Khi khoai tây tiếp xúc với nhiều ánh sáng, nhiệt độ cao và độ ẩm không phù hợp, lượng glycoalkaloid có thể tăng lên đáng kể. Sự gia tăng này thường đi kèm với hiện tượng xuất hiện mầm. Chất glycoalkaloid tập trung nhiều ở phần mầm, mắt khoai và những vùng có màu xanh, theo chuyên trang sức khỏe Healthline (Mỹ).
Màu xanh xuất hiện do sự hình thành chlorophyll, một sắc tố không độc. Tuy nhiên, sự xuất hiện của chlorophyll thường đi kèm với sự gia tăng glycoalkaloid. Vì vậy, khoai tây chuyển xanh hoặc mọc nhiều mầm thường được xem là dấu hiệu cảnh báo.
Glycoalkaloid có vị đắng và có thể gây kích ứng đường tiêu hóa, ảnh hưởng đến hệ thần kinh nếu nạp với lượng lớn. Đây là lý do các chuyên gia dinh dưỡng thường khuyến cáo cần thận trọng với những củ khoai đã có dấu hiệu hư hỏng.
Nếu ăn phải khoai tây chứa hàm lượng glycoalkaloid cao, người ăn sẽ bị các triệu chứng ngộ độc như buồn nôn, nôn ói, đau bụng, tiêu chảy hoặc cảm giác nóng rát ở miệng và cổ họng. Một số người còn có thể xuất hiện tình trạng đau đầu, chóng mặt và mệt mỏi.
Trong những trường hợp nghiêm trọng hơn, độc tố có thể ảnh hưởng đến hệ thần kinh, gây lú lẫn, sốt, hạ huyết áp, rối loạn nhịp tim hoặc co giật. Hiện nay, các ca ngộ độc nặng do khoai tây mọc mầm khá hiếm. Nguy cơ ngộ độc thường tăng lên khi ăn những củ khoai đã mọc nhiều mầm, chuyển xanh rõ rệt hoặc có vị đắng bất thường, chuyên gia nghiên cứu thực phẩm Bryan Silness tại bang Illinois (Mỹ) cho biết.
Nếu khoai vẫn còn cứng, chỉ mới xuất hiện vài mầm nhỏ và không có nhiều vùng xanh, người dùng có thể cắt bỏ hoàn toàn phần mầm, mắt khoai và gọt sâu những phần chuyển màu. Trong một số trường hợp, phần còn lại của củ khoai vẫn có thể ăn được.
Tuy nhiên, nếu khoai tây đã mọc nhiều mầm dài, củ bắt đầu mềm, nhăn nheo hoặc xuất hiện nhiều mảng xanh thì chỉ cắt bỏ phần mầm sẽ không đủ an toàn. Nguyên nhân là glycoalkaloid không chỉ tập trung ở phần mầm mà còn lan sang các mô xung quanh bên trong củ.
Ngoài ra, nếu khi nếm thử thấy khoai có vị đắng bất thường thì nên bỏ hoàn toàn. Vị đắng là một trong những dấu hiệu cho thấy hàm lượng glycoalkaloid đã tăng lên đáng kể.
Các hợp chất glycoalkaloid khá bền với nhiệt. Do đó, luộc, hấp, nướng hoặc dùng lò vi sóng không thể phá hủy hoàn toàn những chất này. Vì vậy, cách tốt nhất là bỏ khoai, theo Healthline.
Người nhà cho hay bé đang ngủ thì bị con rắn bò vào nhà cắn, 10 ngày trước. Sau đó, bé đau họng, sụp mí mắt rồi đau bụng, nôn nhiều, khó thở, tay chân không cử động được nên được đưa đến cơ sở y tế cấp cứu.
Ngày 20/5, lãnh đạo Bệnh viện Nhi Thanh Hóa cho biết bệnh nhi lơ mơ, môi tím tái, suy hô hấp nặng, cơ lực toàn thân giảm nghiêm trọng, đồng tử giãn rộng, phản xạ ánh sáng kém. Các bác sĩ phát hiện mặt trong đùi trái của bé có hai vết thương nhỏ cách nhau khoảng 3 mm, nề đỏ.
Bệnh nhi được chẩn đoán viêm phổi, suy hô hấp độ 3, liệt cơ toàn thân do rắn cạp nia cắn, chưa xác định chính xác thời điểm bị rắn độc cắn. Các bác sĩ cho bé thở máy, hỗ trợ hô hấp, sử dụng thuốc điều trị đặc hiệu và xử lý các biến chứng.
Sau hơn một tuần điều trị tích cực, bệnh nhi đã tỉnh táo, cơ lực phục hồi tốt, tự thở được, cai máy thở thành công.
Mùa hè là thời điểm số ca bị rắn cắn gia tăng, đặc biệt tại khu vực gần sông nước, đồi núi hoặc nơi có nhiều cây cối, chuồng trại chăn nuôi. Nhiều trường hợp bị rắn cắn khi ngủ dưới nền nhà hoặc sinh hoạt gần cánh đồng.
Ở Việt Nam, các loài rắn độc thường gặp gồm rắn hổ mang, cạp nong, cạp nia và rắn lục. Mỗi loài có đặc điểm nọc độc khác nhau nhưng đều có thể gây nguy hiểm tính mạng nếu nạn nhân không được cấp cứu kịp thời.
Người bị rắn độc cắn thường có biểu hiện đau buốt tại chỗ, dấu răng rắn cắn sâu, sưng nề vùng bị cắn, kèm các triệu chứng toàn thân như sụp mí mắt, nhìn mờ, nói khó, nuốt sặc, liệt cơ, khó thở, thậm chí hôn mê.
Bác sĩ khuyến cáo người bị rắn cắn cần được theo dõi tại bệnh viện ít nhất 24 giờ. Huyết thanh kháng nọc rắn đạt hiệu quả tốt nhất trong 4 giờ đầu, song vẫn có tác dụng trong vòng 24 giờ sau khi bị cắn.
Nhiều người áp dụng mẹo dân gian hoặc tìm thầy lang chữa trị rắn cắn, đến khi bệnh nhân suy hô hấp, tím tái mới đưa đi cấp cứu. Đây là sai lầm rất nguy hiểm, bác sĩ khuyến cáo.
Bác sĩ cũng lưu ý không tự ý rạch vết thương, hút nọc độc hay buộc garo quá chặt vùng bị cắn. Người bị rắn độc cắn cần nhanh chóng đến cơ sở y tế gần nhất để được xử trí kịp thời.
Số liệu trên trích từ nghiên cứu thực trạng dinh dưỡng do Viện Dinh dưỡng Quốc gia phối hợp cùng Viện Sức khỏe Nutrilite và Amway Việt Nam công bố tại hội thảo ngày 19/6 vừa qua.
Khảo sát thực hiện trong năm 2025 trên quy mô gần 1.500 người tại Hà Nội, TP HCM, Cần Thơ, Thái Nguyên và Quảng Nam, đại diện cho cả vùng thành thị lẫn nông thôn. Kết quả cho thấy tỷ lệ thừa cân, béo phì ở nam giới cao hơn nữ giới khi tính theo chuẩn chỉ số khối cơ thể (BMI) của Tổ chức Y tế Thế giới dành cho người châu Á.
PGS.TS Trần Thanh Dương, Viện trưởng Viện Dinh dưỡng Quốc gia, nhận định thách thức lớn nhất hiện nay đã chuyển từ "ăn thiếu" sang "ăn chưa đúng" và "ăn chưa cân đối".
Bên cạnh tình trạng thừa cân, thói quen ăn uống của người Việt vẫn thiếu hụt nghiêm trọng các vi chất thiết yếu. Khẩu phần ăn hằng ngày mới chỉ đáp ứng 68,7% nhu cầu canxi và 50,9% nhu cầu folate theo khuyến nghị. Ngoài ra, hơn 60% người tham gia khảo sát chưa ăn đủ lượng rau xanh và trái cây theo tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế Thế giới.
Chất lượng bữa ăn đầu tiên trong ngày cũng ở mức đáng báo động khi năng lượng từ bữa sáng chỉ đạt 18,2% nhu cầu khuyến nghị, thấp hơn mức cần thiết để duy trì hoạt động thể chất lẫn tinh thần. Đáng lo ngại, khoảng 20% người tiêu dùng sử dụng đường, bánh kẹo hoặc đồ ngọt cho bữa sáng.
Việc bỏ bữa sáng kéo dài hoặc ăn uống không lành mạnh gây rối loạn chuyển hóa năng lượng, kích thích cảm giác thèm ăn vào cuối ngày, dẫn đến xu hướng ăn bù và làm tăng nguy cơ béo phì cùng các bệnh mạn tính không lây.
Theo PGS Dương, nhóm tuổi 20-45 là lực lượng lao động chủ chốt của xã hội, nhưng áp lực công việc và nhịp sống hối hả đang đẩy họ vào thói quen ăn uống thất thường, lạm dụng thực phẩm chế biến sẵn.
Thực trạng này tạo ra gánh nặng dinh dưỡng kép cho Việt Nam, khi tình trạng thiếu vi chất vẫn tồn tại song hành cùng sự gia tăng nhanh chóng của các bệnh như tăng huyết áp, đái tháo đường và tim mạch.
Trong bối cảnh tốc độ già hóa dân số diễn ra nhanh chóng, việc chủ động chăm sóc sức khỏe thông qua chế độ ăn uống hằng ngày đóng vai trò quyết định đến năng suất lao động và chất lượng cuộc sống tương lai.
Giảm chiều cao là hiện tượng khá phổ biến khi tuổi tác tăng lên, đặc biệt sau tuổi 50. Tuy nhiên, đây không đơn thuần chỉ là dấu hiệu của tuổi tác, theo chuyên trang sức khỏe Healthline (Mỹ).
Sau tuổi 50, chiều cao thường giảm dần là do những nguyên nhân sau:
Một trong những nguyên nhân phổ biến nhất khiến chiều cao giảm theo tuổi là đĩa đệm cột sống bị thoái hóa. Đĩa đệm là những miếng đệm nằm giữa các đốt sống, có chức năng hấp thụ lực và giúp cột sống linh hoạt khi vận động.
Khi còn trẻ, đĩa đệm chứa nhiều nước nên có độ đàn hồi tốt. Tuy nhiên, theo thời gian, chúng dần mất nước, trở nên mỏng hơn và kém linh hoạt hơn. Khoảng cách giữa các đốt sống vì thế cũng thu hẹp lại, khiến tổng chiều dài của cột sống giảm xuống. Đây là lý do nhiều người lớn tuổi thấp hơn so với thời thanh niên dù không mắc bệnh lý nghiêm trọng nào.
Không phải mọi trường hợp thấp đi đều là biểu hiện bình thường của tuổi tác. Nếu chiều cao giảm nhanh hoặc giảm nhiều trong thời gian ngắn, loãng xương là nguyên nhân cần được nghĩ tới, bác sĩ thấp khớp người Mỹ Abby Abelson cho biết.
Loãng xương khiến xương trở nên giòn và dễ gãy do mật độ xương suy giảm. Đặc biệt, các đốt sống có thể bị xẹp ngay cả khi không có chấn thương nghiêm trọng. Chỉ những hoạt động thường ngày như cúi người, bê vật nhẹ hoặc thậm chí ho mạnh cũng có thể tạo áp lực lên các đốt sống đã suy yếu.
Tuổi tác không chỉ ảnh hưởng đến xương mà còn tác động đến hệ cơ. Khi lớn tuổi, khối lượng và sức mạnh cơ bắp giảm dần, đặc biệt là các nhóm cơ có vai trò nâng đỡ cơ thể như cơ lưng, cơ bụng và cơ vùng hông.
Khi các cơ này yếu đi, duy trì tư thế đứng thẳng trở nên khó hơn. Vai có xu hướng đổ về phía trước, đầu cúi xuống và độ cong của cột sống ngực tăng lên. Tình trạng này khiến chiều cao đo được giảm dù chiều dài thực tế của xương không thay đổi quá nhiều.
Những người ít vận động, ngồi nhiều hoặc không tập luyện duy trì sức mạnh cơ bắp thường dễ gặp tình trạng thay đổi tư thế này.
Mặc dù không thể ngăn chặn hoàn toàn quá trình lão hóa, chúng ta vẫn có thể làm chậm tốc độ giảm chiều cao bằng những thói quen lành mạnh. Duy trì vận động thường xuyên là một trong những biện pháp quan trọng nhất.
Đi bộ, nâng tạ, các bài tập cải thiện thăng bằng có thể giúp duy trì sức khỏe xương khớp và hạn chế mất cơ. Bên cạnh đó, chế độ ăn cần đủ canxi, vitamin D, protein để hỗ trợ quá trình tái tạo xương và duy trì khối cơ, theo Healthline.