Và để đạt được các mục tiêu này, ngành y tế TP.HCM đang tăng tốc triển khai chương trình khám sức khỏe toàn dân theo đúng tinh thần Nghị quyết 72, Chỉ thị số 17 của Thủ tướng Chính phủ và hướng dẫn chuyên môn của Bộ Y tế.
PGS Nguyễn Anh Dũng – Phó giám đốc Sở Y tế TP.HCM – nhận định việc khám sức khỏe định kỳ miễn phí cho người dân TP là một nhiệm vụ chính trị trọng tâm của ngành y tế trong năm 2026, cụ thể hóa chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước về chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe Nhân dân, với quan điểm xuyên suốt “Sức khỏe là vốn quý nhất của mỗi người dân và của toàn xã hội”.
Để hiện thực hóa mục tiêu này, Sở Y tế đã kịp thời nghiên cứu, cập nhật dự thảo và tham mưu UBND TP ban hành kế hoạch, bảo đảm đúng quy định, sát thực tiễn và khả thi khi triển khai.
Kế hoạch triển khai bắt đầu từ tháng 5-2026. Về quy mô, dự kiến khám cho khoảng 15 triệu lượt người dân trong năm 2026, với mục tiêu 100% người dân tại 168 phường, xã, đặc khu được khám ít nhất một lần mỗi năm.
PGS Nguyễn Anh Dũng cho hay trong năm 2026, tổng kinh phí dự kiến thực hiện trong khám sức khỏe cho người dân là khoảng 2.507 tỉ đồng cho 10,3 triệu lượt người dân.
Chưa kể hơn 4,5 triệu lao động chính thức, do tổ chức sử dụng lao động có trách nhiệm tổ chức khám sức khỏe định kỳ cho người lao động.
Mức tổng chi phí khám cho mỗi người dân được khống chế không vượt quá 350.000 đồng/người/lần/năm. Và trong quý 2-2026 sẽ có 9 xã, đặc khu phấn đấu cơ bản hoàn thành khám sức khỏe toàn dân.
PGS Tăng Chí Thượng – Giám đốc Sở Y tế TP.HCM – cho biết thực tiễn cũng cho thấy rất rõ nếu hệ thống y tế chỉ tập trung vào điều trị khi người dân đã mắc bệnh, thì sẽ luôn đối mặt với tình trạng quá tải, chi phí cao và hiệu quả chăm sóc sức khỏe khó đạt mức tối ưu.
Chính vì vậy ngành y tế TP xác định khám sức khỏe, khám tầm soát, khám sàng lọc và quản lý sức khỏe người dân là một nhiệm vụ trọng tâm, có ý nghĩa chiến lược lâu dài, song hành với hoạt động khám chữa bệnh.
Quan trọng hơn, khám sức khỏe không nên dừng lại ở việc “khám xong rồi để đó”, mà phải gắn với quản lý sức khỏe liên tục tại y tế cơ sở, cập nhật dữ liệu sức khỏe theo thời gian thực và có cơ chế theo dõi, can thiệp sớm khi phát hiện nguy cơ.
Ngành y tế TP.HCM xác định cần huy động toàn bộ hệ thống y tế cùng tham gia khám cho người dân gồm các bệnh viện công lập và ngoài công lập, phòng khám đa khoa, trung tâm y tế khu vực, trạm y tế phường, xã, đặc khu cùng các lực lượng y tế cộng đồng…
Trao đổi với Tuổi Trẻ Online, bác sĩ Trần Văn Sóng – Giám đốc Bệnh viện Nhân dân 115 – cho biết bệnh viện đã bố trí toàn bộ khu vực lầu 4, khoa khám bệnh tại mặt tiền đường Thành Thái và Dương Quang Trung để triển khai 6 phòng khám sàng lọc sức khỏe cho người dân, với quy trình khám một chiều khép kín từ khâu đón tiếp, khám chuyên khoa, lấy mẫu xét nghiệm…
Theo chỉ đạo của Sở Y tế, bệnh viện cũng đã thành lập 15 đội khám sàng lọc sức khỏe, sẵn sàng tham gia công tác khám bệnh tại bệnh viện, trạm y tế, cơ quan đơn vị và cộng đồng.
Ngày 19.6, tại TP.HCM diễn ra hội nghị VNNIC Internet Conference 2026 với chủ đề "Chuyển đổi IPv6-Only - Giải pháp triển khai theo lộ trình quốc gia".
Tham dự hội nghị có ông Phạm Đức Long, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ; ông Lâm Đình Thắng, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM; ông Nguyễn Trường Giang, quyền Giám đốc Trung tâm Internet Việt Nam (VNNIC) cùng nhiều chuyên gia, kỹ sư hàng đầu về Internet tại Việt Nam và quốc tế.
Phát biểu chỉ đạo, Thứ trưởng Phạm Đức Long nhấn mạnh ,IPv6-Only là bước phát triển tất yếu của internet thế hệ mới. IPv6 không chỉ giải quyết bài toán cạn kiệt địa chỉ internet mà còn mở ra một không gian phát triển mới cho nền kinh tế số.
Với khả năng kết nối trực tiếp quy mô lớn, đơn giản hóa kiến trúc mạng, nâng cao hiệu quả vận hành và tăng cường an toàn, IPv6-Only đang trở thành nền tảng hạ tầng internet của kỷ nguyên AI (trí tuệ nhân tạo), Cloud, IoT, 5G/6G và internet công nghiệp.
"Chuyển đổi IPv6-Only không chỉ là chuyển đổi công nghệ. Đây là quá trình hiện đại hóa hạ tầng internet quốc gia, tạo nền móng cho sự phát triển của các trung tâm dữ liệu, điện toán đám mây, mạng viễn thông thế hệ mới, nền tảng số, dịch vụ số và các hệ sinh thái đổi mới sáng tạo", Thứ trưởng Long chia sẻ.
Chia sẻ tại hội nghị, ông Nguyễn Trường Giang cho biết sau hơn 10 năm thúc đẩy triển khai IPv6, Việt Nam đã đạt nhiều kết quả quan trọng. Hiện tỷ lệ sử dụng IPv6 năm 2025 đạt gần 70%, cao gấp 1,6 lần mức trung bình toàn cầu, đưa Việt Nam lên vị trí thứ 7 thế giới và thứ 2 ASEAN.
Đến nay, khoảng 95 triệu thuê bao internet băng rộng đang sử dụng và hoạt động tốt với IPv6. Bên cạnh đó, 86% bộ, ngành và địa phương đã đổi IPv6 cho cổng thông tin điện tử, cổng dịch vụ công và các hệ thống kết nối internet. Khoảng 73% cơ quan đã quy hoạch mạng sử dụng địa chỉ IP và số hiệu mạng độc lập.
Tại hội nghị, các chuyên gia quốc tế đã chia sẻ kinh nghiệm triển khai IPv6-Only cũng như các giải pháp xây dựng hạ tầng internet nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển AI và nền kinh tế số.
Ông Tony Smith, Phó giám đốc Trung tâm thông tin mạng châu Á - Thái Bình Dương, cho rằng thành công của một quá trình chuyển đổi quy mô lớn không đến từ nỗ lực của riêng một tổ chức hay doanh nghiệp mà cần sự tham gia đồng bộ của tất cả các bên liên quan.
Theo ông, việc kết nối, chia sẻ thông tin và phối hợp hành động giữa cơ quan quản lý, doanh nghiệp và cộng đồng internet chính là yếu tố quyết định thành công của quá trình chuyển đổi.
"Đây cũng chính là điều VNNIC đang thực hiện. Thế giới có rất nhiều điều có thể học hỏi từ hành trình chuyển đổi IPv6-Only của Việt Nam", ông Tony Smith nhận định.
Nhân dịp này, VNNIC cũng công bố bộ tiêu chí đánh giá mức độ chuyển đổi IPv6-Only dành cho cơ quan nhà nước, doanh nghiệp và các tổ chức. Bộ tiêu chí sẽ là cơ sở theo dõi, đo lường tiến độ triển khai chương trình thúc đẩy chuyển đổi IPv6-Only giai đoạn 2026 - 2030.
Trước đó, chiều 18.6, tại Hội nghị tổng kết chương trình IPv6 giai đoạn 2021 - 2025, Thứ trưởng Phạm Đức Long đã trao bằng khen của cho các đơn vị có thành tích xuất sắc trong triển khai IPv6 giai đoạn này.
Bộ Quốc phòng đang lấy ý kiến dự thảo nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của 3 nghị định quy định chế độ trợ cấp một lần khi thôi phục vụ trong quân đội đối với sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân và viên chức quốc phòng.
Theo dự thảo, sĩ quan thuộc diện dôi dư do thay đổi tổ chức, biên chế; hết hạn tuổi giữ chức vụ chỉ huy nhưng quân đội không còn nhu cầu bố trí; hoặc tự nguyện nghỉ trước hạn do sắp xếp bộ máy, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ sẽ được hưởng trợ cấp một lần bằng 5 tháng tiền lương cho mỗi năm nghỉ hưu trước tuổi. Mức hiện hành là 3 tháng tiền lương.
Chính sách này cũng áp dụng với trường hợp được kết luận không còn đủ điều kiện sức khỏe để tiếp tục phục vụ trong quân đội.
Bộ Quốc phòng đồng thời đề xuất sĩ quan nghỉ hưu trước tuổi nhưng vẫn đủ điều kiện hưởng lương hưu theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội sẽ không bị giảm tỷ lệ hưởng lương hưu do nghỉ sớm.
Ngoài lương hưu, người nghỉ hưu trước tuổi còn được hưởng trợ cấp theo thời gian công tác có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc. Người có từ đủ 20 năm công tác trở lên được trợ cấp 5 tháng tiền lương cho 20 năm đầu công tác; từ năm thứ 21 trở đi, mỗi năm được cộng thêm 0,5 tháng tiền lương. Người có từ đủ 15 năm đến dưới 20 năm công tác được trợ cấp 5 tháng tiền lương.
Tiền lương làm căn cứ tính trợ cấp là mức lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước thời điểm nghỉ hưu. Quân nhân chuyên nghiệp cũng được áp dụng các chính sách tương tự.
Dự thảo còn bổ sung chính sách hỗ trợ quân nhân tái hòa nhập thị trường lao động sau khi thôi phục vụ. Người phục viên sẽ được hỗ trợ đào tạo nghề, giới thiệu việc làm tại các cơ sở thuộc bộ, ngành, địa phương và các tổ chức kinh tế - xã hội.
Bộ Quốc phòng cho biết việc sửa đổi chính sách xuất phát từ thực tế chế độ trợ cấp hiện nay của sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp chưa thống nhất với chính sách áp dụng cho cán bộ, công chức, viên chức trong quá trình tinh giản biên chế.
Theo cơ quan soạn thảo, cùng nghỉ hưu trước tuổi do yếu tố sức khỏe hoặc chất lượng công tác, nhưng sĩ quan và quân nhân chuyên nghiệp hiện chỉ được hưởng trợ cấp bằng 3 tháng tiền lương cho mỗi năm nghỉ sớm, trong khi cán bộ, công chức, viên chức được hưởng 5 tháng tiền lương.
Bộ Quốc phòng cho rằng sự chênh lệch này chưa bảo đảm thống nhất giữa các nhóm đối tượng có điều kiện tương đồng. Việc sửa đổi nhằm tạo công bằng hơn giữa lực lượng quân đội với cán bộ, công chức, viên chức, đồng thời hỗ trợ quá trình sắp xếp, tinh gọn bộ máy trong quân đội thời gian tới.
Theo Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam, hạn tuổi cao nhất của sĩ quan phục vụ tại ngũ theo cấp bậc quân hàm gồm: cấp úy 50 tuổi, thiếu tá 52 tuổi, trung tá 54 tuổi, thượng tá 56 tuổi, đại tá 58 tuổi và cấp tướng 60 tuổi.
Bộ Quốc phòng dự kiến nếu nghị định được thông qua, ngân sách thực hiện chế độ trợ cấp một lần đối với các đối tượng thôi phục vụ trong quân đội sẽ khoảng gần 300 tỷ đồng, tăng thêm khoảng 140 tỷ đồng so với hiện nay.
Ngày 24/6, Công an tỉnh Thanh Hóa cho biết hài cốt an táng tại phần mộ số 52, hàng 2, lô B, khu B, Nghĩa trang Liệt sĩ Ngã Bảy - Phụng Hiệp (TP Cần Thơ) được xác định là liệt sĩ Nguyễn Trọng Cát, quê xã Minh Dân, tỉnh Thanh Hóa.
Ông sinh năm 1952, nguyên Trung đội phó chiến đấu tại chiến trường Nam Bộ và hy sinh ngày 20/10/1972 khi mới 20 tuổi. Do phần mộ không có đầy đủ thông tin, gia đình nhiều năm không biết nơi ông yên nghỉ.
Bước ngoặt đến từ đợt thu nhận mẫu sinh phẩm thân nhân liệt sĩ do Công an tỉnh Thanh Hóa triển khai năm 2025. Kết quả giám định và đối sánh ADN đã giúp cơ quan chức năng xác nhận danh tính người nằm trong phần mộ tại Nghĩa trang Liệt sĩ Ngã Bảy - Phụng Hiệp, khép lại hành trình tìm kiếm kéo dài hơn nửa thế kỷ của gia đình.
Theo Công an tỉnh Thanh Hóa, mẫu ADN của thân nhân liệt sĩ Nguyễn Trọng Cát nằm trong hơn 37.000 mẫu được thu nhận để xây dựng cơ sở dữ liệu ADN thân nhân liệt sĩ chưa xác định được danh tính. Đến nay, địa phương đã xác định được danh tính 8 liệt sĩ bằng phương pháp giám định ADN.
Trước đó, cơ quan chức năng cũng xác định được danh tính liệt sĩ Trịnh Văn Hai, quê huyện Hậu Lộc cũ, hy sinh trong kháng chiến chống Mỹ và được an táng tại Nghĩa trang Liệt sĩ Đức Cơ, tỉnh Gia Lai. Sau nhiều năm tìm kiếm không có kết quả, gia đình ông được lấy mẫu ADN trong đợt cao điểm do Công an tỉnh Thanh Hóa triển khai. Kết quả đối sánh đã giúp người thân biết được nơi an nghỉ của liệt sĩ, hoàn thành mong nguyện còn dang dở của người mẹ trước khi qua đời.
Một trường hợp khác là liệt sĩ Trịnh Quang Lâm, sinh năm 1952, quê xã Nga An, cũng được xác định danh tính thông qua giám định ADN.
Các lực lượng chức năng đang đẩy mạnh công tác tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ còn thiếu thông tin. Trong đó, Bộ Công an triển khai cao điểm thu nhận mẫu ADN thân nhân liệt sĩ, trong khi Bộ Quốc phòng thực hiện chiến dịch 500 ngày đêm nhằm đẩy nhanh tiến độ tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ.
Hiện cả nước còn hơn 330.000 liệt sĩ chưa xác định được danh tính. Việc xây dựng cơ sở dữ liệu ADN thân nhân liệt sĩ, kết nối với dữ liệu dân cư và ứng dụng công nghệ giám định được kỳ vọng sẽ mở thêm cơ hội đưa tên tuổi trở lại với những phần mộ còn khuyết danh.