Ngày 6-7, Trường đại học Nam Cần Thơ công bố điểm sàn xét tuyển đại học chính quy 2026. Theo đó, đối với phương thức xét điểm thi tốt nghiệp THPT, nhóm ngành sức khỏe và ngành luật áp dụng theo quy định ngưỡng đầu vào của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Tất cả các ngành còn lại có mức điểm sàn chung là 15 điểm.
Đối với phương thức xét tuyển học bạ THPT, y khoa và răng hàm mặt có điểm sàn cao nhất là 23 điểm; các ngành còn lại từ 18 điểm.
Đối với phương thức xét điểm thi V-SAT, y khoa và răng hàm mặt cũng có khung điểm sàn cao nhất là 290 điểm, ngành dược học 270 điểm và các ngành còn lại từ 225 – 250 điểm.
Trường đại học Nam Cần Thơ là trường đào tạo đa ngành với 48 ngành hệ đại học chính quy và 14 ngành đào tạo đại học hệ quốc tế. Trường có chương trình đào tạo y khoa dành cho sinh viên nước ngoài tốt nghiệp THPT tại nước ngoài, có bằng cấp tiếng Anh theo quy định.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ
Giáo Dục
Người Việt học chương trình Anh 'tại chỗ' đông hơn gấp ba số du học Anh

Thông tin được nêu trong báo cáo "UK TNE tại Đông Á" được Hội đồng Anh công bố mới đây. Cụ thể, đơn vị này thông tin có 13.285 người Việt theo học các chương trình UK TNE trong năm học 2024-2025, tăng 785 người so với năm học trước đó. Mức này đưa nước ta vào top 5 thị trường đông người học UK TNE nhất khu vực Đông Á và xếp thứ 14 thế giới.
Ngoài ra, tính riêng năm học 2023-2024, UK TNE ở Việt Nam góp tới 80% tăng trưởng tại khu vực Đông Nam Á.
UK TNE là khái niệm chỉ các chương trình đào tạo của cơ sở giáo dục Anh được triển khai ngoài lãnh thổ Anh thông qua đa dạng hình thức như mở phân hiệu tại nước ngoài, liên kết đào tạo với trường nước sở tại hay đào tạo từ xa...
Một xu hướng đáng chú ý là vào trước Covid-19, Đông Á là nơi có 4/5 thị trường UK TNE lớn nhất thế giới, gồm Trung Quốc, Malaysia, Singapore và Hồng Kông. Tuy vậy, vào năm học 2024-2025, bức tranh đã đổi thay khi sinh viên các khu vực này học UK TNE phần lớn đều chững lại, làm thứ hạng toàn cầu của 3/4 thị trường - trừ Trung Quốc - đều sụt giảm so với trước đại dịch.
Việt Nam là một "ngoại lệ đáng chú ý" trong xu hướng này, báo cáo nhận định, vì số lượng người Việt theo đuổi các chương trình UK TNE đã tăng hơn gấp ba từ sau Covid-19. "Nhiều khả năng" nước ta sẽ vượt Hồng Kông, trở thành thị trường lớn thứ 4 của UK TNE ở Đông Á trong những năm tới, báo cáo nêu.
Một yếu tố quan trọng đóng góp vào tốc độ tăng trưởng này là số chương trình UK TNE đang được vận hành ở Việt Nam. Theo dữ liệu tính tới tháng 6.2025 của Bộ GD-ĐT, Anh đang dẫn đầu số lượng chương trình liên kết đào tạo với các cơ sở giáo dục tại Việt Nam với 70 chương trình, theo sau là Úc (56), Pháp (55), Mỹ (50) và một số quốc gia, vùng lãnh thổ.
Tuy nhiên, số chương trình liên kết đào tạo của Anh thời điểm trên lại giảm 50 so với cùng kỳ năm 2024.
Một dữ liệu đáng chú ý khác được Hội đồng Anh nêu trong báo cáo là số lượng người Việt "du học tại chỗ" các chương trình UK TNE đang cao gấp 3,57 lần số chọn du học trực tiếp tại Anh trong năm học 2024-2025. Tỷ lệ này cũng tăng đều trong thời gian qua, chỉ ra thực tế nhu cầu về bằng cấp Anh vẫn hiện diện nhưng xu hướng đã đảo chiều từ du học trực tiếp tại Anh thành "du học tại chỗ" ngay tại Việt Nam.
Thống kê từ Cơ quan thống kê giáo dục ĐH Anh xác nhận điều này. Cụ thể, năm học 2024-2025 có 3.675 người Việt du học Anh, tăng nhẹ so với năm ngoái (3.515). Tuy vậy, nếu so với cách đây 10 năm vào 2014-2015, mức này chỉ mới bằng 87,5% (4.200). Một điểm đáng chú ý khác là số lượng người Việt du học Anh giảm đều từ giai đoạn 2014-2015 và chỉ mới tăng đều trở lại từ 2021-2022 tới nay.
Đối lập, số lượng người Việt theo học các chương trình UK TNE cách đây 5 năm vào 2019-2020 đã đạt 3.780, vẫn nhỉnh hơn số du học Anh ở thời điểm hiện tại. Và trái ngược với số du học Anh vẫn xoay quanh mốc 3.000-4.000 trong thập kỷ qua, số lượng học UK TNE đã sớm bứt phá mốc 10.000 được vài năm.
"Ngày càng nhiều sinh viên trong khu vực hoàn thành các chương trình UK TNE mà không cần nhập học trực tiếp ở Anh", báo cáo nêu, cho biết thêm 2024-2025 còn lần đầu ghi nhận số người học từ Đông Á đăng ký chương trình UK TNE gần tương đương với số người học khu vực này đang theo đuổi các khóa đào tạo trực tiếp tại Anh.
Trên bình diện quốc tế, báo cáo ghi nhận hiện có 212.600 người học Đông Á theo đuổi các chương trình UK TNE, tăng 5,6% so với năm trước và tăng 36% nếu so với thời điểm trước Covid-19. Riêng 5 thị trường hàng đầu góp đến 95% số lượng, gồm Trung Quốc, Malaysia, Singapore, Hồng Kông và Việt Nam.
Bà Hoàng Vân Anh, Giám đốc Chương trình giáo dục của Hội đồng Anh tại Việt Nam, chia sẻ với Thanh Niên rằng kết quả báo cáo "cho thấy triển vọng tích cực" với cả khu vực Đông Á và Việt Nam. Nước ta hiện là một trong 3 trung tâm TNE hàng đầu trong khu vực Đông Á và sự tăng trưởng này cho thấy vai trò ngày càng quan trọng của TNE trong quá trình hỗ trợ quốc tế hóa giáo dục ĐH của Việt Nam, theo bà Vân Anh.
"Điều này còn góp phần hiện thực hóa mục tiêu đưa Việt Nam trở thành trung tâm giáo dục quốc tế", bà Vân Anh nói, cho biết thêm Hội đồng Anh đã phối hợp cùng các bên thành lập Mạng lưới Hợp tác TNE Anh-Việt (UK-Viet Nam EmpowerTNE) hồi cuối năm ngoái nhằm phát triển hệ sinh thái TNE bền vững, chất lượng tại Việt Nam.
Trước đó, trao đổi với Thanh Niên bên lề tuần lễ giáo dục Đông Á tổ chức ở Indonesia hồi tháng 2, bà Jazreel Goh, tác giả báo cáo nêu trên, hiện đảm nhận vị trí Giám đốc Trung tâm phân tích giáo dục Đông Á thuộc Hội đồng Anh kiêm Giám đốc Hội đồng Anh tại Malaysia, nhận định từ sau Covid-19, ngày càng nhiều sinh viên Đông Á trong đó có Việt Nam muốn học gần nhà hơn. Đây cũng là tiền đề để các chương trình UK TNE phát triển.
Hai xu hướng đáng chú ý khác, theo bà Goh, là nhu cầu du học các điểm đến nói tiếng Anh như Anh, Úc, Mỹ... vẫn còn dư địa tăng trưởng, song song đó là người học đang ngày càng quan tâm tới các ngành về dữ liệu, trí tuệ nhân tạo (AI), công nghệ máy tính và những lĩnh vực tương tự.
Bà Goh cho biết thêm, việc triển khai UK TNE tại Việt Nam không chỉ giúp người học Việt tiếp cận các chương trình đào tạo chuẩn quốc tế, mà còn là cơ hội để đào tạo và nâng chuẩn đội ngũ giảng viên nội địa. Đây cũng là động lực góp phần quốc tế hóa giáo dục ĐH ở Việt Nam, tạo tiền đề để Việt Nam xuất khẩu giáo dục ra thế giới - nhất là với những người bạn láng giềng như Lào và Campuchia.
"Tôi tin chúng ta còn chứng kiến nhiều mô hình hợp tác TNE hơn nữa trong tương lai, thay vì chỉ dừng ở việc gửi sinh viên ra nước ngoài du học", bà nói.
Theo phân loại của Hội đồng Anh, khu vực Đông Á bao gồm các thị trường: Úc, Brunei, Campuchia, Trung Quốc, Hồng Kông, Indonesia, Nhật Bản, Lào, Malaysia, Myanmar, Philippines, Singapore, Hàn Quốc, Đài Loan, Thái Lan và Việt Nam.
Tin Gốc: Thanh Niên

Trường THPT Ngô Sĩ Liên vốn là trường THPT công lập không chuyên luôn có mức điểm chuẩn vào lớp 10 cao nhất, năm nay gây xôn xao dư luận khi có mức điểm chuẩn là 9,38 điểm của 3 môn thi (toán, văn, tiếng Anh), thấp nhất trong tất cả các trường trên địa bàn.
Đây là ngôi trường nhiều năm qua và năm ngoái có điểm chuẩn cao nhất tại tỉnh Bắc Giang (cũ) với 23,825 điểm, tức thí sinh phải đạt trung bình gần 8 điểm/môn mới đỗ vào. Tuy nhiên, năm nay, thí sinh chỉ cần đạt trung bình khoảng 3,1 điểm/môn đã trúng tuyển.
Tuy nhiên, trên thực tế, nhìn vào danh sách học sinh trúng tuyển của trường thì chỉ có 1 học sinh có mức điểm trúng tuyển nguyện vọng 1 là 9,38 điểm. Trao đổi với báo chí, lãnh đạo Trường THPT Ngô Sĩ Liên cho rằng, điểm chuẩn thấp chỉ là hiện tượng cơ học, không phản ánh học lực chung của toàn bộ học sinh trúng tuyển.
Theo phân tích của vị này, về nguyên tắc xét từ cao xuống thấp, điểm chuẩn phải hạ sâu để lấy đủ chỉ tiêu. Đây là hiệu ứng kỹ thuật tuyển sinh, hoàn toàn không phải do chất lượng giáo dục đi xuống.
Thực tế theo thống kê, điểm trung bình của thí sinh đỗ vào lớp 10 (năm học 2026 - 2027) của Trường THPT Ngô Sĩ Liên đạt tới 24,31 điểm, nghĩa là thí sinh phải đạt trung bình mỗi môn hơn 8 điểm.
Bên cạnh đó, có tới 406 học sinh đạt tổng điểm từ 23,8 trở lên (bằng và vượt mức điểm chuẩn của năm ngoái), chiếm tỷ lệ áp đảo 72,4%. Do vậy, nhà trường khẳng định chất lượng đầu vào của trường vẫn giữ ổn định.
Cụ thể, điểm trung bình, trung vị của gần 560 học sinh lên tới hơn 24. Tỷ lệ học sinh đạt trên 24 điểm chiếm gần 70%. Chỉ 7 học sinh có điểm dưới 15, trong đó duy nhất em có điểm 9,38.
Chia sẻ với PV Thanh Niên, một lãnh đạo sở GD-ĐT tỉnh Bắc Ninh cũng giải thích nhiều nguyên nhân khiến điểm chuẩn của Trường THPT Ngô Sĩ Liên ở mức như nêu trên. Ví dụ, tâm lý của thí sinh dù học lực tốt nhưng có thể vẫn chọn nguyện vọng an toàn vì thấy mức điểm chuẩn của trường nhiều năm qua luôn đứng ở mức cao nhất.
Cạnh đó, năm nay, Trường THPT Ngô Sĩ Liên được tăng chỉ tiêu thêm 1 lớp, trong khi giảm 50 hồ sơ so với năm 2025. Nhiều em chọn nguyện vọng 1 vào trường này cũng đăng ký dự thi và đỗ vào các trường THPT chuyên trên địa bàn tỉnh và các em đã chọn trường chuyên để nhập học.
Lãnh đạo sở và trường cùng quan điểm cho rằng điểm chuẩn dù tụt xuống mức hơn 9 điểm 3 môn nhưng không đại diện cho năng lực của tất cả học sinh cũng như chất lượng đào tạo của trường.
Trường THPT Ngô Sĩ Liên thành lập năm 1946, điểm chuẩn tuyển sinh vào lớp 10 cũng như chất lượng giáo dục luôn thuộc top đầu bậc THPT toàn tỉnh.
Tại kỳ thi tốt nghiệp THPT 2025, điểm trung bình môn toàn trường đạt 7,22, thuộc nhóm cao nhất của tỉnh Bắc Giang cũ và top 10 tỉnh Bắc Ninh sau sáp nhập. Tỷ lệ đỗ đại học hàng năm đạt trên 99%.
Thời điểm này đã có gần 20 tỉnh, thành trên cả nước công bố điểm thi vào lớp 10, nhiều địa phương trong số đó đã công bố điểm chuẩn.
Dù quy chế của Bộ GD-ĐT yêu cầu công bố điểm thi và điểm chuẩn vào lớp 10 phải thực hiện đồng thời nhưng nhiều tỉnh, thành vẫn để học sinh và phụ huynh biết điểm chuẩn sau điểm thi.
Tin Gốc: Thanh Niên

Trao đổi với Tuổi Trẻ, ThS Đỗ Ngọc Anh - Giám đốc Trung tâm Truyền thông và Tuyển sinh, Trường đại học Mở Hà Nội - cho rằng chiến lược đăng ký nguyện vọng xét tuyển đại học năm 2026 phải đi theo từng tổ hợp, từng ngành, không dùng kinh nghiêm năm 2025 để suy đoán chung cho tất cả.
Theo ông Ngọc Anh, từ phổ điểm cho thấy tổ hợp A00 (toán, lý, hóa), B00 (toán, hóa, sinh) và D01 (toán, văn, tiếng Anh) có xu hướng thuận lợi hơn về điểm trung bình, A01 (toán, lý, tiếng Anh) giảm nhẹ, riêng C00 giảm mạnh (văn, sử, địa).
Điểm đáng chú ý là số thí sinh đạt điểm tuyệt đối rất ít, kể cả ở các tổ hợp có điểm trung bình tăng. Vì vậy khi dự báo điểm chuẩn, không nên chỉ nhìn điểm trung bình hay trung vị, mà cần đặc biệt quan tâm đến nhóm điểm cao: từ khoảng 24, 25, 26, 27 điểm trở lên. Đây mới là vùng quyết định điểm chuẩn của các ngành cạnh tranh.
Với tổ hợp A00, theo ông, tổ hợp này có số thí sinh tăng, điểm trung bình và trung vị nhích nhẹ, cho thấy mặt bằng chung tương đối ổn định và có phần tốt hơn năm trước.
Do đó với các ngành kỹ thuật, công nghệ, kỹ thuật máy tính, công nghệ thông tin, tự động hóa, điện tử, cơ khí… điểm chuẩn có thể ổn định hoặc nhích nhẹ, nhất là ở các trường, ngành có sức hút tốt. Tuy nhiên việc số điểm 30 giảm mạnh cho thấy nhóm cực cao không bùng nổ; do đó không nên dự báo tăng sốc nếu chưa có dữ liệu về số thí sinh đạt từ 26-28 điểm.
Với tổ hợp A01 giảm cả số thí sinh, điểm trung bình và trung vị. Về mặt phổ điểm thuần túy, áp lực cạnh tranh của tổ hợp này có thể giảm nhẹ so với năm 2025. Tuy nhiên đây vẫn là tổ hợp được nhiều ngành "nóng" sử dụng, đặc biệt là công nghệ, kinh tế, quản trị, logistics, thương mại điện tử, truyền thông số. Vì vậy điểm chuẩn A01 có thể giảm ở một số ngành/trường top giữa, nhưng ở ngành có nhu cầu cao thì vẫn có thể giữ ổn định.
B00 là tổ hợp có tín hiệu tăng mạnh nhất: số thí sinh tăng, điểm trung bình tăng rõ, trung vị tăng rất mạnh và số điểm 30 cũng tăng. Điều này tạo ra áp lực tăng điểm ở các ngành xét tuyển bằng B00, nhất là y dược, điều dưỡng, xét nghiệm, công nghệ sinh học, công nghệ thực phẩm, môi trường, nông nghiệp công nghệ cao.
Dự báo thận trọng là điểm chuẩn B00 có khả năng tăng rõ hơn các tổ hợp khác, nhưng mức tăng sẽ khác nhau: ngành y dược top đầu chịu áp lực mạnh hơn; các ngành ứng dụng như công nghệ sinh học, công nghệ thực phẩm có thể tăng vừa phải nếu chỉ tiêu không thay đổi lớn.
Tổ hợp C00 giảm mạnh cả điểm trung bình và trung vị. Đây là tín hiệu đáng chú ý nhất của phổ điểm năm nay. Nếu chỉ xét theo mặt bằng điểm, các ngành dùng C00 như luật, báo chí, truyền thông, sư phạm xã hội, quản lý nhà nước, quan hệ công chúng, xã hội học, văn hóa học… có thể chịu áp lực giảm điểm chuẩn. Tuy nhiên chưa thể kết luận mọi ngành C00 đều giảm sâu. Với trường top, ngành top, thí sinh giỏi vẫn có xu hướng tập trung đăng ký; khi nguồn chỉ tiêu ít, điểm chuẩn có thể chỉ giảm nhẹ hoặc giữ ở mức cao.
D01 giảm số thí sinh nhưng điểm trung bình và trung vị lại tăng. Điều này cho thấy quy mô người dự xét có thể hẹp hơn, nhưng chất lượng điểm ở nhóm giữa có xu hướng tốt hơn.
Với các ngành kinh tế, ngôn ngữ, quản trị, truyền thông, luật kinh tế, thương mại điện tử…, điểm chuẩn D01 có thể ổn định hoặc tăng nhẹ. Tuy nhiên tổ hợp này chịu tác động lớn từ chứng chỉ ngoại ngữ, phương thức xét tuyển kết hợp và quy đổi điểm, nên không thể dự báo chỉ từ phổ điểm thi tốt nghiệp.
Ông Ngọc Anh khuyến nghị thí sinh không nên chỉ nhìn điểm chuẩn năm ngoái rồi cộng, trừ cơ học. Năm nay cần so sánh điểm của mình với phổ điểm tổ hợp, xác định mình đang ở vùng nào: dưới trung vị, quanh trung vị, nhóm khá, nhóm cao hay nhóm rất cao. Sau đó mới chia nguyện vọng thành ba nhóm: nhóm mơ ước, nhóm phù hợp và nhóm an toàn.
Với các tổ hợp có xu hướng tăng như B00, D01 và một phần A00, thí sinh nên đặt nguyện vọng linh hoạt hơn, không dồn toàn bộ vào các ngành quá cạnh tranh. Với C00, dù phổ điểm giảm, thí sinh vẫn không nên chủ quan vì các ngành xã hội, luật, báo chí, truyền thông ở trường có thương hiệu vẫn có thể hút lượng lớn nguyện vọng chất lượng cao.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

