Trên thực tế, các biến chứng tiểu đường, đặc biệt là tổn thương thần kinh và rối loạn tuần hoàn máu, thường biểu hiện rõ hơn vào ban đêm. Khi cơ thể nghỉ ngơi, lưu lượng máu đến chân giảm và sự chú ý của não bộ không còn bị phân tán, khiến cảm giác đau trở nên rõ rệt hơn, theo chuyên trang sức khỏe Verywell Health (Mỹ).
Nếu cơn đau chân ban đêm xuất hiện các dấu hiệu sau thì không nên chủ quan với tiểu đường.
Đây là kiểu đau phổ biến nhất liên quan đến tiểu đường. Người bệnh thường cảm thấy bàn chân như bị nóng rát, kim châm hoặc có cảm giác như điện giật. Cơn đau thường xuất hiện rõ khi nằm nghỉ và có xu hướng nặng hơn vào ban đêm.
Nguyên nhân chính là do đường huyết tăng cao trong thời gian dài làm tổn thương các dây thần kinh ngoại biên. Khi đó, tín hiệu cảm giác bị rối loạn, khiến não nhận được những tín hiệu đau ngay cả khi không có kích thích thực sự. Đồng thời, cơ chế kiểm soát cảm giác đau của cơ thể cũng suy giảm, làm cơn đau trở nên dai dẳng hơn.
Ngoài cảm giác đau, người bệnh có thể kèm theo tê bì hoặc giảm cảm giác ở bàn chân. Đây là dấu hiệu cho thấy tổn thương thần kinh đang tiến triển và cần được kiểm tra sớm.
Chuột rút là tình trạng cơ co thắt đột ngột, gây đau dữ dội và thường xảy ra khi đang ngủ. Nếu hiện tượng này xuất hiện thường xuyên, đặc biệt ở người có nguy cơ cao, thì có thể liên quan đến tiểu đường.
Chuột rút do tiểu đường thường xảy ra ở bắp chân, kéo dài vài phút, sau đó có thể để lại cảm giác đau âm ỉ. Nếu tình trạng này lặp lại nhiều lần thì không nên chủ quan.
Một kiểu đau khác dễ bị bỏ qua là cảm giác đau âm ỉ, nặng chân hoặc mỏi sâu trong cơ. Cơn đau này thường không rõ vị trí cụ thể và có thể xuất hiện nhiều hơn vào ban đêm.
Người bệnh đôi khi còn thấy chân lạnh, da nhợt hoặc dễ mệt khi đi lại. Đây là dấu hiệu quan trọng vì nếu kéo dài có thể dẫn đến loét hoặc tổn thương nghiêm trọng ở chi dưới.
Không phải lúc nào đau chân cũng được mô tả là đau. Một số người cảm thấy chân rất khó chịu, như có kiến bò hoặc ngứa sâu bên trong, khiến họ phải liên tục cử động chân mới dễ chịu hơn.
Tình trạng này thường xuất hiện vào buổi tối hoặc khi nằm nghỉ, làm người bệnh khó ngủ hoặc ngủ không sâu. Đây là biểu hiện của hội chứng chân không yên, một rối loạn có liên quan đến tiểu đường, đặc biệt khi đã có tổn thương thần kinh, theo Verywell Health.
Ngày 15/4, BS.CK2 Nguyễn Minh Tiến, Phó giám đốc Bệnh viện Nhi đồng Thành phố, cho biết bệnh nhi từ Tây Ninh nhập viện trong tình trạng lơ mơ, huyết áp tăng cao 180/100 mmHg. Các kết quả chụp chiếu não và phổi không ghi nhận bất thường, nhưng xét nghiệm cho thấy chỉ số kháng thể kháng liên cầu tăng rất cao, nước tiểu có đạm và hồng cầu.
Các bác sĩ xác định trẻ bị viêm cầu thận cấp liên quan liên cầu khuẩn sinh mủ (Streptococus pyogenes) hay liên cầu beta tan huyết nhóm A - biến chứng có thể xảy ra sau viêm họng do liên cầu. Tăng huyết áp là nguyên nhân dẫn đến cơn co giật.
Bệnh nhi được điều trị tích cực với thở oxy, thuốc chống co giật, kháng sinh, thuốc hạ huyết áp và lợi tiểu, kết hợp chế độ ăn giảm muối. Sau một tuần, tình trạng cải thiện rõ rệt, trẻ tỉnh táo, huyết áp ổn định bằng thuốc uống, chức năng thận dần hồi phục và được xuất viện.
Gia đình cho biết khoảng một tuần trước nhập viện, bé sốt, đau họng, sưng đau vùng góc hàm và tự mua thuốc điều trị. Sau vài ngày, triệu chứng giảm nên bé đi học lại. Tuy nhiên, khi đang ngồi học, bé đột ngột đau đầu, buồn nôn rồi ngất. Sau đó, bệnh nhi xuất hiện hai cơn co giật toàn thể và được chuyển cấp cứu lên tuyến trên với chẩn đoán ban đầu nghi viêm não - màng não.
Theo bác sĩ Tiến, bệnh viêm cầu thận do liên cầu khuẩn trước đây khá phổ biến nhưng hiện nay ít gặp hơn, nên dễ bị nhầm lẫn với các bệnh lý thần kinh hoặc nhiễm trùng khác khi xuất hiện biến chứng.
Viêm họng do liên cầu khuẩn nhóm A thường khởi phát đột ngột với sốt, đau họng, đau đầu, buồn nôn, ăn uống kém. Một số trường hợp có thể kèm viêm amidan, nổi hạch cổ hoặc phát ban. Nếu không được điều trị đúng bằng kháng sinh, bệnh có thể gây biến chứng như viêm cầu thận, thấp tim, viêm tai giữa, viêm xoang hoặc áp xe.
Bác sĩ khuyến cáo, khi trẻ có dấu hiệu sốt, đau họng kéo dài, phụ huynh không nên tự ý mua thuốc mà cần đưa trẻ đi khám để được chẩn đoán và điều trị phù hợp. Dùng kháng sinh đúng chỉ định giúp giảm nguy cơ biến chứng nguy hiểm.
Để phòng bệnh, cần đeo khẩu trang khi cần, tránh tụ tập nơi đông người, tránh tiếp xúc với người bệnh. Giữ ấm cơ thể, tránh uống nước đá, khói thuốc. Vệ sinh tay trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh, trước khi chăm sóc trẻ. Vệ sinh môi trường sống, đồ chơi của trẻ.
Đưa trẻ đi uống vitamin A và tiêm vaccine theo chương trình tiêm chủng quốc gia. Khám sức khỏe định kỳ6 tháng một lần hoặc ít nhất mỗi năm để phát hiện và điều trị sớm các nguyên nhân có thể gây viêm họng cấp.
Tiến sĩ Lê Thị Hương Giang, Trưởng khoa Tiết chế Dinh dưỡng - Bệnh viện 19-8 (Bộ Công An), cho biết trứng vịt lộn là món ăn bổ dưỡng, giàu đạm, chất béo, sắt, vitamin. Tuy nhiên, một quả trứng lộn cung cấp 180 calo, tương đương một bát cơm. Lượng cholesterol trong một quả trứng vịt lộn rất cao lên đến khoảng 600mg, gấp khoảng ba lần so với trứng gà.
Do đó, ăn quá nhiều trứng vịt lộn gây hại lên tim mạch. Theo Hiệp hội Tim mạch Mỹ, người có nguy cơ tim mạch cần kiểm soát chặt chẽ lượng cholesterol nạp vào. Người cao tuổi có sẵn nền bệnh tăng huyết áp, rối loạn mỡ máu hoặc xơ vữa động mạch ăn quá nhiều trứng vịt lộn có thể làm gia tăng đáng kể gánh nặng chuyển hóa.
Trứng vịt lộn có chứa hàm lượng vitamin A rất cao. Nếu ăn quá nhiều và liên tục, cơ thể không kịp đào thải, có thể dẫn đến tích lũy tại gan, gây độc cho gan khiến bạn cảm thấy mệt mỏi, thậm chí vàng da.
Thói quen ăn trứng vịt lộn kèm muối tiêu đậm vô tình làm tăng lượng natri nạp vào cơ thể. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), dư thừa muối là thủ phạm thầm lặng kích hoạt cơn tăng huyết áp và suy giảm chức năng thận. Trứng vịt lộn có thể gây đầy bụng, khó tiêu do chứa hàm lượng protein và lipid đậm đặc.
Bác sĩ khuyến cáo ba nhóm nên hạn chế ăn nhiều trứng vịt lộn, như trẻ em dưới 5 tuổi, hệ tiêu hóa của trẻ chưa hoàn thiện. Hàm lượng đạm và chất béo quá cao trong trứng vịt lộn sẽ gây sình bụng, rối loạn tiêu hóa và tiêu chảy. Phụ nữ mang thai ăn trứng không nên ăn kèm quá nhiều rau răm, có thể kích thích co bóp tử cung, không tốt cho thai nhi. Người bệnh gout, người có chỉ số axit uric cao nên hạn chế.
Người lớn khỏe mạnh ăn tối đa 2 quả/tuần. Người cao tuổi, người có bệnh lý nền như tim mạch, tiểu đường tối đa một quả/tuần và nên chia nhỏ để cơ thể hấp thụ từ từ. Thời điểm ăn tốt nhất là vào buổi sáng hoặc buổi trưa, tránh ăn sau 19h tối.
Đau tim, nguyên nhân hàng đầu gây tử vong trên toàn cầu, đáng sợ bởi có thể ập đến đột ngột, bất cứ lúc nào. Tuy nhiên, bác sĩ kêu gọi hãy cảnh giác với khung giờ, mà nhịp sinh học của cơ thể "kích hoạt" cơn đau tim một cách tự nhiên.
Tiến sĩ - bác sĩ Udgeath Dhir, Trưởng Khoa Phẫu thuật Tim mạch Lồng ngực, Bệnh Viện Fortis (Ấn độ), cho biết: Các cơn đau tim (nhồi máu cơ tim) thường xuất hiện nhiều hơn vào buổi sáng. Tim hoạt động theo nhịp sinh học, chi phối thời điểm cơ thể dễ bị tổn thương. Từ khoảng 6 giờ đến 12 giờ, cơ thể bước vào “giai đoạn kích hoạt” với nhiều biến động sinh lý, theo tờ Times Of India.
Các cơn đau tim thường xuất hiện nhiều hơn vào buổi sáng, khi cơ thể bước vào “giai đoạn kích hoạt” tự nhiên sau khi thức dậy. Lúc này, các hoóc môn căng thẳng như cortisol và adrenaline tăng cao, kéo theo huyết áp và nhịp tim tăng nhanh, đồng thời khiến máu có xu hướng dễ đông hơn.
Bên trong động mạch, các mảng xơ vữa khiến lòng mạch bị thu hẹp. Khi cơ thể chịu căng thẳng đột ngột vào buổi sáng, áp lực tăng lên có thể làm các mảng bám này mất ổn định. Nếu chúng bị vỡ, cục máu đông sẽ hình thành và có thể chặn dòng máu đến tim.
Ngược lại, vào buổi tối, cơ thể dần chuyển sang trạng thái thư giãn. Huyết áp ổn định hơn, các hoóc môn căng thẳng giảm xuống, khiến máu ít có xu hướng đông lại và nguy cơ tắc nghẽn đột ngột cũng thấp hơn. Những cơn đau tim xảy ra vào thời điểm này thường liên quan đến yếu tố bên ngoài như ăn uống quá mức, rượu bia hoặc căng thẳng tinh thần.
Bác sĩ Dhir cho biết, dù đồng hồ sinh học có ảnh hưởng mạnh mẽ, nhưng các thói quen lành mạnh hoàn toàn có thể giúp giảm nguy cơ. Ngược lại, ngủ không đều, ăn khuya và căng thẳng mạn tính có thể làm gia tăng nguy cơ tim mạch. Các nghiên cứu từ Viện Y tế Quốc gia Mỹ cũng cho thấy giấc ngủ kém và rối loạn nhịp sinh học liên quan đến tỷ lệ mắc bệnh tim cao hơn.
Để ổn định nhịp sinh học, cần thực hiện các bước sau: