Ngày 27-4, Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Đắk Lắk cho biết địa phương vừa ghi nhận 2 ca mắc viêm não mô cầu, trong đó 1 trẻ em do bệnh quá nặng đã không qua khỏi.
Bệnh nhân đã qua đời là bé N.D.T.Ê. (2 tuổi). Theo bệnh án, bé Ê. xuất hiện triệu chứng sổ mũi từ ngày 23, đến ngày 25-4 thì sốt cao, nôn ói, li bì nên được đưa đi khám, sau đó chuyển Bệnh viện Đa khoa vùng Tây Nguyên điều trị.
Dù được tích cực cứu chữa, tuy nhiên đến sáng 26-4 bé không qua khỏi. Bé Ê. chưa được tiêm vắc xin phòng bệnh.
Ngoài ra ông N.Đ.Q., chú ruột bé Ê., cũng dương tính với vi khuẩn não mô cầu. Ông có triệu chứng ho, mệt mỏi và đang được cách ly, điều trị.
Ngành y tế đã khẩn trương truy vết, lấy mẫu các trường hợp tiếp xúc gần, cho uống kháng sinh dự phòng và xử lý môi trường tại khu vực liên quan.
Theo Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Đắk Lắk, viêm não mô cầu là bệnh truyền nhiễm cấp tính, lây qua đường hô hấp, có thể diễn tiến nhanh và nguy hiểm. Ngành y tế khuyến cáo người dân tiêm vắc xin phòng bệnh, giữ vệ sinh cá nhân và đến cơ sở y tế khi có dấu hiệu nghi ngờ.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Ngày 15.4 tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội, một bé trai chào đời với cân nặng 2,4 kg bằng phương pháp sinh mổ khi thai nhi được 38 tuần tuổi. Trước đó 13 tuần, chị gái song sinh của bé trai này đã chào đời non tháng khi được 25 tuần tuổi, với cân nặng 650 gr.
32 tuổi, ở Bắc Ninh, mang thai nhờ IVF, nhập viện tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội khi song thai được 20 tuần tuổi do nguy cơ sinh non, cổ tử cung bắt đầu mở 2 - 3 cm, một thai sa thấp. Khi thai được 25 tuần tuổi, sản phụ chuyển dạ sinh thường bé gái đầu lòng. Do là trường hợp sinh cực non, bé gái được hồi sức sơ sinh và chuyển đến chăm sóc đặc biệt tại Bệnh viện Nhi T.Ư.
Thai nhi thứ hai của song thai này tiếp tục được bác sĩ của Bệnh viện Phụ sản Hà Nội giữ lại trong bụng mẹ với sự hỗ trợ sát sao về y tế. Trong 13 tuần "nuôi dưỡng" thai nhi trong bụng mẹ, các bác sĩ đã phối hợp rất chặt chẽ các chuyên khoa: sản, nhi, gây mê - chống nhiễm khuẩn; theo dõi chặt chẽ diễn biến sức khỏe sản phụ, các chỉ số bạch cầu, thân nhiệt để có các chỉ định phù hợp, đảm bảo an toàn cho mẹ và thai. Quá trình điều trị, chăm sóc, các bác sĩ phải khống chế nhiễm trùng, giảm cơn co ở người mẹ, chống phù não thai nhi…
TS Mai Trọng Hưng, Giám đốc Bệnh viện Phụ sản Hà Nội, chia sẻ: Thai nhi được phát triển trong bụng mẹ có ý nghĩa quan trọng đến sự phát triển, hoàn thiện của thai nhi và sức khỏe của em bé sau khi chào đời, đặc biệt cần thiết cho sự phát triển của phổi, tim mạch.
Để giữ lại được thai nhi trong bụng mẹ suốt 13 tuần là thử thách rất lớn về chuyên môn, trước thực tế người mẹ vẫn có nguy cơ sinh non do cơn co "đẩy" thai; thai có nguy cơ nhiễm trùng rất cao, đồng thời cũng lo ngại về sự phát triển thai nhi do được giữ lại trong điều kiện không hoàn toàn bình thường, vì mẹ đã vỡ ối sinh non bé gái trước đó.
Bé trai nêu trên - trường hợp có nguy cơ sinh cực non (khi 25 tuần tuổi) được kéo dài đến khi trưởng thành về tuổi thai, về sự phát triển, và chào đời khi được 38 tuần tuổi - là ca đầu tiên tại VN. Sức khỏe của mẹ và bé trai hiện hoàn toàn bình thường. Trước đây đã có các trường hợp trẻ có nguy cơ sinh non khi thai 25 - 26 tuần được kéo dài đến 30 - 31 tuần.
Theo TS Mai Trọng Hưng, thành công trong việc nuôi dưỡng thêm 13 tuần tuổi, tránh sinh cực non không chỉ giúp bé chào đời, phát triển tốt mà góp phần cho khởi đầu xây dựng các phác đồ điều trị mới, nhằm kéo dài thai kỳ trong những trường hợp bệnh lý phức tạp, thai kỳ nguy cơ cao. Vì các bé được sinh ra khi thai ngoài 30 tuần tuổi thì khả năng hoàn thiện về sự phát triển (tim, phổi…) cao. Nếu sinh non và cực non (dưới 27 tuần tuổi) thì sự phát triển của em bé sẽ rất khó khăn.
Đây là một trong những ca kéo dài thai kỳ lâu nhất sau khi đã sinh một thai, tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội. Thai kỳ thứ hai được duy trì thêm 13 tuần, từ tuần 26 - 38, là trường hợp thành công hiếm gặp tại VN và thế giới.
Tin Gốc: Thanh Niên

Bác sĩ Dương Minh Tuấn, Khoa Nội tiết Đái tháo đường, Bệnh viện Bạch Mai, cho biết người đái tháo đường không cần kiêng hoàn toàn hoa quả nhưng nên ưu tiên hoa quả nguyên miếng, nguyên múi, thay vì nước ép. Bởi, khi ăn một múi cam, một miếng táo hay vài quả dâu, cơ thể phải nhai, nghiền, tiêu hóa rồi mới giải phóng đường ra từ từ. Chất xơ trong trái cây làm chậm rỗng dạ dày, làm chậm hấp thu glucose tại ruột, nhờ đó đường máu sau ăn thường tăng chậm hơn.
Khi ép trái cây, máy ép đã phá vỡ cấu trúc tế bào, tách nước đường ra khỏi phần bã xơ. Một cốc nước cam, nước táo hay nước nho có thể chứa lượng đường của 2–4 quả, nhưng lại gần như không còn đủ phần xơ nguyên vẹn để làm chậm hấp thu.
Nước ép và sinh tố thường có phần chất xơ bị loại bỏ hoặc bị phá vỡ, khiến đường trong trái cây trở thành dạng "free sugars" dễ hấp thu hơn. Nước ép dễ uống một lượng lớn trong thời gian ngắn, làm tăng tổng năng lượng và carbohydrate nạp vào.
"Vì vậy, người bệnh có thể thấy một hiện tượng khi ăn một quả cam thì đường máu tăng ít, nhưng uống một cốc nước cam ép thì đường máu vọt lên nhanh", bác sĩ nói.
Ngoài ra, nước ép làm cơ thể mất cảm giác no, dễ nạp nhiều carbohydrate hơn mà không nhận ra. Chưa kể nhiều loại nước ép còn có thêm đường, sữa đặc, syrup hoặc dùng lượng trái cây rất lớn. Do đó, người đái tháo đường nên ưu tiên ăn táo, lê, cam nguyên múi, bưởi, ổi, dâu tây, việt quất... Nên hạn chế xoài chín, mít, nhãn, vải, sầu riêng, nho ngọt...
Bác sĩ khuyến cáo 5 nguyên tắc khi ăn hoa quả:
Nên ăn quả nguyên miếng, nguyên múi thay vì uống nước ép. Cam nên ăn múi, táo nên ăn miếng, ổi nên ăn cả phần xơ, không nên biến thành nước ép lọc bã.
Không ăn quá nhiều một lần. Mỗi lần chỉ nên dùng một khẩu phần vừa phải, ví dụ một quả táo nhỏ, một quả lê nhỏ, một miếng bưởi vừa, một bát nhỏ dâu, hoặc một phần trái cây tương đương khoảng 15 g carbohydrate tùy kế hoạch ăn của từng người.
Không uống nước ép để "bồi bổ" hằng ngày. Nếu rất muốn dùng, nên giới hạn lượng nhỏ, tốt nhất dùng trong bữa ăn và phải tính vào tổng lượng carbohydrate. Chỉ nên giới hạn khoảng một ly nhỏ 150 ml/ngày, nhưng với người đường máu đang kiểm soát kém, tốt nhất vẫn nên ưu tiên quả nguyên miếng.
Nên ăn trái cây sau bữa chính hoặc trong bữa phụ có kiểm soát, tránh uống nước ép lúc đói. Khi ăn cùng bữa có đạm, chất béo tốt và chất xơ, tốc độ hấp thu đường thường chậm hơn so với dùng đơn độc.
Theo dõi đường máu sau ăn để hiểu cơ thể mình.
Tin Gốc: Vnexpress
Sức Khỏe
Vaccine cúm mùa 2026 và sự biến đổi của virus cúm: Những thông tin cần biết

Trong những tháng đầu năm 2026, virus cúm đã có những biến đổi đáng chú ý. Cụ thể là ở chủng cúm A/H3N2, với một biến thể mới (variants) - biến thể K (J.2.4.1) - đã được ghi nhận lưu hành ưu thế. Theo dữ liệu từ Trung tâm Kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC), biến thể này được phát hiện lần đầu vào tháng 8.2025 và sau đó nhanh chóng được ghi nhận tại hơn 34 quốc gia. Đến cuối năm 2025, biến thể K đã chiếm khoảng 50% số ca cúm tại châu Âu, cho thấy virus cúm vẫn đang tiếp tục thay đổi và lan rộng theo thời gian.
Theo PGS-TS-BS Cao Hữu Nghĩa, Trưởng bộ môn Khoa học y sinh - Viện Pasteur TPHCM, điểm đáng chú ý của biến thể K là có nhiều thay đổi ở gen hemagglutinin (HA) - gen tạo ra các "gai" trên bề mặt virus. Những gai này giúp virus bám và xâm nhập vào tế bào hô hấp ở người. Vì đây là vị trí rất quan trọng, nên khi cấu trúc này thay đổi, virus sẽ khác biệt so với các chủng cúm trước đây làm cho kháng thể của vaccine cúm mùa cũ có thể không nhận diện được. Bên cạnh virus cúm A/H3N2, virus cúm A/H1N1 và B vẫn đồng lưu hành với sự gia tăng của các đột biến mới.
Về mặt lâm sàng, mùa cúm 2025-2026 tại Hoa Kỳ được ghi nhận là một trong những mùa có tỷ lệ mắc bệnh hô hấp cao nhất trong vòng 30 năm qua. Tính đến tháng 12.2025, biến thể K chiếm 89% các virus A/H3N2 được phân tích, gây ra ít nhất 2,9 triệu ca bệnh, khoảng 30.000 ca nhập viện và 1.200 ca tử vong.
Ở châu Á, một số quốc gia cũng ghi nhận những thay đổi trong diễn biến cúm mùa. Nhật Bản ghi nhận mùa cúm nặng và đến sớm từ đầu tháng 10.2025. Úc và New Zealand cũng trải qua mùa cúm kéo dài bất thường do sự xuất hiện của biến thể K vào cuối mùa cúm 2025.
Trong bối cảnh đó, PGS Cao Hữu Nghĩa nhấn mạnh việc cập nhật vaccine cúm hằng năm là một phần quan trọng trong chiến lược phòng bệnh chung. PGS cho biết, hằng năm, Tổ chức Y tế Thế giới dựa trên hệ thống giám sát toàn cầu để khuyến nghị thành phần vaccine cúm phù hợp. Các nhà sản xuất sẽ cập nhật vaccine dựa trên những khuyến nghị này. Vaccine "cập nhật" không có nghĩa là vaccine mới hoàn toàn. Công nghệ sản xuất vẫn sử dụng những phương pháp đã được ứng dụng lâu năm và rộng rãi, vaccine vẫn trải qua các bước kiểm định chất lượng nghiêm ngặt theo tiêu chuẩn quốc tế, và sau khi đưa vào sử dụng vẫn được theo dõi liên tục về an toàn và hiệu quả.
Hiện nay, vaccine cúm cập nhật chủng mới 2026 đã có mặt tại Việt Nam. Vaccine này đã được điều chỉnh thành phần theo khuyến cáo của WHO để phù hợp hơn với các chủng virus cúm đang lưu hành, trong đó có biến thể K của cúm A/H3N2. Nhờ vậy, hiệu quả bảo vệ dự kiến sẽ được tối ưu hơn trong mùa cúm sắp tới.
Từ góc độ y tế cộng đồng, PGS-TS-BS Cao Hữu Nghĩa cho rằng tiêm vaccine cúm hằng năm là biện pháp chủ động và cần thiết, giúp cơ thể duy trì hàng rào bảo vệ trước sự biến đổi không ngừng của virus cúm. Việc tiêm vaccine được cập nhật chủng ngay khi sẵn có giúp giảm nguy cơ mắc cúm, hạn chế biến chứng nặng, đặc biệt ở trẻ nhỏ, phụ nữ mang thai, người có bệnh nền và người cao tuổi.
Bên cạnh đó, cần kết hợp các biện pháp nâng cao sức khỏe như duy trì chế độ dinh dưỡng hợp lý, tăng cường vận động thể chất, ngủ đủ giấc, cùng với việc giữ vệ sinh cá nhân và môi trường sống nhằm củng cố hệ miễn dịch, giảm nguy cơ lây nhiễm cúm và các bệnh đường hô hấp khác.
Tin Gốc: Thanh Niên

