Những năm gần đây, các quốc gia vùng Vịnh xem công nghệ tiên tiến là trụ cột cốt lõi của kế hoạch đa dạng hóa nền kinh tế. Trong đó, nguồn năng lượng hóa thạch dồi dào, năng lực phát điện quy mô lớn với giá tương đối rẻ, giúp nơi đây thành điểm đến hấp dẫn cho các dự án xây dựng trung tâm dữ liệu tiêu – nền tảng xương sống của AI và điện toán đám mây.
Cuộc đua giữa các nước ngày càng sôi động, với UAE tích cực hỗ trợ nhiều sáng kiến lớn, thông qua nền tảng đầu tư AI MGX và G42, đều do Mubadala – quỹ đầu tư quốc gia quy mô tài sản 385 tỷ USD – của Abu Dhabi thành lập
Trong khi, Arab Saudi muốn triển khai hàng chục tỷ USD vào AI và hạ tầng dữ liệu, thuộc khuôn khổ Vision 2030. Quỹ đầu tư nhà nước đang nắm giữ gần 1.000 tỷ USD của nước này hiện thực hóa tham vọng thông qua HUMAIN.
Thành lập năm ngoái, HUMAIN đã đạt được một số thỏa thuận, bao gồm hợp tác với xAI và AirTrunk cho các dự án trung tâm dữ liệu tại Arab Saudi. Amazon cũng đang hợp tác HUMAIN xây một trung tâm AI mới.
Qatar không muốn bỏ lỡ cơ hội và đã thành lập Qai. Công ty quốc doanh này kết hợp hoạt động cùng quỹ Qatar Investment Authority trị giá gần 600 tỷ USD và đang hợp tác với tập đoàn đầu tư và quản lý tài sản Brookfield (Canada).
Nhưng chiến sự Iran bất ngờ nổ ra cuối tháng hai, với 2 trung tâm dữ liệu của Amazon ở UAE đã bị nhắm mục tiêu. “Cuộc xung đột đang đưa hạ tầng AI ra tiền tuyến theo đúng nghĩa đen, điều chỉ 1-2 năm trước được xem là khó xảy ra”, bà Trisha Ray, Phó giám đốc kiêm nghiên cứu viên thường trú tại Geotech Center thuộc tổ chức nghiên cứu Hội đồng Đại Tây Dương (Mỹ), bình luận.
Hậu quả, các quyết định đầu tư vào một số dự án trung tâm dữ liệu ở vùng Vịnh đã tạm dừng hoặc tốn thêm thời gian. Gary Wojtaszek, CEO Pure Data Center Group thuộc Oaktree Capital Management, cho biết công ty đã tạm hoãn các quyết định đầu tư tại Trung Đông, dù vẫn tiếp tục “lập kế hoạch và thảo luận” về chúng.
Mark Richards tại hãng luật BCLP – chuyên tư vấn cho các dự án trung tâm dữ liệu quy mô lớn, cho biết các quyết định đầu tư đang mất nhiều thời gian hơn do rủi ro liên quan tới việc hoạt động trong khu vực có những mối đe dọa nghiêm trọng. Theo ông, những rủi ro vốn không nằm trong luận điểm đầu tư ban đầu nay đã được đưa vào quá trình định giá.
Theo bà Trisha Ray, cuộc chiến đã “đánh dấu một sự chuyển dịch”. Bởi trước đây, quản lý rủi ro chủ yếu tập trung vào các mối đe dọa an ninh mạng, gián đoạn kỹ thuật số, chứ không phải đe dọa mang tính quân sự trực tiếp. “Và điều này đã thay đổi, với các cuộc tấn công bằng máy bay không người lái”, bà chỉ ra.
Ngoài ra, lợi thế giá điện rẻ của vùng Vịnh cũng lung lay. Các nước như UAE từ lâu cung cấp giá điện công nghiệp tương đối thấp, khoảng 0,11 USD/kWh, so với mức 0,25 – 0,40 USD hoặc cao hơn tại nhiều khu vực ở châu Âu.
Theo CNBC, điện giá rẻ giờ không đảm bảo, khi thị trường năng lượng rung chuyển và eo biển Hormuz bị phong tỏa đã tạo ra đợt gián đoạn nguồn cung dầu lớn nhất lịch sử, theo Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA). Giá khí đốt tại UAE tăng 30% vào tháng 4. Giá dầu Brent cao hơn 55%, từ khoảng 72 USD mỗi thùng lên gần 120 USD lúc đỉnh điểm trong ba tháng qua.
Đối với vùng Vịnh, tác động ngày càng mang tính cấu trúc. Thị trường năng lượng thắt chặt và biến động gia tăng buộc các chính phủ phải chuyển phần chi phí tăng thêm sang người dùng công nghiệp lớn như trung tâm dữ liệu.
Về dài hạn, các “ông lớn” AI khu vực cho biết cuộc chiến không làm giảm tham vọng. Người phát ngôn G42 nói định hướng không thay đổi và niềm tin “chỉ ngày càng mạnh mẽ hơn”. Công ty tuyên bố AI sẽ “trở nên nền tảng đối với các nền kinh tế và xã hội giống như điện năng”.
CEO HUMAIN Tareq Amin khẳng định tham vọng chưa bao giờ giới hạn ở việc mở các trung tâm dữ liệu. “Chúng tôi đang xây dựng toàn bộ hệ sinh thái AI, từ hạ tầng trọng yếu và năng lực tính toán, cho tới mô hình, nền tảng và các ứng dụng”, ông cho biết. Ông chỉ ra Arab Saudi có lợi thế chiến lược về quy mô, với diện tích rộng lớn, nguồn năng lượng dồi dào, các hành lang kết nối tầm cỡ thế giới.
Ông Mark Richards từ BCLP cho biết vẫn đang nhận được nhiều yêu cầu mới liên quan tới các dự án trung tâm dữ liệu quy mô lớn ở Trung Đông. Trong khi, Gary Wojtaszek của Pure DC nói vẫn “rất lạc quan” và tiếp tục xúc tiến kế hoạch đầu tư tại UAE và Arab Saudi.
Khi được CNBC hỏi liệu có tạm hoãn đầu tư tại vùng Vịnh hay không, Amazon dẫn lại phát biểu của CEO Matt Garman rằng vẫn “hào hứng đầu tư dài hạn”. Google và Microsoft từ chối bình luận. Cisco và Oracle không phản hồi.
Dù vậy, cuộc xung đột cũng đã “phá vỡ ảo tưởng về sự ổn định dài hạn tại vùng Vịnh”, qua đó làm thay đổi giá trị đầu tư vào nơi đây, theo Aalok Mehta, Giám đốc Viện Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) tại Washington.
Trước đó, IEA ước tính tổng vốn đầu tư toàn cầu vào các trung tâm dữ liệu giai đoạn 2026-2030 sẽ đạt 3.900 tỷ USD, con số “quá lớn” để các công ty AI có thể tự mình xoay xở. PIF, quỹ dẫn dắt quá trình chuyển đổi kinh tế Arab Saudi, gần đây đã điều chỉnh chiến lược, cắt giảm hoặc thu hẹp một số “siêu dự án”.
Ông Aalok Mehta cho rằng phát triển các trung tâm dữ liệu trong tương lai nhiều khả năng đắt đỏ và mất nhiều thời gian hơn, do chi phí gia cố cơ sở hạ tầng, công nghệ chống máy bay không người lái, phí bảo hiểm tăng và những vấn đề liên quan đến chuỗi cung ứng.
Bà Ray tại Atlantic Council gợi ý “gia cố vật lý” các trung tâm dữ liệu, thậm chí xây dựng dưới lòng đất. Ngoài ra, nhà đầu tư nên cân nhắc đa dạng hóa ở nhiều nơi, kể cả nước ngoài. “Hạ tầng trung tâm dữ liệu mà UAE cần để đáp ứng tham vọng toàn cầu và khu vực không nhất thiết phải đặt hoàn toàn tại UAE”, bà ví dụ.
Mỗi sáng đi làm, chị Hồng (phường Gia Định, TP HCM) thường ghé quán ăn gần công ty rồi mua thêm ly cà phê mang đi. Nếu trước, một tô bún và ly cà phê chỉ tốn khoảng 60.000-75.000 đồng, nay chi phí đã lên gần 100.000 đồng.
"Từng món chỉ tăng 5.000-10.000 đồng nhưng cộng lại mỗi ngày tốn thêm khá nhiều", chị nói.
Giá các món ăn sáng phổ biến tại nhiều tuyến đường ở TP HCM đều tăng so với năm trước. Tại một quán bún bò trên đường Phan Văn Trị, phường Gò Vấp, giá một tô loại thường tăng từ 40.000 đồng lên 50.000 đồng. Một quán cơm tấm ở phường Xuân Hòa hiện bán 45.000-55.000 đồng mỗi phần, cao hơn khoảng 10.000 đồng so với trước.
Không chỉ bữa sáng, nhiều loại đồ uống cũng lập mặt bằng giá mới. Tại một quán cà phê trên đường Nguyễn Thị Minh Khai, phường Tân Định, giá cà phê sữa tăng thêm 5.000 đồng lên 45.000 đồng một ly, trong khi các loại nước ép phổ biến ở mức 55.000-60.000 đồng. Một số thương hiệu như Phe La, The Coffee House và Phúc Tea tăng giá 5-10% đối với một số sản phẩm.
Theo chủ một số quán ăn, giá thịt heo, rau củ, gia vị cùng chi phí điện, nước và nhân công đều tăng trong những năm gần đây, khiến việc giữ nguyên giá bán ngày càng khó khăn.
Giá nhiều dịch vụ khác cũng tăng. Giá cắt tóc nam hiện phổ biến ở mức 50.000-120.000 đồng mỗi lần, cao hơn khoảng 5.000-10.000 đồng so với năm ngoái. Dịch vụ giặt sấy, giao đồ ăn hay gửi xe tại nhiều khu vực cũng tăng 5-20% trong 5 tháng đầu năm. Nếu năm ngoái, gói giặt sấy dưới 7 kg phổ biến ở mức khoảng 70.000 đồng, nay nhiều nơi đã tăng lên 90.000-99.000 đồng. Với dịch vụ giặt nhanh, sấy khô trong 6 giờ, mức giá cũng tăng từ khoảng 150.000 đồng lên 200.000 đồng mỗi lần.
Trong báo cáo chiến lược vĩ mô công bố tháng 5, Công ty Chứng khoán MB (MBS) nhận định mặt bằng giá trong nước tiếp tục chịu sức ép, trong đó có áp lực từ chi phí logistics. Trên thực tế, chi phí đi lại và giao nhận - những khoản phát sinh gần như mỗi ngày tại đô thị - cũng đã tăng. Từ cuối tháng 4, các nền tảng gọi xe như Grab, be đồng loạt điều chỉnh phí và giá cước một số dịch vụ. Nhiều doanh nghiệp chuyển phát cũng áp thêm phụ phí nhiên liệu.
Chi phí vui chơi, giải trí cũng cao hơn trước. Tại một khu vui chơi ở phường Thông Tây Hội, chị Loan, chủ cơ sở, cho biết đã điều chỉnh giá nhiều trò chơi 20-30% so với năm ngoái, do chi phí mặt bằng, bảo trì, sửa chữa và thay mới thiết bị đều tăng. Nhiều phòng gym, lớp học kỹ năng và dịch vụ làm đẹp tại TP HCM cũng thay đổi giá để bù đắp chi phí mặt bằng, nhân sự và vận hành.
Mặt bằng giá dịch vụ tăng là hệ quả của áp lực chi phí đầu vào tích tụ thời gian dài, đặc biệt trong vài tháng qua, theo giới chuyên gia. Giá nhiên liệu, nguyên liệu, logistics, mặt bằng, nhân công cùng các yêu cầu tuân thủ về thuế, hóa đơn điện tử và tiêu chuẩn kinh doanh đều tăng, buộc doanh nghiệp phải điều chỉnh giá bán. Đây là xu hướng khó tránh của một nền kinh tế ngày càng minh bạch và chuẩn hóa hơn theo TS Đinh Thế Hiển.
Xu hướng này cũng phần nào được phản ánh trong số liệu của cơ quan thống kê. Bình quân 5 tháng đầu năm, CPI tăng 4,31% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,77%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 6,64%; giao thông tăng 5,22%.
Tuy vậy, TS Đinh Thế Hiển phân tích, người dân không cảm nhận giá cả theo "rổ CPI" mà thông qua những khoản chi phát sinh hàng ngày như ăn sáng, cà phê, gọi xe hay giao hàng. Nhiều cơ sở kinh doanh thường điều chỉnh giá theo các mức làm tròn như 5.000-10.000 đồng mỗi sản phẩm hoặc dịch vụ, khiến mức tăng cảm nhận của người tiêu dùng lớn hơn con số lạm phát chung.
Nhưng không phải mọi cơ sở kinh doanh đều tăng giá. Bà Trang, chủ quán bún riêu trên đường Lê Đức Thọ, phường An Hội Đông, cho biết đã ba năm giữ nguyên mức giá 25.000 đồng cho tô thường và 30.000-45.000 đồng cho các tô đầy đủ hơn. Giá cua đồng, thịt heo và nhiều nguyên liệu khác đã tăng 50-100% so với ba năm trước. Dù vậy, quán vẫn giữ nguyên giá nhờ sử dụng mặt bằng của gia đình và chủ yếu phục vụ khách trong khu dân cư.
"Khách đa số là người lao động quanh đây. Nếu tăng giá nhiều sẽ khó giữ khách nên tôi chấp nhận lời ít hơn trước", bà nói.
Tuy nhiên, khi nhiều loại chi phí đầu vào cùng đi lên, doanh nghiệp sẽ càng khó giữ giá cả hơn. Với người tiêu dùng, mỗi khoản chi tiêu hàng ngày dù chỉ tăng vài nghìn đồng cũng có thể khiến ngân sách các hộ gia đình thay đổi đáng kể sau một tháng.
Tính chung, tổng thu ngân sách tháng trước của Mỹ đạt 496 tỷ USD, giảm 6% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong khi đó, họ phải chi ra 616 tỷ USD, tăng 23%.
Bộ Tài chính Mỹ ngày 13/7 cho biết một phần nguyên nhân là tổng thu thuế hải quan trong tháng 6 đạt 23,6 tỷ USD. Tuy nhiên, tiền hoàn thuế nhập khẩu lên tới 49,2 tỷ USD.
Việc hoàn thuế bắt đầu từ tháng 5, sau khi Tòa án Tối cao Mỹ hồi tháng 2 ra phán quyết vô hiệu hóa các loại thuế nhập khẩu Tổng thống Mỹ Donald Trump áp theo Đạo luật Quyền hạn Kinh tế Khẩn cấp Quốc tế (IEEPA). Số tiền hoàn tháng 6 cao gấp đôi tháng 5 (22 tỷ USD).
Tháng 6/2025, khi thuế nhập khẩu của ông Trump dần được áp dụng, Bộ Tài chính Mỹ ghi nhận thu thuế hải quan ròng đạt 26,6 tỷ USD. Tổng thu thuế nhập khẩu lần đầu tiên vượt 100 tỷ USD trong một năm tài khóa.
Tháng đó, ngân sách thặng dư 27 tỷ USD. Bộ trưởng Tài chính Scott Bessent khi ấy cho biết số liệu ngân sách chỉ ra Mỹ đang "gặt hái thành quả" từ chính sách thương mại của ông Trump.
Hiện tại, chính sách thuế của nước này vẫn chưa ổn định. Thuế tạm thời 10% dự kiến hết hiệu lực vào ngày 24/7. Chính quyền Mỹ cũng đang chuẩn bị áp thuế mới với hàng chục quốc gia mà Washington cho là thực thi lỏng lẻo các quy định chống lao động cưỡng bức và duy trì tình trạng dư thừa công suất công nghiệp.
Tổng cộng trong tháng 5 và 6, số tiền hoàn thuế vào khoảng 71 tỷ USD, tương đương 42% tiền được Cơ quan Hải quan và Bảo vệ Biên giới Mỹ (CBP) thu theo IEEPA. Tính chung 9 tháng đầu tài khóa 2026 (bắt đầu từ tháng 10/2025), thâm hụt ngân sách liên bang tăng 29 tỷ USD, tương đương 2%, lên 1.367 tỷ USD.
Bộ Công Thương đang nghiên cứu áp dụng giá bán lẻ điện sinh hoạt theo ba khung giờ: cao điểm, bình thường và thấp điểm, khi điều kiện kỹ thuật cho phép. Đây là bước mở rộng của cơ chế giá theo thời gian sử dụng trong ngày (TOU), vốn được áp dụng nhiều năm với nhóm khách hàng sản xuất, kinh doanh.
Khác với biểu giá bậc thang hiện nay, TOU không phụ thuộc chủ yếu vào tổng sản lượng điện tiêu thụ trong tháng mà còn tính đến thời điểm sử dụng. Thông thường, điện dùng vào giờ thấp điểm có thể rẻ hơn, còn vào cao điểm đắt hơn. Như vậy, hai hộ cùng tiêu thụ 500 kWh mỗi tháng nhưng sử dụng vào thời điểm khác nhau có thể trả hóa đơn khác nhau.
Theo TS Nguyễn Huy Hoạch, chi phí để cung cấp 1 kWh điện không còn giống nhau ở mọi thời điểm trong ngày. Vào giờ thấp điểm hoặc khi nguồn năng lượng tái tạo dồi dào, chi phí huy động nguồn điện thường thấp hơn. Ngược lại, trong các khung giờ nhu cầu tăng cao, đặc biệt vào buổi tối những ngày nắng nóng, hệ thống phải huy động thêm các nguồn điện có giá thành cao hơn.
"TOU phản ánh tốt hơn chi phí cung cấp điện theo từng thời điểm trong ngày", ông Hoạch đánh giá.
Song chuyên gia cho rằng việc điều chỉnh không đơn thuần là thay đổi cách tính tiền mà hướng tới vận hành hệ thống điện.
Trước đây, các chương trình điều chỉnh nhu cầu sử dụng điện chủ yếu hướng tới doanh nghiệp sản xuất - nhóm tiêu thụ điện lớn nhất trong nhiều năm qua. Tuy nhiên, nhóm khách hàng sinh hoạt trở thành nhân tố có ảnh hưởng lớn tới toàn hệ thống.
Nguyên nhân do sự phát triển của năng lượng mặt trời khiến nguồn điện dồi dào vào giữa trưa, trong khi nhu cầu sử dụng của các hộ gia đình lại tăng mạnh vào cuối buổi chiều và buổi tối - thời điểm các nguồn năng lượng tái tạo suy giảm.
"Kết quả là đỉnh phụ tải của hệ thống ngày càng dịch chuyển sang khung giờ từ khoảng 17h30 đến 22h30", ông Hoạch nói. Đây cũng là lúc hàng triệu gia đình đồng thời bật điều hòa, nấu ăn, tắm nước nóng, sử dụng tivi và nhiều thiết bị điện khác.
Thực tế, những ngày nắng nóng cuối tháng 6 vừa qua, công suất tiêu thụ điện lớn nhất của hệ thống quốc gia liên tục xuất hiện trong khung 20-22h thay vì buổi trưa như nhiều năm trước. Điều này buộc hệ thống phải huy động thêm các nguồn điện có chi phí cao để đáp ứng nhu cầu chỉ trong vài giờ.
Theo chuyên gia năng lượng Đào Nhật Đình, mục tiêu lớn nhất của việc áp dụng TOU là điều chỉnh nhu cầu sử dụng điện vào đúng những khung giờ hệ thống chịu áp lực lớn nhất. Hiện nay ngoài đỉnh tiêu thụ vào buổi chiều, miền Bắc còn xuất hiện thêm đỉnh vào khoảng 21h. Đây là thời điểm không còn điện mặt trời nên chi phí cung ứng điện rất cao.
"Giá điện theo giờ là công cụ để khuyến khích người dân chuyển một phần nhu cầu sử dụng điện sang thời điểm giá rẻ hơn, qua đó giảm áp lực cho hệ thống", ông Đình nói.
Chuyên gia Nguyễn Huy Hoạch ước tính nếu hàng triệu hộ gia đình cùng dịch chuyển một phần nhu cầu sử dụng điện ra khỏi giờ cao điểm, tổng công suất lớn nhất của hệ thống có thể giảm hàng nghìn MW. Mức này tương đương xây mới một hoặc nhiều nhà máy điện quy mô lớn nhưng với chi phí thấp hơn nhiều. Qua đó, hệ thống sẽ giảm nhu cầu đầu tư thêm nguồn điện và lưới điện chỉ để phục vụ giờ cao điểm mỗi ngày. Lợi ích này về lâu dài sẽ góp phần giảm chi phí cung cấp điện cho toàn xã hội.
Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng nhanh, vai trò này càng trở nên quan trọng. Theo tính toán, mỗi năm hệ thống điện Việt Nam cần bổ sung khoảng 4.000-5.000 MW công suất nguồn mới để đáp ứng tăng trưởng nhu cầu. Trong khi đó, để xây dựng một dự án điện khí LNG hoặc điện gió ngoài khơi quy mô khoảng 1.000 MW thường mất ít nhất 3-4 năm chuẩn bị và thi công.
Để triển khai mô hình này, giới chuyên môn cho rằng ngành điện cần đầu tư đồng bộ cả hạ tầng kỹ thuật và công nghệ. Theo chuyên gia Đào Nhật Đình, Việt Nam hiện cơ bản đã đáp ứng điều kiện kỹ thuật để triển khai cơ chế này khi hơn 90% khách hàng đã sử dụng công tơ điện tử. Vấn đề còn lại chủ yếu là hoàn thiện hệ thống phần mềm và cách thức vận hành.
Tuy nhiên, khó khăn lớn nhất không nằm ở công nghệ mà ở khả năng thay đổi hành vi của người sử dụng điện.
Ông Đình cho rằng chưa đến một nửa số hộ gia đình thực sự có điều kiện dịch chuyển thời gian sử dụng điện. Phần lớn người lao động chỉ trở về nhà sau 18h, trong khi khoảng thời gian từ 19-22h - giờ cao điểm của hệ thống - lại là lúc nấu ăn, tắm giặt, sử dụng điều hòa và các thiết bị sinh hoạt khác. Vì vậy, nhiều hộ gia đình gần như không có cơ hội chuyển việc sử dụng điện sang khung giờ thấp điểm.
Do vậy, chuyên gia nhìn nhận việc thay đổi hành vi sẽ hiệu quả hơn với các thiết bị tiêu thụ điện lớn thay vì thiết bị dùng ít năng lượng. Chẳng hạn, người dân có thể hẹn giờ bình nước nóng, làm mát nhà trước khi về hoặc chuyển thời gian sạc ôtô điện, xe máy điện sang ban đêm.
Về lộ trình, ông đề xuất trước mắt nên áp dụng tại các đô thị lớn - nơi đã phổ biến công tơ điện tử và có hạ tầng kỹ thuật phù hợp. Đồng thời, ngành điện cần minh bạch dữ liệu, cho phép khách hàng theo dõi lượng điện tiêu thụ theo từng giờ thay vì chỉ xem tổng sản lượng theo ngày như hiện nay, từ đó chủ động điều chỉnh thói quen sử dụng.
Ông cũng cho rằng giá điện theo thời gian chỉ là một trong nhiều công cụ quản lý nhu cầu điện, cần được triển khai đồng bộ với các cơ chế khác. Trong dài hạn, khi thị trường bán lẻ điện cạnh tranh được hình thành, có thể nghiên cứu cho phép khách hàng tự lựa chọn giữa nhiều phương án tính giá như giá điện đồng nhất, biểu giá bậc thang hoặc giá điện theo thời gian sử dụng, tùy nhu cầu và khả năng tối ưu chi phí của từng hộ.