Tin Gốc: Thanh Niên
Đời Sống
'Con thấy mẹ ngồi khóc giữa đêm…': Một góc nhìn khác về những năm tháng cũ

Không kể bằng những trận đánh hay khói lửa dữ dội, Con đã thấy gì?? chọn nhìn về những năm tháng cũ qua ánh mắt của Mẫn, cô bé 14 tuổi sống trong gia đình có người thân hoạt động cách mạng bí mật giữa lòng Sài Gòn. Ở đó, ký ức hiện lên bằng những đêm người mẹ lặng lẽ khóc một mình, những lần chờ đợi trong im lặng và cả những câu hỏi ngây thơ chưa từng có lời đáp.
MV sử dụng những cảnh quay được cắt ra từ bộ phim cùng tên do Huy Thăng làm đạo diễn, viết kịch bản cùng 2 biên kịch Phúc Trần và Linh Đan.
Cốt truyện bộ phim được Huy Thăng xây dựng từ câu chuyện thật của một gia đình ở TP.HCM có các thành viên là chiến sĩ Biệt động Sài Gòn những năm 1960. Bộ phim, MV và lời bài hát thể hiện góc nhìn về chiến tranh qua lăng kính của Mẫn.
Chiến tranh qua góc nhìn của Mẫn không phải là những trận đánh khốc liệt mà chính từ những biến động trong ngôi nhà của cô bé. Nơi đây, những chiến sĩ sống dưới vỏ bọc bình dị để bảo vệ, chiến đấu vì lý tưởng giành lại độc lập dân tộc.
Ca khúc trong MV cũng là bài hát chính thức của bộ phim, do nhạc sĩ Huỳnh Võ Hoài Sơn sáng tác, được thể hiện bởi ca sĩ Du Uyên và nghệ sĩ Thanh Hằng. MV hiện có mặt trên các nền tảng nghe nhạc trực tuyến, nhận được phản hồi tích cực từ cộng đồng.
Là một người trẻ tuổi trưởng thành khi đất nước đã thống nhất, Huy Thăng biết về sự hy sinh của nhiều thế hệ cha anh qua những trang sách và lời kể của người thân. Ngay khi được lắng nghe câu chuyện của gia đình Biệt động Sài Gòn, chàng trai lập tức muốn kể lại bằng góc nhìn điện ảnh của mình.
"Năm ngoái, vào cột mốc 50 năm ngày đất nước thống nhất, cả nước đã được nghe, được thấy nhiều hình ảnh gợi nhớ về một thuở chiến tranh khốc liệt, hào hùng. Thông qua bộ phim và đặc biệt là MV Con đã thấy gì? ra mắt dịp 30.4 năm nay, tôi và ê kíp muốn gửi đến một góc nhìn khác về chiến tranh. Góc nhìn từ người thân của những anh hùng. Họ cũng là những người đã hy sinh rất nhiều, âm thầm nhưng mạnh mẽ và kiên cường", Huy Thăng nói.
Bài hát với những câu hỏi: "Mẹ ơi… tại sao? Lúc anh đi làm ăn xa lại chẳng mấy khi về? Hình như chẳng bao giờ" hay lời tự sự: "Con thấy mẹ ngồi khóc riêng mình giữa đêm, may mấy ngọn cờ, chờ thống nhất đôi bờ. Con thấy người mẹ khóc giữa mênh mông, trông đứa con vô vọng, chiến chinh dài 1 thời ký ức đau thương ở lại..." đã chạm đến trái tim người xem một cách nhẹ nhàng, tinh tế.
Về phim ngắn Con đã thấy gì?, đạo diễn Huy Thăng cho biết ê kíp mất khoảng 1 năm, từ khâu viết kịch bản đến quay phim cho đến hậu kỳ, thu hút khoảng 100 nhân lực tham gia. Bộ phim chính thức công chiếu tại Tiệc phim ngắn Nha Trang hôm nay 12.5.
Đạo diễn Võ Huy Thăng quê ở Cần Thơ, tốt nghiệp ngành Sư phạm tiếng Pháp. Anh bén duyên với làm phim từ hồi sinh viên. Năm 2019, Huy Thăng và phóng viên Đình Tuyển - Báo Thanh Niên giành Giải thưởng lớn (Grand Prix) tại Liên hoan phim Courrant 3D Angoulême (Pháp) với phim ngắn Trôi. Phim kể về cuộc đời của một nghệ sĩ đờn ca tài tử hết thời, sống bằng nghề buôn bán trái cây ở chợ nổi.
Sau khi tốt nghiệp đại học, Huy Thăng rẽ hướng, lên TP.HCM để học tập, theo đuổi đam mê làm phim của mình. Huy Thăng từng làm sáng tạo và đạo diễn cho nhiều MV nổi tiếng như Giờ thì (ca sĩ Bùi Trường Linh) đạt hơn 36 triệu lượt xem hay Bắt cóc con tim (ca sĩ OnlyC - Lou Hoàng) đạt hơn 22 triệu lượt xem trên YouTube.
Tin Gốc: Thanh Niên
Đời Sống
Sắp có lễ hội hơn 100 gian hàng ẩm thực, văn hóa ngay trung tâm TP.HCM

Giỗ tổ Hùng Vương mùng 10.3 âm lịch năm nay rơi vào chủ nhật, ngày 26.4.2026. Do đó, người lao động được nghỉ bù vào thứ hai, ngày 27.4. Dịp này, Thảo Cầm Viên Sài Gòn tổ chức Lễ hội Sắc màu Văn hóa lần 2 với chủ đề Bách Việt thăng hoa với hơn 100 gian hàng ẩm thực, văn hóa, trải nghiệm.
Lễ hội diễn ra từ ngày 22 - 27.4. Đáng chú ý, du khách đến lễ hội được miễn phí vé vào cổng từ 17 giờ đến 20 giờ 30.
Điểm hút khách nhất của lễ hội nằm ở không gian ẩm thực "Bách vị dâng Vương", nơi hội tụ món ngon từ khắp 3 miền. Chỉ cần bước vài bước chân ở các gian hàng ẩm thực, thực khách có thể "du lịch vị giác" từ Bắc vào Nam: từ bún chả, bánh cuốn thanh nhẹ của miền Bắc, đến bún bò Huế, mì Quảng đậm đà miền Trung, rồi kết thúc bằng bánh xèo, hủ tiếu Mỹ Tho, chè bưởi ngọt mát kiểu miền Nam.
Không gian ẩm thực được ví như một "bản đồ Việt Nam thu nhỏ", nơi mỗi gian hàng là một lát cắt văn hóa.
Đặc biệt, khu ẩm thực đất tổ Phú Thọ mang đến những món ăn gắn với thời Vua Hùng như bánh chưng, bánh giầy - biểu tượng thiêng liêng của trời đất và cội nguồn. Bên cạnh đó là thịt chua Thanh Sơn, món ăn lên men độc đáo với vị ngọt, thơm, chát nhẹ hòa quyện, khiến nhiều người tò mò muốn thử ngay lần đầu. Những món dân dã như rau sắn muối chua hay chè xanh trung du cũng góp phần tạo nên trải nghiệm ẩm thực vừa lạ vừa quen.
Không kém phần hấp dẫn là giò chả Ước Lễ - đặc sản hơn 500 năm tuổi của vùng Kinh kỳ. Những khoanh giò trắng mịn, chả quế vàng thơm, giã tay hoàn toàn không phụ gia, vừa là món ngon vừa là câu chuyện về sự tỉ mỉ của làng nghề truyền thống.
Ngoài ăn uống, lễ hội còn có màn diễu hành cổ phục "Tiên thường tuần du", nơi hàng trăm người mặc trang phục truyền thống đi xuyên Thảo Cầm Viên, tạo nên khung cảnh như "xuyên không" giữa trung tâm TP.HCM. Những nghi lễ như múa bóng rỗi, hội tụ linh sắc, học trò lễ cũng được tái hiện, vừa lạ mắt vừa đậm màu sắc văn hóa dân gian.
Khu trải nghiệm cũng hứa hẹn đông khách với các hoạt động như mặc Việt phục chụp ảnh, check-in lồng đèn khổng lồ rực rỡ buổi tối, thử xăm văn thân phong cách Việt cổ hay tham gia các workshop làm đồ thủ công. Đây là những góc "sống ảo" được dự đoán sẽ phủ sóng mạng xã hội trong những ngày diễn ra lễ hội.
Tin Gốc: Thanh Niên

Cách trung tâm thành phố Huế khoảng 5 - 7 km, chùa Diệu Viên không chỉ là nơi tu hành thanh tịnh mà còn là biểu tượng của lòng từ bi, nơi dung dưỡng những mảnh đời bất hạnh. Là ngôi chùa sư nữ đầu tiên tại cố đô, Diệu Viên đã tồn tại hơn 1 thế kỷ, chứng kiến sự thăng trầm của Phật giáo Việt Nam và góp phần quan trọng vào đời sống tinh thần, từ thiện xã hội của vùng đất thần kinh.
Có thể nói, lịch sử chùa Diệu Viên gắn liền với truyền thống Phật giáo Huế, nơi vốn là cái nôi của nhiều danh lam thắng cảnh từ thời chúa Nguyễn đến triều nhà Nguyễn. Theo các tài liệu lịch sử, trước khi trở thành ni viện, nơi đây từng là am thờ tự của một vị quan lớn triều vua Tự Đức (1847 - 1883).
Đến cuối triều vua Khải Định (1916 - 1925), khu đất được chuyển nhượng cho cụ bà Ưng Dinh (nhũ danh Hồ Thị Thế Anh), một phật tử mộ đạo. Cụ bà cùng một số cư sĩ khác đã quản lý và duy trì nơi thờ tự, dần dần chuyển hướng sang việc tiếp nhận ni cô tu hành.
Năm 1924, dưới sự phát tâm của các cư sĩ phật tử và cụ bà Ưng Dinh cùng bà Nguyễn Thị Khương, chùa được chính thức xây dựng trên một ngọn đồi thuộc xã Thanh Thủy. Sư bà Thích Nữ Hướng Đạo, thế danh Phan Thị Huệ, sinh năm 1905 tại Quảng Điền (Huế) đang tu học tại chùa Từ Hiếu được thỉnh về khai sơn trụ trì.
Đây là mốc son quan trọng, đánh dấu sự ra đời của ngôi chùa sư nữ đầu tiên tại Huế. Chùa ban đầu khá khiêm tốn, nằm sâu trong núi, giữa không gian thâm sơn cùng cốc, với cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ bao quanh: núi Ngũ Phong làm hậu chẩm, mang lại khí thiêng liêng và thanh tịnh.
Chỉ 2 năm sau, vào cuối năm 1926, dưới triều vua Bảo Đại, chùa được ban sắc tứ "Diệu Viên Sư Nữ Tự". Danh hiệu này không chỉ khẳng định vị thế pháp lý mà còn ghi nhận công đức của ni chúng trong việc hoằng dương Phật pháp. Sư bà Hướng Đạo, với đức hạnh và tài năng, đã nhanh chóng thu hút nhiều ni cô và Phật tử về tu học, biến nơi đây thành trung tâm tu hành cho ni giới.
Từ một am nhỏ, chùa Diệu Viên không ngừng được trùng tu, mở rộng để đáp ứng nhu cầu tu học và hoạt động từ thiện. Các đợt trùng tu lớn diễn ra trong nhiều năm, trong đó năm 1929 là lần trùng tu đầu tiên sau khi thành lập, củng cố kiến trúc cơ bản và mở rộng khuôn viên. Vào năm 1953 được mở rộng quy mô, xây dựng thêm các công trình phụ trợ.
Mãi cho đến năm 2001 chùa được trùng tu hoàn chỉnh và quan trọng nhất, khánh thành ngày 23.3.2001. Chùa trở nên khang trang, thanh tịnh hơn với kiến trúc truyền thống Huế: mái cong, cột gỗ, tường rào chỉnh chu, hài hòa với thiên nhiên. Chùa quay hướng tây nam, tạo không gian thoáng đãng, yên bình.
Kiến trúc chùa mang đậm phong cách cổ kính Huế, chính điện thờ Phật Thích Ca, các gian thờ Bồ tát Quan Âm, các vị tổ sư ni giới. Khuôn viên rộng lớn với vườn cây, ao sen, tạo cảm giác an lạc. Từ chỗ "thâm sơn cùng cốc", nhờ đường Võ Văn Kiệt mở ra và đô thị hóa, chùa nay trở thành điểm đến dễ dàng tiếp cận, thu hút Phật tử gần xa.
Sau khi sư bà Hướng Đạo viên tịch năm 1974 (bây giờ tháp yên nghỉ của sư bà Thích Nữ Hướng Đạo vẫn còn tại khuôn viên chùa), các ni trưởng kế nhiệm như sư bà Thích Chơn Thông rồi kế tiếp là ni trưởng Thích Nữ Chơn Hiền tiếp tục dẫn dắt chùa.
Không gian xanh mát ở chùa
ẢNH: ĐÀO MINH TUẤN
Ni trưởng Chơn Hiền trụ trì lâu năm, góp phần phát triển mạnh mẽ các hoạt động từ thiện. Hiện nay, sau khi sư bà Chơn Hiền viên tịch, chùa vẫn duy trì truyền thống ni giới Bắc tông với sự dẫn dắt của các ni trưởng cao tuổi nên ni chúng siêng năng tu học và phục vụ chúng sinh.
Điều làm nên tên tuổi Diệu Viên không chỉ là việc tu hành mà còn là tinh thần "từ bi hỷ xả" qua các hoạt động thực tiễn. Từ những năm 1950 - 1960, chùa đã tiên phong trong việc nhập thế giúp đời vào năm 1958, mở cơ sở sản xuất tương chao, nhang trầm, bánh trái - vừa tự túc kinh tế, vừa tạo việc làm cho ni chúng và thanh thiếu nữ địa phương.
Đến năm 1959, ngôi chùa thành lập bệnh xá, khám chữa bệnh, cấp thuốc miễn phí cho đồng bào nghèo. Quan trọng hơn là vào năm 1960, mở viện dưỡng lão, tiếp nhận cụ già neo đơn, tàn tật. Viện dưỡng lão đã tồn tại cho đến hôm nay.
Viện dưỡng lão Diệu Viên là mái ấm cho hàng chục cụ già bất hạnh. Dù có lúc gián đoạn do thiếu kinh phí, viện vẫn hoạt động trở lại nhờ sự hỗ trợ của phật tử và nhà hảo tâm. Các cụ được chăm sóc chu đáo hằng ngày với 3 bữa ăn ngon, thuốc men, sinh hoạt tinh thần. Nhiều câu chuyện cảm động về những mảnh đời lưu lạc được ni cô dỗ dành, xoa dịu.
Chùa còn mở trường mẫu giáo phục vụ cộng đồng và các hoạt động từ thiện khác. Những hoạt động này không chỉ giúp đỡ cộng đồng mà còn góp phần lan tỏa hình ảnh Phật giáo nhập thế, gần gũi với đời sống nhân dân Huế.
Chùa Diệu Viên là minh chứng sống động cho sự phát triển của ni giới Phật giáo Việt Nam đầu thế kỷ 20, khi ni chúng bắt đầu có vai trò độc lập hơn trong hoằng pháp. Là ngôi chùa nữ đầu tiên trên đất Huế, chùa mở đường cho nhiều ni viện khác sau này như Diệu Đức, Diệu Nghiêm.
Về văn hóa, chùa gắn bó với di sản Huế - vùng đất "thiền môn". Kiến trúc, nghi lễ và sinh hoạt ni chúng góp phần bảo tồn bản sắc Phật giáo Huế: thanh tịnh, trang nghiêm nhưng gần gũi. Du khách đến đây không chỉ chiêm bái mà còn cảm nhận sự bình an giữa non nước hữu tình.
Hiện nay, chùa tiếp tục phát triển bền vững. Diệu Viên trở thành điểm tham quan tâm linh lý tưởng cho du khách trong và ngoài nước. Mỗi dịp lễ lớn như Phật đản, Vu lan, đông đúc phật tử hành hương về chùa.
Hơn 100 năm tồn tại, chùa Diệu Viên từ một am nhỏ đã vươn mình thành ni viện danh tiếng, biểu tượng của lòng từ bi và sự kiên trì
Hơn 100 năm tồn tại, chùa Diệu Viên từ một am nhỏ đã vươn mình thành ni viện danh tiếng, biểu tượng của lòng từ bi và sự kiên trì. Sự hình thành gắn với công đức của sư bà Hướng Đạo và các cư sĩ tiền bối, sự phát triển nhờ tinh thần nhập thế của ni chúng qua các thập kỷ. Trong dòng chảy lịch sử Huế, Diệu Viên không chỉ là nơi thờ tự mà còn là "bóng mát cuộc đời" cho muôn vàn phận người.
Đến với Diệu Viên, nhiều người sẽ cảm nhận được hơi thở của Phật pháp giữa thiên nhiên Huế mộng mơ. Ngôi chùa khiêm nhường nhưng rạng rỡ ánh từ bi, tiếp tục viết tiếp hành trình hoằng dương chính pháp và cứu độ chúng sinh trên mảnh đất cố đô thiêng liêng. Đây không chỉ là di sản kiến trúc - lịch sử mà còn là bài học sống về lòng nhân ái, đáng để thế hệ hôm nay và mai sau gìn giữ và phát huy.
Tin Gốc: Thanh Niên

