Theo thông tin Cục Thống kê (Bộ Tài chính) công bố tại buổi họp báo sáng nay 3.7, tại Hà Nội, tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý 2 tăng trưởng khá, với tốc độ tăng ước đạt 8,39% so với cùng kỳ năm trước. GDP 6 tháng đầu năm tăng 8,18% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2025 tăng 7,63%).
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 6 giảm 0,39% so với tháng trước, chủ yếu do giá xăng dầu giảm theo giá nhiên liệu thế giới. Bình quân 6 tháng đầu năm, CPI tăng 4,38% so với cùng kỳ năm trước.
Cục trưởng Cục Thống kê Nguyễn Thị Hương cho biết, mức tăng 4,38% này chủ yếu do chỉ số giá nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,79%, tác động làm CPI chung tăng 1,72 điểm phần trăm.
Trong đó, chỉ số giá nhóm thịt lợn tăng 4,85%, chủ yếu do nguồn cung hạn chế trong dịp lễ, tết và chi phí chăn nuôi ở mức cao; thịt gia cầm tăng 4,51%; ăn uống ngoài gia đình tăng 6,85% do chi phí nguyên liệu, dịch vụ tăng.
Ngoài ra, chỉ số giá nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 6,72%, tác động làm CPI chung tăng 1,53 điểm phần trăm. Trong đó, chỉ số giá nhà ở thuê tăng 6,32% do chi phí duy trì và vận hành tăng; giá điện sinh hoạt tăng 5,54%…
Lạm phát cơ bản tháng 6 tăng 0,14% so với tháng trước và tăng 4,5% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân nửa đầu năm, lạm phát cơ bản tăng 4,12% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn mức tăng 4,38% của CPI bình quân chung.
“Điều này chủ yếu là do giá xăng dầu, gas và thực phẩm biến động mạnh làm CPI chung tăng nhưng thuộc nhóm hàng được loại trừ trong danh mục tính lạm phát cơ bản”, bà Hương lý giải.
Về xuất nhập khẩu hàng hóa, riêng tháng 6, tổng trị giá đạt 104,22 tỉ USD, tăng 36,3% so với cùng kỳ năm trước, nâng tổng xuất, nhập khẩu hàng hóa nửa đầu năm lên 549,69 tỉ USD, tăng 27,1% so với cùng kỳ năm trước.
Tính riêng xuất khẩu, từ đầu năm tới hết tháng 6, kim ngạch đạt 266,52 tỉ USD, tăng 21% so với cùng kỳ năm trước. Có 29 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỉ USD, chiếm 92,1% tổng kim ngạch xuất khẩu.
Đáng chú ý, về đơn đặt hàng xuất khẩu quý 2 so với quý 1, có 26,2% số doanh nghiệp khẳng định số lượng đơn đặt hàng mới cao hơn; 54,2% số doanh nghiệp có đơn đặt hàng mới ổn định và 19,6% số doanh nghiệp có đơn hàng mới giảm.
Về xu hướng quý 3 so với quý 2, có 31,2% số doanh nghiệp dự kiến tăng số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới; 53,5% số doanh nghiệp dự kiến ổn định và 15,3% số doanh nghiệp dự kiến giảm.
Ở chiều ngược lại, Việt Nam đã chi 283,17 tỉ USD nhập khẩu hàng hóa trong nửa đầu năm, tăng 33,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, nhóm hàng tư liệu sản xuất vẫn là chủ đạo, đạt 266,4 tỉ USD, chiếm 94,1%; nhóm hàng vật phẩm tiêu dùng đạt 16,77 tỉ USD, chiếm 5,9%.
Việt Nam xuất khẩu nhiều nhất sang Mỹ với kim ngạch 86,5 tỉ USD, xuất siêu 75,3 tỉ USD, tăng 21,3% so với cùng kỳ năm trước. Trong khi đó, nước ta nhập khẩu nhiều nhất từ Trung Quốc (115,2 tỉ USD), nhập siêu 77,3 tỉ USD, tăng 39%.
Số liệu sơ bộ cho thấy, cán cân thương mại hàng hóa tháng 6 nhập siêu 2,64 tỉ USD, nâng tổng mức nhập siêu nửa đầu năm lên 16,65 tỉ USD (trong khi cùng kỳ năm trước xuất siêu 7,95 tỉ USD).
Trong đó, khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 24,95 tỉ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 8,3 tỉ USD.
“Nửa đầu năm, tốc độ tăng nhập khẩu cao hơn xuất khẩu cho thấy nhu cầu đầu vào của nền kinh tế tiếp tục mở rộng, đồng thời phản ánh sự phục hồi mạnh của hoạt động sản xuất, đặc biệt tại khu vực có vốn đầu tư nước ngoài”, bà Hương nói.
Liên quan vấn đề nhập siêu, tại buổi họp báo thường kỳ của Bộ Tài chính giữa tháng 6, Thứ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Đức Chi nhấn mạnh, phần lớn hàng nhập khẩu là nguyên liệu, vật tư, máy móc phục vụ sản xuất kinh doanh.
Thời gian tới, nếu các điều kiện thuận lợi hơn, các doanh nghiệp sẽ có thêm cơ hội sử dụng nguồn nguyên liệu, máy móc nhập khẩu để đẩy mạnh sản xuất, xuất khẩu. Thứ trưởng Nguyễn Đức Chi tin tưởng, kim ngạch xuất khẩu những tháng cuối năm sẽ tăng trưởng mạnh, góp phần cân bằng cán cân thương mại và hướng tới mục tiêu xuất siêu.
Giá USD trong các ngân hàng thương mại ghi nhận một tuần quay đầu giảm. Cụ thể, Ngân hàng Vietcombank giảm 12 đồng so với cuối tuần trước khi mua chuyển khoản giá USD xuống 26.130 đồng và chiều bán ra giảm 2 đồng xuống 26.360 đồng. Trong khi đó, Ngân hàng ACB vẫn mua chuyển khoản 26.150 đồng như cuối tuần trước và giảm 2 đồng ở chiều bán ra, còn 26.362 đồng…
Ngược chiều USD, một số ngoại tệ khác tăng mạnh như giá euro tại Vietcombank tăng 399 đồng khi mua chuyển khoản lên 29.984 đồng, bán ra 31.565 đồng; bảng Anh tăng 511 đồng khi mua chuyển khoản lên 34.783 đồng, bán ra 35.897 đồng. Riêng yen Nhật giảm 0,24 đồng khi mua chuyển khoản xuống 161,21 đồng và bán ra còn 169,74 đồng 169,98 đồng…
Giá USD thế giới lao dốc trong tuần khi chỉ số USD-Index xuống 98,7 điểm, giảm 1,49 điểm so với cuối tuần trước. Đồng USD đi xuống sau khi Mỹ và Iran tạm đình chiến giúp tâm lý nhà đầu tư bớt lo lắng về lạm phát tăng cao. Hơn nữa, báo cáo chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 3 của Mỹ tăng 0,9% so với tháng 2 và tăng 3,3% so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu do giá năng lượng tăng 10,9%. Nhưng cả hai số liệu đều phù hợp với dự báo của Dow Jones nên không có gì bất ngờ đối với thị trường. Từ đó góp phần giúp gia tăng kỳ vọng về khả năng hạ lãi suất trong tương lai, đẩy USD sụt giảm. Điều này trái ngược với tâm lý trước đây khi thị trường cho rằng Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) có thể ngừng cắt giảm lãi suất hoặc thậm chí tăng lãi để kiềm chế lạm phát. Giờ đây, họ lại bắt đầu đặt cược vào khả năng Fed sẽ quay lại cắt giảm lãi suất nếu kinh tế suy yếu.
Trong khi đó, Ngân hàng UOB mới đây vẫn duy trì quan điểm rằng, Fed sẽ giữ nguyên lãi suất trong ngắn hạn, trước khi thực hiện hai đợt cắt giảm, mỗi đợt 25 điểm cơ bản vào tháng 6 và quý 3/2026. Điều này có thể đưa lãi suất mục tiêu xuống 3,25% từ mức hiện tại 3,75%, qua đó tạo áp lực khiến đồng USD suy yếu. Tuy nhiên, dù xu hướng trung hạn của USD nghiêng về giảm giá, các diễn biến địa chính trị gần đây đang làm gia tăng bất định và có thể gây ra những đợt biến động tỷ giá bất thường…
Tổng CTCP Bia - Rượu - Nước giải khát Sài Gòn (Sabeco, HoSE: SAB) vừa công bố báo cáo tài chính quý I/2026 với doanh thu thuần của Sabeco đạt hơn 6.457 tỷ đồng, tăng 11,1% so với cùng kỳ năm trước.
Đáng chú ý, giá vốn hàng bán chỉ tăng khoảng 3%, qua đó giúp lợi nhuận gộp tăng mạnh 28%, lên 2.405 tỷ đồng. Biên lợi nhuận của doanh nghiệp tiếp tục được cải thiện rõ rệt nhờ cơ cấu giá bán tốt hơn và hiệu quả kiểm soát chi phí.
Ở chiều ngược lại, chi phí tài chính của doanh nghiệp giảm mạnh 85%, xuống còn 14 tỷ đồng. Chi phí bán hàng tăng 13% lên 900 tỷ, trong đó riêng chi phí quảng cáo và khuyến mãi chiếm gần một nửa, khoảng 450 tỷ đồng - tương đương mỗi ngày Sabeco phải chi 5 tỷ cho hoạt động quảng bá sản phẩm.
Sau khi trừ các chi phí, Sabeco ghi nhận lợi nhuận trước thuế đạt 1.548 tỷ đồng, tăng 51% so với cùng kỳ năm trước. Lợi nhuận sau thuế đạt 1.245 tỷ đồng, tăng 55,75%.
Giải trình về kết quả kinh doanh, Sabeco cho biết tăng trưởng lợi nhuận đến từ sản lượng tiêu thụ cải thiện nhờ thời điểm Tết Nguyên đán 2026 rơi vào giữa tháng 2, thuận lợi hơn so với năm trước. Đồng thời, việc điều chỉnh cơ cấu giá từ tháng 7/2025 cùng nỗ lực tiết giảm chi phí tài chính, quản lý doanh nghiệp cúng giúp doanh nghiệp cải thiện đáng kể hiệu quả sinh lời.
Năm 2026, Sabeco đặt mục tiêu doanh thu thuần 28.959 tỷ đồng và lợi nhuận sau thuế 4.937 tỷ đồng. Như vậy, sau quý đầu năm, doanh nghiệp đã hoàn thành khoảng 22,3% kế hoạch doanh thu và 25,2% mục tiêu lợi nhuận cả năm.
Về tình hình tài chính, tính đến ngày 30/3/2026, tổng tài sản của Sabeco đạt hơn 30.874 tỷ đồng, giảm 5,3% so với đầu năm. Trong đó, khoản tiền gửi có kỳ hạn ngắn hạn (trên 3 tháng đến dưới 1 năm) lên tới gần 15.750 tỷ đồng, chiếm hơn 51% tổng tài sản.
Tiền và các khoản tương đương tiền đạt khoảng 3.699 tỷ đồng, giảm 7,9% so với đầu năm. Hàng tồn kho duy trì ổn định ở mức hơn 2.144 tỷ đồng.
CTCP Lọc hóa dầu Bình Sơn (HoSE: BSR) vừa công bố báo cáo tài chính hợp nhất quý I/2026 với doanh thu hơn 45.900 tỷ đồng, tăng 44% so với cùng kỳ 2025.
Lợi nhuận sau thuế đạt 8.265 tỷ đồng, gấp hơn 20 lần mức khoảng 400 tỷ đồng cùng kỳ năm trước, đồng thời là mức lợi nhuận theo quý cao nhất trong vòng 4 năm trở lại đây.
Kết quả này cũng vượt xa kế hoạch lợi nhuận sau thuế cả năm 2026 là 2.162 tỷ đồng vừa được doanh nghiệp thông qua tại đại hội đồng cổ đông thường niên.
Cơ cấu doanh thu cho thấy dầu diesel tiếp tục là sản phẩm chủ lực, đóng góp gần 21.180 tỷ đồng, tương đương gần một nửa tổng doanh thu. Hai sản phẩm xăng không chì RON 95 và RON 92 mang về hơn 16.000 tỷ đồng. Phần còn lại đến từ nhiên liệu bay Jet A-1, LPG, xăng sinh học, dầu hỏa và các sản phẩm khác từ Nhà máy Lọc dầu Dung Quất.
Đáng chú ý, biên lợi nhuận gộp của BSR trong quý I đạt khoảng 21%, trong khi cùng kỳ năm trước chỉ xấp xỉ 1%. Ngoài hoạt động kinh doanh cốt lõi, doanh nghiệp còn ghi nhận gần 530 tỷ đồng từ lãi tiền gửi và chênh lệch tỷ giá, tăng mạnh so với cùng kỳ.
Theo phía BSR, nguyên nhân chính dẫn tới mức tăng trưởng đột biến là do diễn biến thuận lợi của thị trường dầu thô. Trong quý I/2026, giá dầu tăng từ khoảng 67 USD/thùng vào tháng 1 lên gần 104 USD/thùng vào tháng 3. Ngược lại, cùng kỳ năm 2025 ghi nhận xu hướng giảm từ 79 USD xuống 72,6 USD/thùng. Biến động này giúp gia tăng chênh lệch giữa giá dầu thô đầu vào và giá các sản phẩm đầu ra, qua đó cải thiện đáng kể biên lợi nhuận của doanh nghiệp. Song song với yếu tố thị trường, BSR duy trì vận hành Nhà máy Lọc dầu Dung Quất ở mức công suất rất cao, trung bình 125% công suất quy đổi.
Tổng sản lượng sản xuất trong quý đạt hơn 1,99 triệu tấn sản phẩm, vừa đảm bảo nguồn cung xăng dầu trong nước, vừa đóng góp khoảng 3.953 tỷ đồng vào ngân sách Nhà nước.
Tính đến ngày 31/3/2026, tổng tài sản của BSR đạt 106.786 tỷ đồng, tăng hơn 21.000 tỷ đồng so với đầu năm. Trong đó, hàng tồn kho tăng mạnh lên 21.573 tỷ đồng, gần gấp đôi so với đầu kỳ.
Doanh nghiệp cho biết việc duy trì tồn kho cao, bao gồm cả dầu thô và sản phẩm là chiến lược chủ động nhằm đảm bảo nguồn cung trong bối cảnh địa chính trị thế giới, đặc biệt tại Trung Đông, tiềm ẩn nhiều rủi ro đứt gãy chuỗi cung ứng dầu thô.
Ngoài ra, lượng tồn kho thành phẩm lớn cũng giúp BSR có dư địa điều tiết thị trường, sẵn sàng đáp ứng nhu cầu xăng dầu nội địa khi tăng đột biến hoặc khi nguồn nhập khẩu gặp gián đoạn.
Về cơ cấu nguồn vốn, vốn chủ sở hữu của BSR đạt 68.778 tỷ đồng, trong khi nợ phải trả ở mức hơn 38.000 tỷ đồng, chủ yếu là nợ ngắn hạn phục vụ nhập nguyên liệu và hoạt động vận hành.
Ban lãnh đạo doanh nghiệp cho biết đã kích hoạt các kịch bản ứng phó từ sớm trước diễn biến xung đột tại Trung Đông, với nhiều phương án kéo dài từ vài tuần đến nửa năm. Hiện BSR vẫn duy trì vận hành nhà máy ở công suất rất cao và đảm bảo nguồn cung dầu thô ít nhất đến đầu tháng 7.