Berezovska, 39 tuổi, bị tình nghi đứng sau vụ đánh bom tại Monaco hôm 29/6 làm ba người bị thương, trong đó có tài phiệt gốc Ukraine Vadym Yermolaiev. Berezovska trở về Ukraine vào ngày 1/7. Lực lượng hành pháp phát hiện thi thể người phụ nữ này vào đêm 6/7, gần thủ đô Kiev, với vết đạn bắn vào đầu.
Cơ quan điều tra đã rà soát những người mà Berezovska liên lạc và lần theo hành trình di chuyển. Họ phát hiện cô ta đã liên lạc với gia đình mình, một sĩ quan HUR và một cựu nhân viên cơ quan hành pháp. Hai người này đã bị bắt.
“Sau khi phát hiện hai người đàn ông nhiều lần chuyển tiền cho Berezovska qua ví tiền mã hóa và hệ thống ngân hàng, các điều tra viên đánh giá họ cũng có khả năng là nghi phạm trong vụ mưu sát ở Monaco”, Văn phòng Tổng công tố Ukraine và Cơ quan An ninh Ukraine (SBU) ra tuyên bố chung ngày 7/7.
Sĩ quan HUR khai nhận đã cùng đồng phạm hạ sát Berezovska. Người này nói thêm rằng ông chưa từng báo cáo cho cấp trên về những liên lạc với Berezovska, những khoản giao dịch hay bất kỳ hoạt động nào, đồng thời khẳng định mình “tự ý hành động”.
“Các cơ quan liên quan đồng thời khám xét nhà riêng của nghi phạm là cựu nhân viên hành pháp và phát hiện một căn hầm, dường như đã được dùng làm phòng tra tấn. Hai nghi phạm bị bắt với nghi vấn phạm tội giết người có tổ chức”, Văn phòng Tổng công tố Ukraine và SBU cho biết.
Cuộc điều tra do Cảnh sát Quốc gia Ukraine thực hiện với sự hỗ trợ của lực lượng phản gián SBU và sự phối hợp trực tiếp của Giám đốc Tình báo Quân đội Oleh Ivashchenko.
Yermolaiev là một trong những doanh nhân giàu và có ảnh hưởng nhất tại thành phố Dnipro, sở hữu tài sản trong các lĩnh vực nông nghiệp, bất động sản, vật liệu xây dựng và thiết bị y tế. Ông từ bỏ quốc tịch Ukraine năm 2017 và hiện chỉ mang quốc tịch Cyprus.
Yermolaiev sống tại Monaco từ khi xung đột Nga – Ukraine bùng phát năm 2022. Năm 2023, Tổng thống Volodymyr Zelensky áp đặt lệnh trừng phạt đối với doanh nhân này với cáo buộc hỗ trợ Nga.
Tin Gốc: Vnexpress
Thế Giới
Chiến sự Ukraine ngày 1.501: Nga ném bom lượn kỷ lục, ông Zelensky đến Thổ Nhĩ Kỳ

Trang The Kyiv Independent ngày 4.4 dẫn thông cáo của Bộ Quốc phòng Ukraine cho biết Nga trong tháng 3 đã ném số bom lượn kỷ lục kể từ đầu chiến dịch với 7.987 quả.
Con số này cao hơn 1.500 quả so với kỷ lục trước đó là vào tháng 2. Ngoài ra, lực lượng Nga còn tiến hành 115.000 cuộc tấn công bằng pháo, trong đó có 2.834 cuộc tấn công bằng pháo phóng loạt.
"Do không đạt được những thành công như mong muốn ở mặt trận, quân đội Nga đang cố gắng gây áp lực bằng cách tăng cường số lượng các cuộc không kích", Bộ Quốc phòng Ukraine cho biết.
Bom lượn có tầm bắn ngắn hơn tên lửa, nhưng lại có chi phí sản xuất rẻ hơn. Chúng được phóng từ máy bay phía sau chiến tuyến trong lãnh thổ Nga hoặc các vùng lãnh thổ do Nga kiểm soát, nằm ngoài tầm của hệ thống phòng không Ukraine.
Theo các chuyên gia, chúng gần như không thể bị bắn hạ do cấu tạo bằng sắt nặng và tiếp cận mục tiêu với tốc độ cực nhanh từ độ cao lớn, không giống như tên lửa hành trình hay máy bay không người lái (UAV).
Tuy nhiên, Ukraine đã triển khai các thiết bị gây nhiễu để chuyển hướng bom khỏi mục tiêu. Nga đã nâng cấp vũ khí để vượt qua các thiết bị gây nhiễu vào năm ngoái, buộc Ukraine phải phát triển một thiết bị gây nhiễu mới trong năm nay.
Nhưng không chỉ các cuộc tấn công bằng bom lượn gia tăng. Nga cũng đã phóng kỷ lục 1.000 UAV trong vòng 24 giờ từ ngày 23-24.3, trong đó có một cuộc tấn công quy mô lớn vào ban ngày. Tổng cộng, Nga đã phóng gần 6.500 UAV trong tháng 3.
Giới chức Ukraine ngày 4.4 cáo buộc Nga tấn công trong vòng 24 giờ trước đó khiến ít nhất 16 người thiệt mạng và 86 người bị thương.
Một UAV của Nga đã nhắm mục tiêu vào một khu chợ ở Nikopol, tỉnh Dnipropetrovsk, khiến ít nhất 5 người thiệt mạng và 19 người bị thương vào sáng 4.4, theo báo cáo của Tổng công tố Ukraine.
Cùng thời điểm đó, lực lượng Nga đã tấn công một khu dân cư ở Kharkiv, làm 5 người bị thương, theo thông báo của Văn phòng Công tố Khu vực Kharkiv.
Những trường hợp thương vong khác được ghi nhận tại các tỉnh Sumy, Donetsk, Kharkiv, Kyiv và Kherson.
Tại Nga, giới chức địa phương cho biết cuộc tấn công bằng tên lửa và UAV của Ukraine khiến ít nhất một người thiệt mạng, 4 người bị thương và gây cháy một tàu mang cờ nước ngoài.
Nga và Ukraine chưa bình luận về những thông tin trên của đối phương. Hai bên trước nay luôn bác bỏ mọi cáo buộc tấn công nhắm vào dân thường.
Hãng Reuters ngày 4.4 dẫn lời Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky cho hay ông vừa đến Istanbul để tiến hành các cuộc đàm phán "thực chất" về vấn đề an ninh với Tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ Recep Tayyip Erdogan.
"Chúng tôi đang nỗ lực tăng cường quan hệ đối tác để đảm bảo sự bảo vệ thực sự cho tính mạng người dân, thúc đẩy ổn định và bảo đảm an ninh ở châu Âu cũng như ở Trung Đông", ông ông Zelensky viết trên X.
Ông không nói rõ thêm về nội dung đàm phán. Ukraine gần đây đã ký các thỏa thuận hợp tác an ninh với Ả Rập Xê Út, Các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất (UAE) và Qatar, và cũng đang đàm phán với một số quốc gia Trung Đông khác về các thỏa thuận tương tự.
Hãng TASS ngày 4.4 dẫn lời Chủ tịch Hội đồng Liên bang Nga Valentina Matviyenko tuyên bố Nga sẽ không "linh hoạt" đối với các quốc gia Liên minh châu Âu (EU) cho phép quân đội Ukraine sử dụng không phận để tiến hành các cuộc tấn công trên lãnh thổ Nga.
"Chúng tôi đang phải hứng chịu những cuộc tấn công vào cơ sở hạ tầng năng lượng, các cơ sở dân sự và người dân. Và chúng tôi sẽ không dễ dàng nhượng bộ với tất cả mọi người, chúng tôi sẽ không khuất phục trước những lời đe dọa từ người châu Âu hay bất kỳ ai khác. Chúng tôi đã đưa ra những cảnh báo rất gay gắt đối với các quốc gia này", bà nói.
Bà Matviyenko cho biết Lithuania đã tuyên bố từ chối cấp phép cho Ukraine bay UAV ngang qua lãnh thổ.
"Họ nhận ra rằng nếu tiếp tục, họ sẽ trở thành mục tiêu hợp pháp của chúng tôi, bởi vì Nga đang bị tấn công từ lãnh thổ của họ. Họ đã hiểu điều đó. Tôi nghĩ giờ họ sẽ rút lui. Họ sẽ không nói ra thành lời, nhưng họ sẽ rút lui", bà nói thêm.

Truyền thông Mỹ ngày 3/4 đưa tin một tiêm kích F-15E của nước này bị bắn rơi ở tây nam Iran và hai phi công trong buồng lái đã phải phóng dù thoát hiểm. Đây được coi là lần đầu tiên một chiến đấu cơ Mỹ bị bắn rơi trên bầu trời Iran kể từ khi xung đột bùng phát cuối tháng 2.
Quân đội Mỹ sau đó đã phát động chiến dịch tìm kiếm cứu nạn quy mô lớn và lực lượng đặc nhiệm đã giải cứu một phi công. Tuy nhiên, phi công thứ hai ngồi phía sau có vai trò điều khiển vũ khí vẫn mất tích, nhiều khả năng đang lẩn trốn sự truy tìm của các lực lượng Iran để chờ lực lượng giải cứu. Hai phi công thường phóng ghế gần như đồng thời, nhưng có thể bị tách nhau sau khi mở dù do ảnh hưởng từ gió và các yếu tố khác.
Theo giới chuyên gia, các phi công tiêm kích Mỹ thường được huấn luyện kỹ lưỡng về kịch bản xấu nhất là phải thoát ly khỏi máy bay. Họ không chỉ được đào tạo về cách phóng ghế thoát hiểm mà còn cách sinh tồn khi hạ cánh xuống lãnh thổ thù địch.
"Bạn sẽ nghĩ trong đầu kiểu 'trời ơi, mới hai phút trước mình còn ngồi trong buồng lái tiêm kích, bay với tốc độ hơn 800 km/h, vậy mà một quả tên lửa vừa nổ chỉ cách phi cơ vài mét'", cựu tướng không quân Mỹ Houston Cantwell, đang làm việc tại Viện Nghiên cứu Hàng không Vũ trụ Mitchell, mô tả.
Theo ông Cantwell, đây là lúc phi hành đoàn gặp nạn sẽ bắt đầu thực hiện quy trình họ được huấn luyện để tăng khả năng sống sót trước khi tiếp đất. Quy trình này gọi là SERE, viết tắt của Sinh tồn, Né tránh, Kháng cự và Thoát hiểm.
"Những thông tin quý giá nhất bạn thu thập được chính là trong lúc đang lơ lửng trên không", Cantwell cho biết. "Đó là lúc bạn có góc nhìn tốt nhất để quyết định nên đi về đâu, hoặc cần tránh những khu vực nào khi chạm đất".
Cantwell có khoảng 400 giờ bay chiến đấu, bao gồm các nhiệm vụ tại Iraq và Afghanistan, từng trải qua quá trình huấn luyện kéo dài về kỹ thuật tiếp đất bằng dù trong điều kiện khắc nghiệt. Ông cho biết ngay cả khi phi công có dù, việc tiếp đất vẫn tiềm ẩn nguy cơ chấn thương ở bàn chân, cổ chân và chân.
Khi tiếp đất, việc đầu tiên là tự kiểm tra bản thân đang ở trạng thái nào, còn cử động không, có thể di chuyển hay không. Sau đó, người sống sót cần đánh giá tình hình, xác định vị trí hiện tại, liệu có đang ở sau phòng tuyến đối phương hay không, có thể ẩn náu ở đâu và làm cách nào để liên lạc với đơn vị.
"Cố gắng né tránh lực lượng truy lùng của đối phương càng lâu càng tốt", ông Cantwell nói. "Và nếu ở trong môi trường sa mạc, tôi sẽ tìm cách kiếm nước".
Đồng thời, các đội Tìm kiếm và Cứu nạn Chiến đấu (CSAR), gồm những binh sĩ và phi công được huấn luyện chuyên sâu, luôn trong trạng thái sẵn sàng, sẽ xuất kích để tìm kiếm dấu vết phi công.
"Điều đó mang lại cảm giác yên tâm rất lớn, khi bạn biết họ sẽ làm mọi thứ có thể để đến cứu mình", Cantwell nói. "Nhưng đồng thời, họ cũng sẽ không lao vào một nhiệm vụ tự sát".
Trong bối cảnh đó, chính phi công gặp nạn cũng có thể góp phần tăng khả năng được giải cứu an toàn. "Khi ở dưới mặt đất, ưu tiên hàng đầu của tôi là ẩn mình, vì tôi không muốn bị bắt", ông nói. "Tôi sẽ tìm cách di chuyển đến một vị trí dễ sơ tán".
Đó có thể là mái nhà ở khu vực đô thị hoặc bãi đất trống đủ để trực thăng hạ cánh tại vùng nông thôn. Theo ông, việc di chuyển sẽ an toàn và hiệu quả hơn vào ban đêm.
Lực lượng tìm kiếm có những phương pháp rất tinh vi, không chỉ giúp tìm máy bay mà còn cả phi công gặp nạn, Ravi Chaudhary, cựu trợ lý bộ trưởng quốc phòng Mỹ dưới thời ông Joe Biden, nói. Phi công sau khi tiếp đất cần lập tức tìm chỗ ẩn nấp an toàn và đảm bảo "lực lượng cứu hộ có thể nhận biết vị trí của mình, bằng mắt thường hoặc thông qua liên lạc".
"Quan trọng nhất là làm điều đó mà không để lộ vị trí của mình trước lực lượng thù địch", ông nhấn mạnh.
Các phi công Mỹ thường được trang bị bộ dụng cụ nhỏ đặt dưới ghế phóng hoặc gắn trên bộ đồ bay để hỗ trợ sinh tồn trong thời gian chờ được giải cứu.
"Trong đó sẽ có những nhu yếu phẩm cơ bản, nước uống và một số trang bị sinh tồn", ông nói. "Ngoài ra còn có thiết bị liên lạc, radio, những thứ giúp họ phát tín hiệu và tăng khả năng được giải cứu nhanh nhất có thể".
Cantwell cho biết khi lái tiêm kích F-16, ông còn mang theo một khẩu súng ngắn.
Hãng thông tấn bán chính thức Tasnim của Iran cho hay Mỹ đang tiến hành chiến dịch tìm kiếm quy mô lớn với sự tham gia của trực thăng Black Hawk và máy bay C-130 Hercules. Truyền thông nước này cho hay các quan chức cảnh sát và quân đội đã treo thưởng 10 tỷ toman (gần 60.000 USD) cho bất cứ ai tìm thấy phi công Mỹ và giao nộp cho giới chức.
Như Tâm (Theo AFP, CNN)
Nguồn: https://vnexpress.net/phi-cong-my-duoc-huan-luyen-the-nao-khi-tiem-kich-bi-ban-roi-5058388.html

Mỹ ngày 4/7/1776 tuyên bố độc lập, mở đầu cho quá trình hình thành một quốc gia mới ở Bắc Mỹ. Gần 11 năm sau, các nhà lập quốc Mỹ mới soạn thảo hiến pháp Mỹ và thông qua để văn kiện này có hiệu lực từ năm 1789, trở thành nền tảng cho hệ thống chính trị liên bang.
Sau hơn hai thế kỷ, hiến pháp Mỹ vẫn là một trong những văn kiện lập pháp lâu đời và có sức ảnh hưởng nhất thế giới. Nội dung hiến pháp Mỹ cũng đối mặt nhiều nỗ lực thay đổi trong thời gian này. Các nghị sĩ đã trình gần 12.000 đề xuất và chỉ 27 tu chính án được phê chuẩn, trở thành một phần hiến pháp. Trong số này, 10 tu chính án đầu tiên nằm trong Tuyên ngôn Nhân quyền Mỹ năm 1791.
Trong số những đề xuất bị bác bỏ có những ý tưởng khác thường mà nếu được thông qua, nước Mỹ có thể đã trở thành một phiên bản rất khác với hiện tại.
Đổi tên quốc gia
Năm 1866, hạ nghị sĩ George Washington Anderson đề xuất bỏ cụm từ United States (Hợp chúng quốc) khỏi tên chính thức của đất nước và đổi thành America (Mỹ). Anderson lập luận rằng tên gọi hiện tại chưa phản ánh đầy đủ sự thống nhất và vị thế mà nước Mỹ có thể đạt được trong tương lai, nhưng đề xuất này không được chấp nhận.
Năm 1893, hạ nghị sĩ Lucas Miller đưa ra một ý tưởng táo bạo hơn. Ông trình cùng lúc 46 dự luật, trong đó có một đề xuất đổi tên quốc gia thành United States of the Earth (Hợp chúng quốc Trái Đất).
Ông cho rằng nước Mỹ có thể tiếp tục mở rộng cho đến khi mọi quốc gia trên thế giới đều gia nhập liên bang. Đề xuất bị dư luận chế giễu và nhanh chóng rơi vào quên lãng.
Xóa bỏ ghế Tổng thống
Năm 1860, ngay trước khi nội chiến Mỹ xảy ra, hạ nghị sĩ John William Noell đã đề xuất bãi bỏ chức vụ tổng thống và thay bằng một hội đồng hành pháp ba thành viên đến từ ba khu vực khác nhau của đất nước. Mỗi thành viên có quyền phủ quyết hai người còn lại.
Ý tưởng này tiếp tục xuất hiện sau nội chiến. Năm 1878, hạ nghị sĩ Milton Isaiah Southard đề xuất thành lập hội đồng hành pháp gồm ba tổng thống, đại diện cho khu vực miền Tây, miền Nam và khu vực miền Đông cùng miền Trung. Southard cho rằng người dân Mỹ phản đối việc quyền lực tập trung vào một cá nhân, vì điều đó khiến tổng thống mang dáng dấp của chế độ quân chủ.
Xóa bỏ giới hạn nhiệm kỳ
Sau khi Tu chính án thứ 22 được phê chuẩn vào năm 1951, quy định tổng thống chỉ được giữ chức tối đa hai nhiệm kỳ, các nghị sĩ Mỹ đã nhiều lần tìm cách bãi bỏ quy định này để tổng thống có thể phục vụ số nhiệm kỳ không giới hạn nếu tiếp tục được cử tri lựa chọn.
Những người phản đối cho rằng Tu chính án thứ 22 về bản chất là "phi dân chủ, vì ngăn cản cử tri bầu một ứng viên đủ năng lực mà họ ủng hộ". Ngược lại, phe ủng hộ giới hạn nhiệm kỳ cho rằng đây là "cơ chế kiểm soát thiết yếu nhằm ngăn chặn sự sùng bái cá nhân và quyền lực tổng thống trở nên quá lớn".
Bốc thăm bầu tổng thống
Nhiều đề xuất sửa đổi Hiến pháp từng tìm cách thay đổi phương thức bầu tổng thống, nhưng ít ý tưởng nào khác thường như đề xuất từ thượng nghị sĩ James Hillhouse vào năm 1808.
Hillhouse đề xuất rút ngắn nhiệm kỳ thượng nghị sĩ từ 6 năm xuống còn 3 năm và sắp xếp để mỗi năm có 1/3 số ghế được bầu lại. Các thượng nghị sĩ sắp mãn nhiệm sẽ bốc một quả bóng từ trong hộp. Người bốc trúng quả bóng màu duy nhất sẽ trở thành tổng thống trong thời hạn một năm.
Hillhouse không phải là người đầu tiên đưa ra ý tưởng bốc thăm để chọn tổng thống. Tại Hội nghị Lập hiến năm 1787, đại diện bang Pennsylvania James Wilson từng đề xuất chọn ngẫu nhiên một nhóm nhỏ nghị sĩ có quyền quyết định ai giữ chức tổng thống.
"Đây là ý tưởng sáng tạo, nhưng hầu như không ai cho rằng đó là một phương án khả thi", theo sử gia David O. Stewart, tác giả cuốn The Summer of 1787: The Men Who Invented the Constitution.
Thêm/xóa bỏ phó tổng thống
Năm 1897, sử gia Herman Ames, Đại học Pennsylvania, liệt kê các đề xuất sửa đổi hiến pháp kể từ khi Mỹ lập quốc và ghi nhận có 7 đề xuất bãi bỏ chức vụ phó tổng thống. Phe ủng hộ cho rằng đây là một vị trí "thừa thãi", và một trong những người đề xuất là Hillhouse. Những nỗ lực tương tự vẫn tiếp diễn trong thế kỷ 20.
Những người khác lại cho rằng nước Mỹ cần nhiều hơn một người giữ vai trò phó tổng thống.
Năm 1881, hạ nghị sĩ Nathaniel Job Hammond đề xuất thành lập ba chức danh gồm phó tổng thống thứ nhất, thứ hai và thứ ba. Năm 1964, thượng nghị sĩ Kenneth Keating đề xuất chia chức vụ này thành hai vị trí riêng biệt, lần lượt phụ trách nhánh hành pháp và lập pháp.
Xóa bỏ Thượng viện
Năm 1911, hạ nghị sĩ Victor Berger cho rằng Thượng viện "là cơ quan cản trở và vô tác dụng, là mối đe dọa đối với các quyền tự do của người dân và là rào cản đối với sự phát triển của xã hội". Ông đề xuất xóa bỏ Thượng viện, tập trung quyền lập pháp vào Hạ viện.
Theo Berger, các quyết định của Hạ viện sẽ trở thành "luật tối cao", tổng thống sẽ không còn quyền phủ quyết, tòa án cũng không được quyền tuyên bố các quyết định đó là vi hiến.
Xóa bỏ cử tri đoàn
Việc bầu tổng thống Mỹ thông qua cử tri đoàn thay vì bằng phổ thông đầu phiếu đã gây tranh cãi ngay từ khi hiến pháp được ban hành. Sử gia Ames mô tả "không có phần nào của hiến pháp gây ra nhiều sự bất mãn và kéo theo nhiều đề xuất sửa đổi nhằm thay đổi như cơ chế này".
Một trong những nguyên nhân chính là kết quả phiếu đại cử tri không phải lúc nào cũng trùng với kết quả phổ thông đầu phiếu. Điều này khiến ứng viên giành nhiều phiếu bầu của cử tri toàn quốc hơn vẫn thất cử. Tình huống này đã xảy ra 5 lần, trong các cuộc bầu cử tổng thống năm 1824, 1876, 1888, 2000 và 2016.
Một đề xuất thay thế cử tri đoàn bằng hình thức bầu cử trực tiếp từng được Hạ viện thông qua năm 1969, nhưng không thể vượt qua Thượng viện.
Nỗ lực gần nhất được hạ nghị sĩ Steve Cohen đệ trình tháng 12/2024. Ông cho rằng cử tri đoàn là di sản còn sót lại từ thế kỷ 18, khi cử tri hầu như không biết các ứng viên là ai, trong khi bối cảnh hiện tại đã khác nhiều.
Lập tòa án vượt thẩm quyền Tòa án Tối cao
Ý tưởng xuất hiện khi có quan điểm cho rằng Tòa án Tối cao nhiều lần can thiệp và vô hiệu hóa các đạo luật cấp bang, dẫn đến nhu cầu cần có một cơ quan tư pháp cấp cao hơn nữa. Cơ quan này sẽ có quyền xem xét và hủy bỏ các phán quyết của Tòa án Tối cao.
Đề xuất sớm nhất được cho là từ thượng nghị sĩ Garrett Davis năm 1867, kêu gọi lập "hội đồng xét xử" với mỗi bang bổ nhiệm một thành viên. Những đề xuất sau đó phát triển ý tưởng này thành một tòa án gồm các chánh án hoặc thẩm phán cao nhất từng bang, gọi là Court of the Union (Tòa án của Liên bang).
It nhất 15 đề xuất sửa đổi hiến pháp để lập Tòa án của Liên bang đã được đệ trình trong giai đoạn 1963-1981 nhưng đều thất bại.
Giới hạn tài sản cá nhân
Năm 1933, thời điểm u ám nhất trong Đại Suy thoái, hạ nghị sĩ Wesley Lloyd đề xuất trao cho quốc hội quyền đặt ra mức trần đối với tài sản cá nhân của người Mỹ. Để giảm bớt tính cực đoan của đề xuất, Lloyd cho rằng mức trần không nên thấp hơn 1 triệu USD, tương đương hơn 25,7 triệu USD theo giá trị hiện nay.
"Lý do nhiều người quá nghèo là vì một số rất ít người lại quá giàu", ông Lloyd lập luận.
Cho người dân Mỹ quyền bỏ phiếu tuyên chiến
Quyền tuyên chiến, vốn được hiến pháp Mỹ trao cho quốc hội, từ lâu đã là chủ đề gây nhiều tranh cãi và cũng là mục tiêu của nhiều đề xuất sửa đổi.
Năm 1916, một năm trước khi Mỹ tham gia Thế chiến I, hạ nghị sĩ Denver Samuel Church đề xuất một tu chính án quy định mọi tuyên bố chiến tranh trước hết phải được đưa ra trưng cầu dân ý và chỉ có hiệu lực nếu được đa số cử tri chấp thuận. Ông vẫn đề xuất ngoại lệ đối với các trường hợp khẩn cấp, như khi Mỹ bị tấn công.
Trong những năm sau đó, đặc biệt là suốt thập niên 1930 khi nguy cơ chiến tranh ở châu Âu ngày càng gia tăng, nhiều đề xuất tương tự tiếp tục được trình lên quốc hội Mỹ.
Theo Trung tâm Hiến pháp Quốc gia Mỹ, tu chính án được phê chuẩn gần đây nhất là Tu chính án thứ 27, có hiệu lực năm 1992. Tu chính án quy định mọi luật tăng lương cho các thành viên quốc hội chỉ có hiệu lực sau cuộc bầu cử tiếp theo, ngăn quốc hội tự tăng lương trong nhiệm kỳ hiện tại.
Cho đến nay, hiến pháp Mỹ mới chỉ có một tu chính án từng bị bãi bỏ. Đó là khi Tu chính án thứ 21 được phê chuẩn năm 1933 để hủy bỏ Tu chính án thứ 18 về lệnh cấm rượu.
Tin Gốc: Vnexpress

