Dương Thị Hồng Nhung, 25 tuổi, giảng viên khoa Ngôn ngữ Trung Quốc, Đại học Phenikaa, nhận tin giành học bổng toàn phần của chính phủ Trung Quốc (CSC) bậc tiến sĩ, hồi tháng 5. Ngôi trường mà cô theo học là Đại học Sư phạm Bắc Kinh – thuộc nhóm được đầu tư trọng điểm, top đầu khối ngành đào tạo giáo viên ở đất nước tỷ dân.
Với học bổng CSC, Nhung được tài trợ toàn bộ học phí, ký túc xá, bảo hiểm và nhận trợ cấp sinh hoạt mỗi tháng 3.500 nhân dân tệ (hơn 13,5 triệu đồng).
Nữ giảng viên nói không bất ngờ vì dự đoán trước kết quả sau vòng phỏng vấn với hội đồng tuyển sinh.
“Hội đồng liên tục hỏi sâu về đề tài nghiên cứu, tôi cho rằng đó là tín hiệu tích cực”, Nhung kể.
Hai năm trước, Nhung cũng tốt nghiệp thạc sĩ ngành Giáo dục Hán ngữ quốc tế tại Đại học Sư phạm Bắc Kinh với học bổng CSC. Muốn chinh phục bậc tiến sĩ, cô ứng tuyển làm giảng viên khoa Ngôn ngữ Trung Quốc, Đại học Phenikaa để tích lũy kinh nghiệm giảng dạy, hướng dẫn sinh viên nghiên cứu khoa học, viết bài báo khoa học và dành thời gian xây dựng hồ sơ ứng tuyển.
Theo cô Phạm Thúy Hồng, Phó trưởng khoa Ngôn ngữ Trung Quốc, Đại học Phenikaa, Nhung là giảng viên trẻ được đánh giá cao về chuyên môn, năng lực nghiên cứu và tinh thần trách nhiệm.
“Nhung có phương pháp giảng dạy hiện đại, truyền cảm hứng cho sinh viên và rất nhiệt tình trong mọi công việc của khoa”, cô Hồng nhận xét.
Mọi lựa chọn của Nhung khi đó đều hướng đến mục tiêu học bậc cao hơn. Thời gian chuẩn bị hồ sơ cũng là giai đoạn bận rộn nhất của nữ giảng viên. Có thời điểm, cô chỉ ngủ khoảng 3-4 tiếng mỗi ngày.
“Áp lực đến mức có lúc vừa khóc vừa làm việc”, Nhung chia sẻ.
Theo nữ giảng viên, với bậc tiến sĩ, điều hội đồng quan tâm hơn cả là năng lực nghiên cứu. Vì vậy, cô đầu tư vào kế hoạch nghiên cứu. Ban đầu, Nhung dự định lựa chọn đề tài ngữ âm tiếng Trung của người Việt. Sau nhiều tháng đọc tài liệu và trao đổi với giảng viên, cô chuyển sang nghiên cứu quá trình nhận thức trong việc tiếp thu từ vựng của người học tiếng Trung. Nhung cho rằng đây là hướng nghiên cứu có thể phát triển lâu dài và vẫn còn nhiều khoảng trống.
“Hướng nghiên cứu ở bậc tiến sĩ sẽ ảnh hưởng đến cả con đường học thuật sau này nên tôi muốn lựa chọn thật kỹ”, Nhung cho biết. Nữ giảng viên sau đó chuẩn bị bản kế hoạch chi tiết, gồm quy trình, phương pháp cụ thể và danh mục tham khảo lên tới 40-60 tài liệu.
Ngoài ra, Nhung sang Trung Quốc thi HSK (chứng chỉ Hán ngữ quốc tế gồm 9 bậc). Dù chỉ ôn tập khoảng 10 ngày, cô đạt HSK 8 với 383 điểm, thiếu 7 điểm để đạt cấp độ cao nhất.
Nhung cho rằng khác biệt về trình độ giữa người học tiếng Trung chủ yếu đến từ vốn từ vựng. Để chinh phục HSK 7-8-9, người học cần tích lũy khoảng 12.000 từ, đồng thời luyện đề để làm quen cấu trúc bài thi và cách phân bổ thời gian. Với phần viết luận, cô rèn cách hành văn theo tư duy của người bản ngữ, kết hợp sử dụng các công cụ AI để tự chấm điểm và điều chỉnh bài viết.
Với những sinh viên có mục tiêu săn học bổng, nữ giảng viên cho rằng cần chuẩn bị từ sớm thay vì chờ đến năm cuối đại học. Ngoài điểm học tập (GPA) và chứng chỉ ngoại ngữ, ứng viên cần đầu tư cho kế hoạch nghiên cứu nếu muốn theo đuổi bậc thạc sĩ, tiến sĩ.
Chị Thái Linh, giảng viên khoa Ngôn ngữ Trung Quốc, nói không bất ngờ khi đồng nghiệp giành học bổng tiến sĩ.
“Điều tôi ngưỡng mộ nhất ở Nhung là sự kỷ luật và tinh thần tự học. Ngoài giờ lên lớp, em gần như chỉ đọc tài liệu, viết và nghiên cứu”, chị Linh nói.
Đầu tháng 9, Nhung sẽ sang Bắc Kinh nhập học. Cô dự định xin nghỉ không lương trong hai năm đầu để tập trung học và nghiên cứu.
Xa hơn, Nhung muốn làm nghiên cứu sinh sau tiến sĩ, hướng đến mục tiêu trở thành phó giáo sư.
“Lĩnh vực của tôi ở Việt Nam hiện chưa có giáo sư và chỉ có rất ít phó giáo sư. Khi còn trẻ, tôi muốn dành nhiều thời gian nhất có thể cho nghiên cứu để sau này đóng góp cho việc giảng dạy và nghiên cứu tiếng Trung”, Nhung nói.
Nguyễn Thị Phương Anh, sinh viên khoa Hóa học, trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội, vừa hoàn thành chương trình cử nhân loại xuất sắc trong 3,5 năm, hồi tháng 2. Mốc này sớm nửa năm so với thông thường.
Trước đó, nữ sinh đã nhận tin đỗ học bổng FoS Dean's Graduate Fellowship cho chương trình Tiến sĩ tại NUS – ngôi trường top 8 thế giới theo bảng xếp hạng QS. Với học bổng này, Phương Anh được miễn toàn bộ học phí và nhận sinh hoạt phí 3.600 SGD/tháng (khoảng 68 triệu đồng).
"Mình nhẹ nhõm và hạnh phúc do đã chờ đợi kết quả suốt nhiều tháng", Phương Anh chia sẻ.
Phương Anh từng theo học lớp chuyên Sinh tại trường THPT chuyên Lê Hồng Phong (Nam Định cũ). Nữ sinh hứng thú tìm hiểu sâu về các quá trình sinh học trong cơ thể sống, từ cấu trúc tế bào đến hoạt động của các cơ quan và từng đạt giải ba cấp tỉnh năm lớp 11, 12.
"Khi học chuyên Sinh, mình nhận ra nhiều hiện tượng trong cơ thể sống thực chất liên quan các phản ứng ở cấp độ phân tử. Điều đó khiến mình tò mò về hóa học", Phương Anh chia sẻ.
Vì thế, dù được tuyển thẳng vào ngành Sư phạm Sinh của Đại học Sư phạm Hà Nội, nữ sinh vẫn chọn xét bằng điểm thi tốt nghiệp THPT vào ngành Hóa dược, trường Đại học Khoa học Tự nhiên.
Sự thay đổi này mang đến cú "sốc" ngay khi nữ sinh bước chân vào đại học. Kiến thức hóa học khác xa bậc phổ thông, gần như mới hoàn toàn, khiến Phương Anh gặp nhiều khó khăn.
"Có những lúc mình nghi ngờ về quyết định theo học ngành Hóa dược vì thấy không theo kịp các bạn", nữ sinh nói.
Nhận thấy cần trau dồi kỹ năng thực hành, từ năm thứ hai, Phương Anh xin tham gia phòng thí nghiệm (lab) của PGS. TS Phạm Thị Ngọc Mai. Hướng nghiên cứu của nữ sinh tập trung vào tổng hợp vật liệu nano và polymer chức năng nhằm nâng cao độ nhạy và độ chọn lọc trong các phương pháp phân tích.
Vướng mắc ở đâu, Phương Anh tìm cách gỡ ở đó. "Nếu thí nghiệm không ra kết quả, buổi tối mình sẽ tìm tài liệu trên Google Scholar để xác định nguyên nhân, sau đó trao đổi với thầy cô và các anh chị trong lab để điều chỉnh điều kiện thí nghiệm", nữ sinh chia sẻ.
Một thử thách khác là hiểu rõ văn phong học thuật trong tiếng Anh. Nữ sinh từng lúng túng trong việc giải thích kết quả thí nghiệm trên văn bản, phải đọc rất nhiều để học cách viết, kết hợp dùng AI.
Trải qua quá trình này và được thầy cô, anh chị khóa trên truyền cảm hứng, Phương Anh dần xác định rõ định hướng theo đuổi học thuật và tìm đường du học.
PGS. TS Phạm Thị Ngọc Mai đánh giá cao học trò ở sự bền bỉ. Dù lịch học trên lớp khá dày hay đã bảo vệ xong khóa luận tốt nghiệp, nữ sinh vẫn đều đặn đến phòng thí nghiệm.
Nhờ đó, Phương Anh là đồng tác giả của một bài báo quốc tế đăng trên tạp chí Spectrochimica Acta Part A, thuộc nhóm Q1 (nhóm tốt nhất), là tác giả chính của một bài báo trong nước đăng trên tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới. Đây là điểm thuận lợi, giúp nữ sinh tự tin ứng tuyển các chương trình tiến sĩ ở nước ngoài.
Phương Anh sẽ sang Singapore vào cuối tháng 7 để chuẩn bị nhập học, theo nhóm nghiên cứu của GS. Chi Chunyan về Hóa hữu cơ và khoa học vật liệu - lĩnh vực có nhiều ứng dụng trong quang điện tử và các công nghệ mới.
Hiện tại, nữ sinh tiếp tục làm việc tại phòng thí nghiệm của trường, học thêm tiếng Trung, song song tiếng Anh để nhanh chóng thích nghi với môi trường mới.
"Mình dự định trở về Việt Nam sau khi hoàn thành khóa học, tiếp tục làm nghiên cứu và có thể trở thành giảng viên, giống như các thầy cô đã truyền cảm hứng cho mình", Phương Anh chia sẻ.
Theo đề án tuyển sinh của các trường, phần lớn công bố học phí theo năm, phổ biến 20-35 triệu đồng. Khối ngành Y - Dược và các chương trình chất lượng cao, tiên tiến và trường tư có học phí cao hơn, trên 50 triệu. Có mức thu dưới 20 triệu thường là các trường đào tạo Sư phạm hoặc chưa tự chủ.
Một số trường công bố học phí theo tín chỉ, mức phổ biến khoảng 0,5-1,5 triệu đồng/tín chỉ. Một khóa học thường kéo dài 4-5 năm, khoảng 120-140 tín chỉ.
Học phí của các trường năm học 2026-2027 (dự kiến) như sau:
Học phí các trường thường chưa bao gồm các tín chỉ Giáo dục Quốc phòng - An ninh, Giáo dục thể chất hoặc tiếng Anh.
Học phí đại học ba năm qua đều tăng, một phần do trần học phí tăng theo Nghị định số 97 (năm 2023) của Chính phủ. Mức cao nhất được thu ở các đại học công lập chưa tự đảm bảo chi thường xuyên năm học 2026-2027 là 1,71 - 3,5 triệu đồng mỗi tháng, cao hơn khoảng 11% so với năm học trước.
Ở các trường đã tự đảm bảo chi thường xuyên (tự chủ), học phí có thể gấp 2,5 lần mức trần. Với chương trình đã được kiểm định, các trường tự xác định học phí.
Ngày 15-5, Đại học Huế tổ chức hội nghị công tác đào tạo năm học 2025 - 2026 và định hướng phát triển giai đoạn 2026 - 2030 với chủ đề "Đổi mới công tác đào tạo, phát triển công nghệ chiến lược, chuyển đổi số, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, phục vụ phát triển vùng và quốc gia".
Ngoài sự tham dự của các khoa, trường, đơn vị thành viên, hội nghị còn có sự góp mặt của các chuyên gia trong lĩnh vực công nghệ, đơn vị hợp tác tuyển dụng sinh viên của Đại học Huế.
Tại hội nghị, TS Bùi Văn Lợi, Phó giám đốc phụ trách Đại học Huế, cho biết Đại học Huế xác định giai đoạn 2026 - 2030 sẽ tập trung phát triển các ngành đào tạo mũi nhọn như trí tuệ nhân tạo, khoa học dữ liệu, công nghệ bán dẫn, logistics, công nghệ sinh học và kinh tế số.
Trong năm học 2025 - 2026, Đại học Huế đã mở thêm nhiều ngành như khoa học dữ liệu, truyền thông quốc tế, công nghệ kỹ thuật điện - điện tử, kinh doanh quốc tế và vật lý kỹ thuật nhằm đáp ứng nhu cầu tuyển dụng việc làm của xã hội trong tương lai.
Tại hội nghị, nhiều đơn vị thành viên cũng kiến nghị tăng đầu tư hạ tầng công nghệ thông tin, mở rộng cơ chế tự chủ tuyển sinh, nâng cấp cơ sở vật chất và hỗ trợ các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật trọng điểm đang gặp khó khăn trong tuyển sinh.
Đặc biệt, bài tham luận của ông Nguyễn Tuấn Huy - Phó Ban Công nghệ Tổng công ty Viễn thông MobiFone - được mọi người chú ý. Ông Huy cho biết Đại học Huế có nhiều thế mạnh để định hướng, phát triển, trở thành trung tâm đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành bán dẫn và trí tuệ nhân tạo AI.
Ông Huy cũng đề xuất việc Đại học Huế nghiên cứu thêm ngành chống lụt vào các trường đại học vì đây là ngành học đã từng được đào tạo tại nhiều trường đại học trên thế giới.
Theo ông Huy, ngành học này kết hợp giữa thủy lợi, tin học, trí tuệ nhân tạo…. Người học được đào tạo về việc sử dụng số liệu từ các điểm ngập trong thành phố, lưu lượng thoát nước, sử dụng AI, big data… để đưa ra mô hình dự báo ngập, mô phỏng mức độ ngập lụt và giải pháp để chống lụt diện rộng tại thành phố.
Ông Huy cho rằng hiện nay các trường đại học phải đáp ứng nhu cầu cụ thể của thực tế để đào tạo ra thế hệ sinh viên có thể sử dụng trí tuệ nhân tạo giải quyết những vấn đề nan giải của xã hội như phòng chống thiên tai, quy hoạch đô thị...