Thí sinh, phụ huynh có thể tra cứu kết quả qua ứng dụng ThanhHoa của Trung tâm IOC Thanh Hóa, hệ thống tuyển sinh trực tuyến Thanh Hóa tại địa chỉ: https://tsdc-tracuu.tsdc.edu.vn/thanh-hoa/thong-bao.
Xem trên cổng thông tin điện tử của Sở Giáo dục và Đào tạo Thanh Hóa tại địa chỉ: https://thanhhoa.edu.vn/Tra cứu thông tin tuyển sinh lớp 10 THPT, hoặc xem trực tiếp tại các trường tổ chức tuyển sinh.
Theo Sở Giáo dục và Đào tạo Thanh Hóa, khi tra cứu điểm thi trên các hệ thống trực tuyến, thí sinh cần chuẩn bị số báo danh, số căn cước công dân.
Sở Giáo dục và Đào tạo Thanh Hóa lưu ý học sinh, phụ huynh chỉ tra cứu trên các kênh chính thức được công bố, không cung cấp số định danh cá nhân, tài khoản, mật khẩu hoặc thông tin cá nhân trên các website giả mạo, ứng dụng không rõ nguồn gốc.
Về việc phúc khảo bài thi, Sở Giáo dục và Đào tạo Thanh Hóa cho biết, từ ngày 1 đến ngày 5-7, thí sinh nộp đơn phúc khảo tại trường dự thi.
Nhà trường tiếp nhận đơn và cập nhật danh sách thí sinh đăng ký phúc khảo vào Hệ thống quản lý tuyển sinh.
Thời hạn cuối nhận đơn phúc khảo là 17h ngày 5-7. Sau thời điểm này, hệ thống sẽ khóa chức năng đăng ký phúc khảo.
Ngày 6-7, các nhà trường nộp đơn phúc khảo, danh sách thí sinh đề nghị phúc khảo theo từng môn về Phòng Khảo thí và kiểm định chất lượng giáo dục, Sở Giáo dục và Đào tạo Thanh Hóa.
Công tác phúc khảo bài thi hoàn thành chậm nhất ngày 20-7.
Điểm chuẩn vào lớp 10 các trường THPT năm học 2026 – 2027 trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa như sau:
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Nội dung trên nằm trong nghị định 91 của Chính phủ, quy định chi tiết và biện pháp tổ chức, hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục đại học.
Cụ thể, để được công nhận là "đại học", tỷ lệ giảng viên quốc tế (bao gồm cả giảng viên người Việt ở nước ngoài) tham gia giảng dạy trong 12 tháng ở các trường chiếm tối thiểu 5% tổng số giảng viên cơ hữu. Số có trình độ tiến sĩ đạt tối thiểu 60%.
Về quy mô, các đại học phải có ít nhất 3 trường thành viên, 25 ngành ở mỗi trình độ đại học, thạc sĩ, tiến sĩ. Quy mô đào tạo đạt từ 15.000 người trở lên. Trong đó, tối thiểu 20% người học các chương trình sau đại học (thạc sĩ, tiến sĩ). Tỷ lệ sinh viên quốc tế đạt 3% trở lên.
So với quy định cũ, hầu hết yêu cầu chặt chẽ hơn. Trước đó, Chính phủ không yêu cầu cụ thể tỷ lệ về đội ngũ giảng viên hay sinh viên quốc tế, người học sau đại học như trên.
Ngoài ra, nghị định còn đưa ra điều kiện về nghiên cứu khoa học. Trong đó, tỷ lệ sản phẩm bình quân của một giảng viên cơ hữu trong một năm ít nhất là một bài báo khoa học thuộc danh mục Web of Science hoặc Scopus, hoặc sách xuất bản, bằng độc quyền sáng chế, giải pháp hữu ích. Tỷ trọng thu từ các hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đạt tối thiểu 20% tổng nguồn thu sự nghiệp của trường.
Các "trường đại học" phải duy trì liên tục điều này trong ít nhất 3 năm mới được lên "đại học".
Tiêu chí thành lập trường trực thuộc cũng khó hơn trước, khi phải có ít nhất 5 ngành đào tạo cùng lĩnh vực ở mỗi trình độ đại học, thạc sĩ, tiến sĩ. Quy mô người học từ 3.000 trở lên, thay vì 2.000 như cũ.
Ngoài ra, trường phải có nhóm nghiên cứu mạnh, bình quân mỗi giảng viên phải có một bài báo khoa học, tương tự điều kiện đối với đại học.
Chi tiết các tiêu chí để trường đại học chuyển thành đại học như sau:
Tiêu chí
Quy định hiện nay (ban hành năm 2019)
Quy định mới
Số trường trực thuộc
Ít nhất 3 trường
Ít nhất 3 trường
Quy mô người học
15.000
15.000
Ngành đào tạo tiến sĩ
10 ngành
25 ngành
Giảng viên trình độ tiến sĩ
Không quy định cụ thể
Ít nhất 60%
Giảng viên quốc tế
Không quy định cụ thể
Ít nhất 5%
Người học sau đại học
Không quy định cụ thể
Ít nhất 20%
Số sinh viên quốc tế
Không quy định cụ thể
Ít nhất 3%
Bình quân số bài báo khoa học/sách xuất bản/bằng độc quyền sáng chế/giải pháp hữu ích của một giảng viên trong một năm
Không quy định cụ thể
Ít nhất 1
Tỷ lệ thu từ hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo so với tổng thu
Không quy định cụ thể
Ít nhất 20%
Theo Luật Giáo dục đại học, trường đại học và đại học là hai khái niệm khác nhau. Trường đại học, học viện là cơ sở đào tạo và nghiên cứu nhiều ngành. Còn đại học đào tạo, nghiên cứu nhiều lĩnh vực, gồm các trường đại học, khoa thành viên.
Cả nước hiện có 13 đại học, trong đó có 11 cơ sở công lập gồm: Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia TP HCM, Đại học Thái Nguyên, Huế, Đà Nẵng, Bách khoa Hà Nội, Kinh tế TP HCM, Kinh tế Quốc dân, Công nghiệp Hà Nội, Đại học Cần Thơ, Trà Vinh. Hai đại học tư thục là Duy Tân và Phenikaa.
Theo quy định mới, nhiều trường không đạt. Ví dụ, ở tiêu chí tỷ lệ giảng viên là tiến sĩ, Đại học Công nghiệp Hà Nội hay Kinh tế TP HCM mới chỉ đạt 35-45%, theo báo cáo thường niên của trường, trong khi Bộ yêu cầu tối thiểu là 60%.
Về tỷ trọng nguồn thu từ khoa học công nghệ, hầu hết thấp hơn nhiều so với mức 20%. Tại Đại học Bách khoa Hà Nội, nguồn thu này chỉ chiếm hơn 6,7% tổng thu (năm 2024), Kinh tế Quốc dân là hơn 3% (năm 2023).
Chính phủ yêu cầu các đại học hiện nay phải có kế hoạch, lộ trình đáp ứng các điều kiện mới trong thời hạn 5 năm, kể từ nay.
Dương Tâm
Nguồn: https://vnexpress.net/siet-duong-tu-truong-len-dai-hoc-5057394.html

Bộ GD-ĐT đang lấy ý kiến đóng góp đối với dự thảo Thông tư ban hành Quy chế tuyển sinh và đào tạo sau ĐH. Thông tư này sẽ thay thế Thông tư số 23 về Quy chế tuyển sinh và đào tạo trình độ thạc sĩ và Thông tư số 18 về Quy chế tuyển sinh và đào tạo trình độ tiến sĩ (cùng năm 2021).
Một trong những điểm đáng chú ý của dự thảo là cho phép sinh viên ĐH có kết quả học tập đạt loại khá hoặc tương đương trở lên được đăng ký học trước một số học phần chương trình thạc sĩ với số tín chỉ được công nhận, chuyển đổi không vượt quá 40% tổng số tín chỉ (thông tư cũ chỉ cho phép học trước 15 tín chỉ, khoảng 25%).
Sinh viên đã tích lũy được tối thiểu 70% khối lượng học tập của chương trình ĐH và có điểm trung bình chung tích lũy đạt loại giỏi hoặc tương đương trở lên và học viên đã tích lũy tối thiểu 40% khối lượng học tập của chương trình thạc sĩ, được đăng ký học trước một số học phần chương trình đào tạo tiến sĩ với số tín chỉ được công nhận, chuyển đổi không vượt quá 25% tổng số tín chỉ (thông tư cũ không có quy định này).
Đối tượng học tiến sĩ còn được áp dụng với sinh viên tốt nghiệp loại khá và đáp ứng yêu cầu bổ sung về công trình nghiên cứu khoa học hoặc kinh nghiệm công tác đáp ứng yêu cầu của chương trình đào tạo.
Chia sẻ về những điểm mới trong đào tạo sau ĐH nêu tại dự thảo, PGS-TS Phan Hồng Hải, Hiệu trưởng Trường ĐH Công nghiệp TP.HCM, nhận định: "Các đề xuất này sẽ góp phần tạo cơ hội liên thông trong học tập giữa các bậc đào tạo, giúp người học có định hướng rõ ràng hơn về lộ trình học tập và có sự chuẩn bị tốt hơn cho từng bậc học tiếp theo. Đồng thời, đây cũng là cơ chế giúp các cơ sở giáo dục ĐH phát hiện, chọn lọc và bồi dưỡng sớm những người học có năng lực, có định hướng nghiên cứu khoa học và học lên trình độ cao. Sinh viên có năng lực học tập tốt sẽ được tiếp cận sớm với học phần trình độ sau ĐH, rút ngắn thời gian học tập".
PGS-TS Đinh Thị Thu Hồng, Trưởng ban Đào tạo ĐH Kinh tế TP.HCM (UEH), cũng cho rằng việc mở rộng đối tượng dự tuyển nghiên cứu sinh cho thấy định hướng tăng tính liên thông, linh hoạt giữa các trình độ đào tạo, đồng thời tạo cơ hội phát hiện và bồi dưỡng người học có năng lực nghiên cứu từ sớm thay vì chờ hoàn thành chương trình ĐH và được cấp bằng tốt nghiệp.
"Trong bối cảnh hiện nay, nhiều sinh viên đã sớm tham gia nghiên cứu ở các lĩnh vực ngay từ bậc ĐH, việc mở rộng sẽ tạo điều kiện để người học phát triển liên tục, hạn chế gián đoạn quá trình học tập và nghiên cứu", PGS-TS Hồng cho hay.
Trong khi đó, tiến sĩ Võ Văn Tuấn, Phó hiệu trưởng Trường ĐH Văn Lang, nhận định những điểm này thể hiện cách tiếp cận gần hơn với nhiều ĐH quốc tế hiện nay, nơi năng lực nghiên cứu được xem trọng hơn là việc bắt buộc phải đi theo lộ trình từ ĐH lên thạc sĩ đến tiến sĩ như trước kia.
"Nếu triển khai tốt, đây có thể là thay đổi lớn nhất của đào tạo sau ĐH trong nhiều năm qua. Không chỉ là thay đổi quy chế tuyển sinh hay quy trình đào tạo, mà thay đổi cả mục tiêu và sứ mệnh đào tạo. Nó giúp các trường phát hiện sinh viên giỏi từ năm 2 - 3 để đưa vào nhóm nghiên cứu, cho học trước tín chỉ, tham gia đề tài, hỗ trợ công bố...", ông Tuấn chia sẻ.
Theo PGS-TS Đinh Thị Thu Hồng, việc mở rộng đối tượng dự tuyển nghiên cứu sinh chắc chắn sẽ làm tăng nguồn ứng viên đầu vào. Trước đây, phần lớn nghiên cứu sinh đến từ đội ngũ giảng viên, nghiên cứu viên hoặc người đi làm quay lại học nên quy mô còn hạn chế. Bà Hồng dự đoán nếu quy chế mới được thông qua, nhu cầu học trước các học phần sau ĐH và nhu cầu học tiếp lên thạc sĩ, tiến sĩ của sinh viên tốt nghiệp từ UEH dự kiến sẽ gia tăng.
Tiến sĩ Võ Văn Tuấn cũng đánh giá các đề xuất này góp phần tăng nguồn tuyển cho các chương trình đào tạo tiến sĩ đang gặp khó khăn như hiện nay. Đặc biệt, giúp tạo nguồn nhân lực có trình độ đạt chuẩn học thuật nhanh hơn và chủ động hơn trong bối cảnh nhiều trường ĐH đang chịu áp lực rất lớn từ quy định về đội ngũ giảng viên theo chuẩn cơ sở giáo dục ĐH, chuẩn chương trình đào tạo, kiểm định, công bố khoa học, mở ngành, xác định chỉ tiêu…
PGS-TS Nguyễn Xuân Hoàn, Hiệu trưởng Trường ĐH Công thương TP.HCM, cho rằng mở rộng đầu vào tiến sĩ theo hướng đánh giá năng lực nghiên cứu thực chất thay vì chỉ dựa vào bằng cấp trung gian, sẽ tạo ra nguồn tuyển sinh phong phú hơn, thu hút được nhiều nhân tố trẻ, có tiềm năng nghiên cứu.
"Trong bối cảnh các trường ĐH đang chịu áp lực về chuẩn đội ngũ giảng viên và chuẩn chương trình đào tạo, đặc biệt là yêu cầu tỷ lệ tiến sĩ/giảng viên theo quy định, quy chế mới sẽ giúp các trường chủ động hơn trong việc nuôi dưỡng - phát triển - bổ sung lực lượng giảng viên có trình độ cao đáp ứng các yêu cầu về nâng cao chất lượng đào tạo", PGS-TS Hoàn nhận định.
Theo tiến sĩ Võ Thanh Hải, Phó giám đốc thường trực ĐH Duy Tân (Đà Nẵng), trong thời gian tới, thay vì bị động chờ tuyển người đã có bằng tiến sĩ từ nơi khác, các trường ĐH có thể tự phát hiện, bồi dưỡng và đào tạo liên tục những nhân tố tiềm năng của chính mình. "Điều này có ý nghĩa thực tiễn rất lớn trong bối cảnh các tiêu chí kiểm định ngày càng đòi hỏi cao về tỷ lệ giảng viên có học vị tiến sĩ và năng lực nghiên cứu. Chu kỳ bổ sung đội ngũ sẽ được rút ngắn đáng kể, đồng thời giảm được khoảng trống thế hệ trong đội ngũ giảng viên", tiến sĩ Hải chia sẻ.
Mặt khác, tiến sĩ Võ Văn Tuấn nhận định nếu các trường ĐH chỉ xem đây là cơ hội để tăng số lượng tiến sĩ nhằm đáp ứng chuẩn đội ngũ mà không kiểm soát chặt chất lượng đầu vào, đặc biệt là chất lượng nghiên cứu, thì sẽ xuất hiện nhiều nguy cơ như chỉ mang tính hình thức, thương mại hóa đào tạo tiến sĩ, lạm phát công bố khoa học, đào tạo tiến sĩ sẽ trở nên đại trà và từ đó hình thành một thế hệ tiến sĩ đủ bằng cấp nhưng yếu năng lực nghiên cứu thật, mất cân bằng giữa giảng dạy và nghiên cứu, từ đó mất niềm tin xã hội vào bằng tiến sĩ.
"Vì vậy, khâu sàng lọc trong quá trình đào tạo phải cực kỳ nghiêm ngặt. Nếu trường ĐH không có nhóm nghiên cứu mạnh, không có văn hóa nghiên cứu, không có giảng viên hướng dẫn đủ năng lực, chạy theo số lượng để hợp thức chuẩn, thì quy chế càng mở sẽ càng tạo nguy cơ "lạm phát tiến sĩ". Ngược lại, với các trường có chiến lược phát triển nghiên cứu bài bản thì đây là cơ hội vàng để tăng tốc quốc tế hóa, xây dựng đội ngũ học thuật trẻ, phát triển ĐH nghiên cứu và nâng vị thế trên bảng xếp hạng quốc tế", tiến sĩ Tuấn khẳng định.
Tương tự, tiến sĩ Đinh Thị Thu Hồng khuyến cáo tác động tích cực chỉ thực sự phát huy khi các trường kiểm soát tốt chất lượng học thuật và năng lực nghiên cứu của người học. Nếu mở rộng đầu vào nhưng thiếu chuẩn nghiên cứu, thiếu công bố khoa học thực chất hoặc thiếu đội ngũ hướng dẫn đủ mạnh thì có thể dẫn tới nguy cơ "đại trà hóa" đào tạo tiến sĩ.
Tiến sĩ Võ Thanh Hải cũng nhìn nhận muốn có tiến sĩ thực chất chứ không chỉ tăng số lượng hồ sơ, các trường buộc phải đầu tư mạnh vào môi trường học thuật gồm nhóm nghiên cứu, đề tài khoa học, quỹ hỗ trợ công bố quốc tế, hệ thống kiểm soát đạo văn, quy trình đánh giá luận án minh bạch.
"Kiểm soát chất lượng đầu vào, chuẩn đầu ra và các quy định nghiêm ngặt trong tuyển sinh, tổ chức đào tạo vẫn cần được xem trọng. Chất lượng cuối cùng phụ thuộc rất lớn vào năng lực tổ chức, kiểm định và cam kết của từng cơ sở đào tạo", PGS-TS Nguyễn Xuân Hoàn khẳng định.
Tin Gốc: Thanh Niên

Sau 30 năm hình thành và phát triển, Kỳ thi Olympic truyền thống 30/4 do Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong khởi xướng không chỉ trở thành sân chơi tri thức uy tín của học sinh mà còn chính thức được xác lập kỷ lục Việt Nam vào hôm nay, 5.4, với dấu ấn là kỳ thi có lịch sử tổ chức lâu năm, liên tục, do một trường THPT sáng lập và tổ chức.
Tại lễ tổng kết và phát thưởng, Tổ chức Kỷ lục Việt Nam (VietKings) đã chính thức xác lập kỷ lục đến Kỳ thi Olympic truyền thống 30/4 của Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong với nội dung: Kỳ thi Olympic truyền thống 30 tháng 4: Kỳ thi học sinh giỏi dành cho học sinh chuyên lớp 10,11 do một trường THPT khởi xướng tổ chức thường niên liên tục và lâu năm nhất tại Việt Nam.
Được thành lập từ năm 1927 với tiền thân là Collège Petrus Ký, Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong là một trong những cơ sở giáo dục có lịch sử lâu đời và giàu truyền thống bậc nhất tại TP.HCM. Không chỉ dừng lại ở thành tích học tập xuất sắc, nhà trường còn là đơn vị tiên phong tổ chức nhiều hoạt động học thuật quy mô lớn, trong đó nổi bật nhất là Kỳ thi Olympic truyền thống 30/4.
Ra đời từ năm 1995, Kỳ thi Olympic truyền thống 30/4 là sáng kiến của Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong nhằm tạo nên một sân chơi tri thức dành cho học sinh chuyên lớp 10 và lớp 11.
Từ một kỳ thi quy mô nhỏ với 15 đoàn và 109 thí sinh, Olympic 30/4 đã nhanh chóng phát triển thành sự kiện thường niên có quy mô lớn. Đây được xem là sân chơi học thuật uy tín, nơi các đội tuyển đến từ các trường THPT chuyên trên toàn quốc có cơ hội giao lưu, cọ xát, trao đổi kinh nghiệm giảng dạy giữa các thầy cô đồng thời nâng cao năng lực học tập của học sinh. Bên cạnh đó, cuộc thi còn góp phần phát hiện, bồi dưỡng và phát triển những học sinh tiềm năng, làm nền tảng để thành lập các đội tuyển tham gia các kỳ thi lớn hơn.
Đến năm 2026, kỳ thi lần thứ 30 quy tụ 131 đoàn với khoảng 3.829 thí sinh tham dự, cho thấy sức hút ngày càng mạnh mẽ và vị thế ngày càng được khẳng định của kỳ thi.
Trải qua 30 năm, kỳ thi đã trở thành "bệ phóng" cho nhiều học sinh trước khi bước vào các kỳ thi học sinh giỏi quốc gia và quốc tế. Không ít thí sinh từng tham dự đã tiếp tục đạt thành tích cao, đóng góp vào nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước. Với TP.HCM, đây là một hoạt động học thuật tiêu biểu, góp phần củng cố vị thế trung tâm giáo dục của cả nước. Trên bình diện rộng hơn, mô hình Olympic 30/4 đã tạo hiệu ứng lan tỏa, thúc đẩy phong trào học tập và kết nối hệ thống các trường chuyên trên toàn quốc.
Phát biểu tại lễ tổng kết, bà Phạm Thị Bé Hiền, Hiệu trưởng Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong đã điểm qua quá trình hình thành và phát triển của cuộc thi; tri ân Ban giám hiệu, các thầy giáo, cô giáo qua các thời kỳ đã có công sáng lập kỳ thi. Cô chia sẻ: "Có những giai đoạn vì dịch bệnh, kỳ thi buộc phải tạm dừng nhưng tinh thần của kỳ thi chưa bao giờ gián đoạn, nhờ sự ủng hộ, chỉ đạo sát sao của Sở GD-ĐT TP.HCM, sự quyết tâm của lãnh đạo nhà trường; sự kiên trì, trách nhiệm và ngọn lửa đam mê trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi của các thầy cô đã giúp kỳ thi giữ vững giá trị và niềm tin... Olympic truyền thống 30/4 không chỉ là một kỳ thi mà là một phần ký ức được gìn giữ, một phần truyền thống được tiếp nối và là niềm tự hào lớn lao của các thế hệ thầy và trò suốt 30 năm".
Phát biểu trước khi công bố quyết định trao tặng Kỷ lục Việt Nam, bà Nguyễn Thị Quỳnh Ngọc, Tổng thư ký Hội đồng Xác lập Kỷ lục Việt Nam, cho biết: "Việc Kỳ thi Olympic truyền thống 30/4 được xác lập Kỷ lục Việt Nam là sự ghi nhận xứng đáng cho hành trình 30 năm bền bỉ của Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong. Đây không chỉ là sự tôn vinh, mà còn là minh chứng cho giá trị thực tiễn của một mô hình giáo dục hiệu quả, góp phần phát hiện và bồi dưỡng nhân tài, đồng thời xây dựng môi trường học tập tích cực, truyền cảm hứng. Chúng tôi tin tưởng rằng, trên nền tảng đã được xây dựng, Kỳ thi Olympic truyền thống 30/4 sẽ tiếp tục phát triển, thích ứng và lan tỏa mạnh mẽ hơn nữa trong thời gian tới, đóng góp tích cực cho sự nghiệp giáo dục của TP.HCM nói riêng và cả nước nói chung".

