Thông tin được Techcom Life công bố ngày 22/7, sau khi Bộ Tài chính cấp phép cho doanh nghiệp thay đổi cơ cấu cổ đông. Theo Techcom Life, việc Vingroup bán 10% vốn không làm ảnh hưởng đến vốn điều lệ, các chỉ tiêu tài chính của công ty, cũng như quyền lợi của khách hàng tham gia bảo hiểm.
Theo báo cáo tài chính kiểm toán năm 2025 của Techcom Life, tại thời điểm cuối năm, Tập đoàn Vingroup đã góp 130 tỷ đồng vào công ty này, tương đương 10% vốn. Techcombank là công ty mẹ của Techcom Life với tỷ lệ sở hữu 80%. Ba cá nhân khác nắm 20% vốn còn lại.
Phía Vingroup cho biết thương vụ thoái vốn này nhằm tái cơ cấu danh mục đầu tư, tập trung nguồn lực vào các lĩnh vực cốt lõi. Công ty của ông Phạm Nhật Vượng sẽ tiếp tục cùng Techcom Life xem xét các cơ hội để mang đến giải pháp và giá trị cho khách hàng.
Về bên nhận chuyển nhượng, One Mount Group là pháp nhân được thành lập bởi các doanh nghiệp lớn, gồm Techcombank và Vingroup. Tuy nhiên, đầu năm 2022, tập đoàn của tỷ phú Phạm Nhật Vượng đã thoái toàn bộ vốn khỏi công ty này.
One Mount Group hoạt động chính trong lĩnh vực công nghệ, bán lẻ, bất động sản. Hiện doanh nghiệp này có 3 trụ cột chính, gồm nền tảng bán lẻ kết nối cửa hàng tạp hóa với khách hàng (One Mount Distribution), ví điện tử One Mount Consumer và OneHousing – nền tảng mua, bán bất động sản trực tuyến.
Techcom Life được cấp phép hoạt động ngày 16/7/2025 với vốn điều lệ ban đầu 1.300 tỷ đồng. Cuối tháng 6, Techcombank đã thông qua nghị quyết tăng vốn góp tại Techcom Life lên 4.300 tỷ đồng để đưa đơn vị này vào nhóm các công ty bảo hiểm nhân thọ có vốn điều lệ lớn nhất Việt Nam.
Theo kế hoạch, Techcombank dự kiến công ty bảo hiểm nhân thọ sẽ lỗ trong hai năm đầu hoạt động. Bắt đầu từ năm thứ ba, Techcom Life sẽ thu hồi vốn và ghi nhận lợi nhuận ròng 605 tỷ đồng. Sau 5 năm, Techcombank sẽ nhận lợi nhuận ròng 1.195 tỷ đồng từ mảng bảo hiểm nhân thọ, tỷ suất sinh lời tương đương 23,4%.
Tin Gốc: Vnexpress

Báo cáo từ Vietnam Report vừa công bố mới đây đã cho thấy từ chi phí logistics "ăn mòn" lợi nhuận đến các vụ kiện phòng vệ thương mại đang buộc doanh nghiệp vật liệu xây dựng phải thay đổi tư duy quản trị.
Ngành vật liệu xuất khẩu đang đối mặt với một thực trạng đầy trớ trêu khi hàng hóa làm ra nhiều nhưng không thể vận chuyển hoặc vận chuyển với chi phí không tưởng. Theo số liệu, xuất khẩu xi măng và clinker đạt hơn 37,3 triệu tấn (tương đương 1,3 tỉ USD, tăng 25,6% về khối lượng).
Trong khi nhóm sản phẩm gỗ và nội thất cũng đạt kim ngạch hàng tỉ USD. Tuy nhiên, niềm vui tăng trưởng không trọn vẹn khi "mưa tên lửa" địa chính trị tại Trung Đông đang làm đứt gãy các tuyến hàng hải huyết mạch.
Đặc biệt tại khu vực eo biển Hormuz, việc các hãng tàu phải đi vòng và áp thêm phụ phí chiến tranh đã đẩy chi phí logistics lên mức phi lý. Đối với các mặt hàng có khối lượng lớn nhưng giá trị đơn vị thấp như xi măng, đá xây dựng hay bê tông, đây là một "đòn chí mạng".
Theo phân tích của các chuyên gia, trước đây giá một tấn xi măng tại cảng Việt Nam khoảng 41 - 42 USD, nhưng nếu giá cước vận tải sang Trung Đông đội lên mức 60 USD/tấn, thì chi phí vận chuyển đã cao hơn cả giá trị thực của hàng hóa. Đối với mặt hàng đá xây dựng, tiền cước thậm chí có thể cao gấp hàng chục lần giá trị sản phẩm, khiến chuỗi cung ứng có nguy cơ bị dừng lại ngay lập tức do không còn hiệu quả kinh tế.
Không chỉ khó ở khâu vận chuyển, hàng vật liệu xây dựng Việt Nam còn vấp phải các rào cản pháp lý khắt khe. Điển hình là vụ việc Mỹ áp thuế chống bán phá giá sơ bộ đối với thép cốt bê tông Việt Nam với mức thuế rất cao, từ 122% đến hơn 130%. Con số này cao hơn gấp nhiều lần so với các quốc gia khác cùng bị điều tra như Ai Cập (34% - gần 53%) hay Bulgaria khoảng 52,8%.
Sự gia tăng đột biến của lượng thép xuất khẩu sang Mỹ (từ 43 tấn năm 2022 lên 56.400 tấn năm 2024) đã khiến các cơ quan quản lý sở tại siết chặt các biện pháp phòng vệ để bảo vệ sản xuất nội địa. Đây là bài học đắt giá về việc mở rộng quy mô quá nhanh mà thiếu các chiến lược phòng vệ và đa dạng hóa thị trường bền vững.
Phương pháp ứng phó: chuyển đổi số và xanh hóa là bắt buộc
Trước những "cơn sóng" dữ mà thị trường toàn cầu đang phải đón nhận, các doanh nghiệp vật liệu xây dựng đang buộc phải tái định hình chiến lược. Trong đó, xu hướng nổi bật là chuyển dịch từ mô hình tăng trưởng dựa trên quy mô sang mô hình dựa trên hiệu quả và công nghệ.
Khảo sát cho thấy một con số ấn tượng khi 100% doanh nghiệp tham gia khảo sát cho biết đang triển khai chuyển đổi số. Trong đó, 22,4% đã hoàn thành và bước sang giai đoạn tối ưu hóa, tích hợp công nghệ toàn diện vào vận hành.
Việc 88,9% doanh nghiệp dự kiến tăng đầu tư vào công nghệ trong năm 2026 cho thấy chuyển đổi số đã trở thành nền tảng sống còn để quản trị chi phí và dữ liệu.
Một giải pháp hữu hiệu, bền vững hơn nữa là theo đuổi và tuân thủ tiêu chuẩn ESG, xem đây như là "tấm vé thông hành". Phát triển bền vững không còn là khẩu hiệu xa vời. Bởi có tới 92,3% doanh nghiệp xác định ESG (môi trường - xã hội - quản trị) là ưu tiên chiến lược.
Với một ngành tiêu thụ nhiều năng lượng và tài nguyên, việc đáp ứng các tiêu chuẩn xanh và minh bạch thông tin là điều kiện tiên quyết để tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu và vượt qua các rào cản kỹ thuật tại các thị trường khó tính.
Trao đổi với Tuổi Trẻ Online, ông Đinh Hồng Kỳ, Chủ tịch Hiệp hội Xây dựng và Vật liệu xây dựng TP.HCM (SACA) nhận định ngành vật liệu xây dựng Việt Nam đang đứng trước một cuộc sát hạch gắt gao. Những doanh nghiệp có khả năng tối ưu hóa chuỗi cung ứng, chủ động ứng phó với các biện pháp phòng vệ thương mại và mạnh dạn đầu tư vào công nghệ xanh sẽ là những cái tên trụ vững qua "cơn bão" địa chính trị và kinh tế toàn cầu hiện nay.

Sau giai đoạn trầm lắng đầu năm, hoạt động phát hành trái phiếu của nhóm ngân hàng đang thay đổi nhanh chóng về quy mô huy động lẫn mặt bằng lãi suất.
Theo số liệu của Hiệp hội Thị trường trái phiếu Việt Nam, các nhà băng chào bán khối lượng trái phiếu hơn 61.000 tỷ đồng trong 5 tháng đầu năm. Riêng tháng trước, giá trị lên đến 33.000 tỷ đồng. Còn theo thống kê của VnExpress, một tháng qua, có không dưới 30 lô trái phiếu ngân hàng chào bán thành công.
MBBank vừa "chốt sổ" 10 lô trái phiếu để huy động gần 6.000 tỷ đồng trong một tháng với lãi suất dao động 8,3-8,4% một năm. HDBank cũng phát hành 4 đợt, còn OCB thực hiện 3 đợt để huy động 3.000 tỷ đồng với mức lãi cao nhất đến 8,6%.
Đầu tháng này, VPBank huy động 1.000 tỷ đồng trái phiếu với lãi suất cố định 8,6% cho kỳ hạn 3 năm, tăng một điểm phần trăm so với cuối năm ngoái.
Tại phiên họp thường niên hồi tháng 4, Tổng giám đốc VPBank Nguyễn Đức Vinh nhận định tình hình thanh khoản trong quý đầu năm tương đối "căng", dẫn đến xu hướng tăng lãi suất huy động (gồm tiền gửi và trái phiếu) của hầu hết ngân hàng. VPBank cũng "áp dụng lãi suất khá cao" do nhu cầu tín dụng và chấp nhận tăng chi phí vốn để hỗ trợ tăng trưởng của ngân hàng.
Ông Vinh khi đó dự báo lãi suất huy động có thể duy trì ở mức cao trong thời gian ngắn và giảm dần vào cuối quý II, đầu quý III.
Ở nhóm đầu ngành, Vietcombank chào bán một lô trái phiếu với lãi suất cố định 7,9%, cao hơn 3 điểm phần trăm so với lô phát hành cuối năm ngoái. Tương tự, lãi suất trái phiếu BIDV phát hành một tháng trở lại đây đều trên 8,1%.
Xét theo lãi suất, VietABank đang dẫn đầu thị trường khi trả lãi 9% một năm cho lô trái phiếu 100 tỷ đồng phát hành cách đây hai tháng. Mức này vượt xa lãi suất tiền gửi được niêm yết cùng thời điểm (6,1% một năm cho kỳ hạn 36 tháng).
Lý giải sự bùng nổ trái phiếu ngân hàng gần đây, bà Nguyễn Thảo Hạnh, Phó phòng Bộ phận Nghiên cứu và dịch vụ nhà đầu tư tại FiinRatings, cho rằng nguyên nhân chính đến từ sự mất cân đối ngày càng lớn giữa tốc độ huy động vốn và tăng trưởng tín dụng. Huy động vốn của tổ chức tín dụng trong ba tháng đầu năm tăng khoảng 0,4% so với cuối năm 2025, trong khi tín dụng là 2,1%.
Báo cáo tài chính quý I/2026 của một số nhà băng quy mô nhỏ lẫn lớn ghi nhận lượng tiền gửi sụt giảm. Chẳng hạn, BIDV, ngân hàng có lượng tiền gửi cao nhất hệ thống, giảm hơn 82.000 tỷ đồng trong 3 tháng đầu năm, tức gần 4% so với cuối năm ngoái. MBBank, Sacombank, Techcombank, ACB, TPBank... đều giảm trên 10.000 tỷ đồng.
Cách đây nửa năm các ngân hàng từng có một đợt sóng phát hành trái phiếu nhằm tối ưu cơ cấu vốn và chuẩn bị cho kế hoạch tăng trưởng năm tiếp theo. Theo bà Thảo Hạnh, đợt sóng khi đó mang tính chủ động, còn "sóng" gần đây thể hiện áp lực vốn rõ nét. "Trong bối cảnh huy động dân cư khó khăn và kênh liên ngân hàng tiệm cận ngưỡng giới hạn, trái phiếu trở thành kênh bổ sung vốn quan trọng", bà Hạnh nhận định.
Đồng quan điểm, ông Cao Việt Hùng, Giám đốc Phân tích ngành tài chính ngân hàng tại Công ty Chứng khoán ACB (ACBS), nói áp lực cạnh tranh nguồn vốn và nhu cầu cân đối tăng trưởng tín dụng khiến ngân hàng chấp nhận chi phí phát hành cao hơn. Theo ông, các ngân hàng buộc tăng mạnh lãi suất trái phiếu để thu hút vốn trong lúc Ngân hàng Nhà nước giám sát chặt lãi tiền gửi và yêu cầu các tổ chức tín dụng tuân thủ quy định trần tiết kiệm.
Dữ liệu của FiinRatings và ACBS cùng chỉ ra lãi suất trên 8,3% dần trở thành mức phổ biến đối với trái phiếu ngân hàng, thay vì chỉ xuất hiện ở một số đợt phát hành kỳ hạn 7-10 năm như trước đây. Thị trường đã có ba tháng liên tiếp ghi nhận lãi suất bình quân trên mức này, tăng khoảng 3% so với cùng kỳ năm ngoái và 1,5% so với đợt sóng cách đây nửa năm.
Các chuyên gia cũng cho rằng "có mối liên hệ tương đối chặt chẽ" giữa lãi suất liên ngân hàng, tiền gửi và trái phiếu ngân hàng do cùng chịu tác động từ thanh khoản và nhu cầu vốn của hệ thống. Áp lực này thể hiện rõ nhất ở các ngân hàng quy mô vừa và nhỏ, nhóm hạn chế khả năng tiếp cận nguồn vốn nhanh từ thị trường liên ngân hàng. Với cơ sở khách hàng và uy tín thương hiệu hạn chế, nhóm này phải trả lãi suất cao hơn để thu hút vốn.
Mặt khác, lãi suất trái phiếu thả nổi của các ngân hàng quy mô nhỏ chịu ảnh hưởng trực tiếp từ mức lãi tiền gửi, do công thức tính neo vào lãi suất kỳ hạn 12 tháng của 4 ngân hàng quốc doanh. Trước đây, biên độ cộng thêm thường dao động 1-2,3%. Hiện tại, một số lô trái phiếu mới phát hành áp dụng biên độ đến 3,8%, đồng nghĩa lãi suất kết hợp có thể xấp xỉ 10%.
Theo bà Nguyễn Thảo Hạnh, ngoài mặt bằng lãi suất cao hơn tiền gửi cùng kỳ hạn, trái phiếu ngân hàng đang hấp dẫn nhà đầu tư bởi nhiều yếu tố khác. Các ngân hàng là tổ chức có mức độ tín nhiệm cao hơn so với doanh nghiệp, được quản lý và giám sát chặt chẽ bởi Ngân hàng Nhà nước. Do đó, trái phiếu ngân hàng phù hợp với khẩu vị thận trọng của nhiều quỹ đầu tư, công ty chứng khoán và bảo hiểm, nhất là khi nhóm này phải tuân thủ yêu cầu quản trị rủi ro chặt chẽ.
Bên cạnh vai trò công cụ đầu tư, trái phiếu ngân hàng còn góp phần vào bộ đệm thanh khoản cho các định chế tài chính. Nhờ thanh khoản tương đối cao, chúng có thể được giao dịch hoặc sử dụng linh hoạt làm tài sản bảo đảm trong giao dịch vay vốn hoặc nhiều nghiệp vụ tài chính khác.
Dự báo về xu hướng phát hành thời gian tới, nhóm phân tích FiinRatings cho rằng, quy mô và mặt bằng lãi suất trái phiếu ngân hàng chưa có dấu hiệu hạ nhiệt. Điều này thể hiện qua kế hoạch chào bán quy mô lớn của nhiều ngân hàng trong nửa cuối năm. BIDV dẫn đầu khi dự kiến huy động tới 41.000 tỷ đồng, VPBank 30.000 tỷ, Sacombank 20.000 tỷ, còn Agribank 15.000 tỷ đồng.
"Nhu cầu vốn của các ngân hàng trong nửa cuối năm nhiều khả năng vẫn duy trì ở mức cao, cấp thiết khi chênh lệch giữa huy động và tín dụng chưa thể sớm thu hẹp, cộng thêm nhu cầu bổ sung vốn cấp 2 để đáp ứng các tỷ lệ an toàn theo quy định", chuyên gia FiinRatings nhận định.
Tin Gốc: Vnexpress

Ngày 30/6, Trưởng đoàn đàm phán Iran Mohammad Bagher Ghalibaf cho biết nước này đã xuất khẩu hơn 40 triệu thùng dầu thô trong 2 tuần, kể từ khi Mỹ dỡ bỏ lệnh phong tỏa với các cảng biển. Dầu thô Iran hiện cũng được bán với giá cao hơn khoảng 20% so với trước chiến sự.
"Kể từ ngày lệnh phong tỏa được dỡ bỏ, chúng tôi đã xuất khẩu hơn 40 triệu thùng dầu", Ghalibaf nói trong cuộc phỏng vấn đăng trên kênh Telegram của mình. Ông cho biết Iran đã không thể bán ra ngoài thùng dầu nào trong khoảng hai tháng bị phong tỏa.
Trong khi đó, hãng theo dõi tàu dầu TankerTrackers.com ngày 1/7 ước tính Iran đã xuất khẩu khoảng 50 triệu thùng dầu thô trong 2 tuần qua. Công ty sử dụng hình ảnh vệ tinh, ảnh chụp từ bờ biển và hệ thống nhận dạng tự động (AIS) theo thời gian thực để theo dõi hoạt động của tàu.
Giá dầu Brent hiện giao dịch quanh 73 USD một thùng, giảm gần 40% so với đỉnh hồi tháng 4, nhờ kỳ vọng nguồn cung từ vùng Vịnh phục hồi. Gregory Brew - nhà phân tích tại Eurasia Group cho biết trước chiến sự, dầu thô Iran thường được bán thấp hơn Brent khoảng 10-15 USD một thùng để bù đắp rủi ro do các lệnh trừng phạt.
Trước chiến sự, hãng dữ liệu Kpler cho biết xuất khẩu dầu thô và khí ngưng tụ của Iran trong tháng 2 đạt 2,2 triệu thùng một ngày. Quốc gia vùng Vịnh này cũng là nước sản xuất dầu thô lớn thứ 3 trong Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC)
Ngày 17/6, Mỹ và Iran ký biên bản ghi nhớ chấm dứt gần 4 tháng chiến sự, đồng thời mở cửa lại eo biển Hormuz và tiếp tục quá trình đàm phán 60 ngày để tiến tới thỏa thuận hòa bình lâu dài. Theo biên bản, Iran đồng ý cho phép tàu thuyền đi qua Hormuz mà không thu phí trong 60 ngày, nhưng khẳng định vẫn giữ quyền kiểm soát tuyến đường thủy này.
"Chủ quyền với eo biển Hormuz thuộc về Iran và Oman. Hoạt động lưu thông tại eo biển phải tuân theo các quy định do Iran đặt ra", ông Ghalibaf khẳng định.
Hiện vẫn chưa rõ eo biển Hormuz sẽ được quản lý thế nào sau khi thời hạn 60 ngày kết thúc. Thời gian qua, các tàu di chuyển qua eo biển theo hành lang phía nam dọc bờ biển Oman hoặc qua các tuyến phía bắc do Iran kiểm soát.
Tin Gốc: Vnexpress

