài. Trong bối cảnh đó, nghiên cứu mới công bố trên tạp chí y khoa JAMA Network Open cho thấy một chế độ ăn đạm vừa phải có thể giúp làm chậm tiến triển suy thận ở bệnh nhân giai đoạn 3 - 4 và giảm nguy cơ phải chạy thận nhân tạo.
Các nhà nghiên cứu, dẫn đầu là bác sĩ Ilia Beberashvili từ Bệnh viện Yitzhak Shamir Medical Center (Israel), đã thực hiện nghiên cứu trên 1.441 bệnh nhân thận mạn tính giai đoạn 3 - 4, ở độ tuổi trung bình là 67, được theo dõi trong 15 năm, nhằm tìm ra lượng đạm tiêu thụ mỗi ngày giúp bảo vệ quả thận cho bệnh nhân thận mạn tính.
Các tác giả đã xem xét mối liên hệ giữa lượng đạm ăn vào trong ngày với tình trạng suy thận trong dài hạn.
Họ đã tiến hành đánh giá lượng đạm hấp thụ qua chế độ ăn bằng cách sử dụng lượng nitơ bài tiết qua nước tiểu trong 24 giờ và lượng đạm tiêu thụ hằng ngày theo trọng lượng cơ thể.
Kết quả đã phát hiện những người ăn ít đạm (ít hơn 1 gram đạm cho 1 kg thể trọng mỗi ngày, ví dụ người 50 kg ăn ít hơn 50 gram đạm một ngày) đã giảm 23% nguy cơ suy giảm chức năng thận về mặt tổng thể. Cụ thể như sau:
Các nhà nghiên cứu cho rằng việc kiểm soát lượng đạm ở mức vừa phải có thể giúp giảm áp lực lên thận, từ đó góp phần làm chậm quá trình suy giảm chức năng thận. Trong nghiên cứu này, chế độ ăn trên cũng chưa ghi nhận nguy cơ thiếu hụt dinh dưỡng rõ rệt ở phần lớn bệnh nhân được theo dõi.
Các nhà nghiên cứu kết luận rằng, lượng protein hấp thụ ở mức vừa phải - ít hơn 1 gram đạm cho 1 kg thể trọng mỗi ngày - giúp giảm nguy phải chạy thận nhân tạo mà không bị thiếu chất.
Những phát hiện này ủng hộ việc hạn chế đạm ở mức độ vừa phải, kết hợp với việc theo dõi lượng đạm hấp thu vào cơ thể có thể giúp bảo vệ chức năng thận tốt hơn.
Đây là bằng chứng mạnh mẽ cho thấy chế độ ăn đạm vừa phải có khả năng bảo tồn chức năng thận thực sự.
Ngày 24-4, Sở Y tế TP.HCM đã công bố danh sách cơ sở đủ điều kiện khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế ban đầu trên địa bàn TP.HCM (cập nhật đến ngày 23-4).
Theo Sở Y tế TP.HCM, thực hiện quy định tại điểm b khoản 2 Điều 14 Thông tư số 01/2025/TT-BYT ngày 1-1-2025 của Bộ Y tế về trách nhiệm công bố danh sách cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế ban đầu tại địa phương, Sở Y tế TP.HCM đã tổ chức rà soát, tổng hợp và công bố danh sách các cơ sở đủ điều kiện theo quy định.
Từ ngày 11-3 đến 23-4, Sở Y tế nhận được đơn đề nghị của Trạm y tế xã Hiệp Phước, Trạm y tế phường Vườn Lài, Phòng khám đa khoa Medic An Điền thuộc Công ty cổ phần Phòng khám đa khoa An Điền, Phòng khám đa khoa thuộc Công ty TNHH Y khoa Tín Nghĩa về việc công bố đủ điều kiện khám chữa bệnh bảo hiểm y tế ban đầu.
Như vậy, tính đến ngày 23-4, Sở Y tế đã công bố 662 cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đủ điều kiện thực hiện khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế ban đầu trên địa bàn TP.HCM (bao gồm các bệnh viện đa khoa, chuyên khoa, trạm y tế và phòng khám đa khoa).
Sở Y tế đề nghị các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đã được xác nhận đủ điều kiện chủ động rà soát, đối chiếu thông tin đang được công bố, trường hợp thông tin chưa chính xác hoặc cơ sở không còn duy trì đủ điều kiện, đề nghị có văn bản phản hồi về Sở Y tế để được cập nhật kịp thời.
Các cơ sở có nhu cầu đăng ký khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế ban đầu thực hiện đúng thành phần hồ sơ, trình tự, thủ tục theo hướng dẫn của Sở Y tế để được xem xét theo quy định.
Tại BV K, BN được chẩn đoán mắc ung thư biểu mô vảy (loại ung thư khởi phát từ tế bào bề mặt của lưỡi) ở bờ lưỡi bên phải. Khối sùi loét ở bờ lưỡi phải có kích thước 2 x 2,5 cm; kích thước u 26 x 10 mm. Ung thư chưa di căn hạch, chưa thâm nhiễm các vùng lân cận.
TS Ngô Xuân Quý, Trưởng khoa Ngoại Đầu - cổ (BV K), thông tin: Ở bệnh ung thư lưỡi, các tế bào ung thư ít đáp ứng với xạ trị hay hóa chất, nên phẫu thuật có vai trò lớn trong điều trị. Trường hợp BN nói trên, bên cạnh cắt u và toàn bộ vùng liên quan đến khối u, phẫu thuật viên còn vét hạch cổ phải, nhằm loại bỏ triệt để các hạch bạch huyết xung quanh có nguy cơ bị tế bào ung thư di căn, ngay cả khi trên hình ảnh siêu âm chưa nhìn thấy rõ tổn thương. Ung thư lưỡi giai đoạn bệnh khu trú, nếu được điều trị đúng phác đồ thì tỷ lệ chữa khỏi rất cao: 70 - 80%.
Tuy nhiên, thách thức lớn nhất của phẫu thuật ung thư lưỡi là cấu trúc giải phẫu. Lưỡi có hệ thống mạch máu phức tạp và chứa nhiều dây thần kinh quan trọng giúp điều khiển vị giác, cảm giác và vận động. Sau khi cắt bỏ 1/2 lưỡi phải (với trường hợp BN trên), người bệnh đối mặt nguy cơ khuyết hổng lớn ở khoang miệng. Nếu chỉ khâu đóng thông thường, lưỡi sẽ bị co kéo, biến dạng nghiêm trọng, khiến người bệnh gặp khó khăn lớn trong ăn uống, phát âm.
Do đó, các bác sĩ đã áp dụng kỹ thuật tạo hình vi phẫu - kỹ thuật tiên tiến nhất trong tạo hình cho người bệnh sau phẫu thuật. Bác sĩ lấy vạt da cánh tay của BN để tạo hình lưỡi, vạt được thiết kế vừa vặn, đảm bảo tốt chức năng nói, nuốt, không ảnh hưởng đến đường thở, không phải mở khí quản. Dưới kính hiển vi phẫu thuật phóng đại, các phẫu thuật viên có thể quan sát chi tiết, nối từng mạch máu, sợi thần kinh siêu nhỏ của vạt mô đó với mạch máu vùng cổ để nuôi sống phần lưỡi mới tái tạo. 5 ngày sau ca phẫu thuật thành công, BN đã có thể tự ăn uống qua đường miệng, nói chuyện khá tốt với người xung quanh.